tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18962311
Lý luận phê bình văn học
15.03.2017
Hoài Anh
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp

Gabriel Garcia Marquez trả lời phỏng vấn của Manuel Pereira, phóng viên Tạp chí Cuba’s Bohemia, ngày 2-2-1979.  


 


 


- Một năm trước, tôi từng được nghe anh nói rằng khi nhà văn bắt tay vào viết, anh ta phải táo bạo và đặt ra trước mắt mục đích thật rõ ràng: viết hay hơn Cervantes, hơn Lope de Vega, hơn Kevedo, v.v... Anh có thể giải thích sâu hơn luận điểm này không?


- Tôi cho rằng trong nghề văn thì sự khiêm nhường là một đức tính dư thừa. Bởi là nếu anh định viết một cách khiêm nhường thì anh sẽ trở thành một nhà văn cũng ở mức “khiêm nhường”. Vì vậy cần phải trang bị bằng tất cả sự hiếu thắng của nhân loại và đặt ra trước bản thân những mẫu mực lớn lao. Rốt cuộc anh sẽ học viết từ những bậc thầy vĩ đại - đối với tôi đó là Sophocles, Dostoievski...


... Hiện nay các nhà văn đang sa vào cơn hiểm nghèo trầm trọng khi họ tự đặt ra cho mình nhiệm vụ giành chiến thắng trong các cuộc thi văn chương - nói theo kiểu lý thuyết thì chúng hiện diện trước hết như là hình thức của sự tiêu thụ, các cuộc thi này rất quan trọng chừng nào chúng cho phép phát hiện ra những giá trị chưa tìm thấy đất sử dụng - bởi lẽ tác nhân thương mại thống trị ở các nước tư bản. Ở Cuba, các cuộc thi lại là sự giúp đỡ đáng kể. Song các nhà văn đều mang trong mình một nguy cơ trầm trọng: viết để giành chiến thắng trong cuộc thi. Từ đó mục đích sẽ chỉ quy vào điều này. Viết vội viết vã cho kịp thời gian quy định. Và chiến thắng trong cuộc thi sẽ là kẻ viết đúng lúc nhất chứ không phải người cố công viết cho hay hơn Cervantes hoặc Shakespeare.


- Anh không bao giờ gửi tác phẩm dự thi nào?


- Có gửi chứ. Song đó đều là những thứ tôi đã viết xong từ trước. Tôi kể anh nghe hai trường hợp tôi dự thi nhé?


- Anh kể đi.


- Lần đầu là một truyện ngắn nhan đề Ngày sau thứ bảy. Năm 1954 ở Colombia có cuộc thi toàn quốc về truyện ngắn và chắc là trình độ của những người tham dự cuộc thi thảm hại đến mức người ta phải đi tìm xem bất kỳ ai khác có cái gì khá hơn một chút không - cốt để nâng cao chất lượng cuộc thi mà. Khi ấy, một người bạn đến tìm tôi bảo: “Anh gửi bất cứ cái gì đến người ta cũng sẽ trao giải cho anh, vì ở cuộc thi này mọi thứ đều dở đến mức chúng tôi chịu không nổi”. Tôi gửi một truyện ngắn đến - truyện này tôi viết từ lâu rồi - và đoạt giải.


- Thế còn lần thứ hai?


- Lần sau là tác phẩm Giờ xấu. Cuốn này tôi bắt đầu viết ở Paris nhưng bỏ dở nửa chừng vì không hình dung ra nổi phần sau. Năm 1958 bay đến Caracas, tôi tiếp tục viết cuốn truyện dài này. Khi đó tôi đã viết cuốn truyện vừa Ngài đại tá chờ thư,đối với tôi, không còn nghi ngờ gì nữa, đây là tác phẩm khá nhất. Tôi xin nói thêm, hoàn toàn không phải chuyện đùa: tôi viết cuốn Trăm năm cô đơn là cốt để cho mọi người đọc cuốn Ngài đại tá chờ thư. Tác phẩm này ra đời không đơn giản. Tôi viết Giờ xấu từng phần một và trên đường từ Âu châu về Caracas, tôi cuộn bản thảo thành bó, lấy cà vạt buộc lại. tôi tưởng đó là chiếc cà vạt cuối cùng của tôi nên từ đó tôi không bao giờ thắt cà vạt nữa. Vào lúc tôi cưới Mercedes, khi nàng bắt tay vào thu dọn nhà cửa thì vớ ngay được cuộn giấy buộc bằng chiếc cà vạt, nàng bèn hỏi: “Gì thế này?”. Tôi trả lời đấy là một cuốn truyện dài, song tôi không thích, tốt nhất là quẳng đi rồi thôi không nhớ gì đến nó nữa; trước mắt tôi đang mở ra những viễn cảnh khác. Trở về châu Mỹ La tinh, tôi đã bắt đầu cảm thấy ở Caracas hơi thở của biển Caribe và Cuba đã sẵn sàng để nổ tung lên. Mercedes ngẫm nghĩ giây lát rồi nói: không được, và để nó vào chỗ cũ.


- Như vậy là chúng ta phải biết ơn Mercedes về cuốn truyện dài này...


- Thực tế thì chúng ta phải biết ơn Mercedes về tất cả các truyện dài của tôi. khi tôi kể anh nghe cuốn Trăm năm cô đơn được viết ra sao, hẳn anh đã thấy tôi chịu ơn Mercedes như thế nào. Vậy là tôi đã không ném Giờ xấu vào sọt rác mà còn hoàn thành nó và cũng không tin lắm vào công việc mình làm. Vào khoảng thời gian tôi sống ở Mexico (1961-1962), anh bạn tôi lại đến và nói hệt như lần trước: “Ở Colombia đang tổ chức cuộc thi văn chương toàn quốc; dự thi toàn là những thứ không ra gì. Anh gửi về bất cứ cái gì anh có sẵn cũng được giải ngay”. Tôi hỏi Mercedes về cái bó giấy buộc bằng sợi cà vạt. Nàng đã vứt nó vào nhà vệ sinh, giờ lại phải moi ra. Ngay cả cái tên của bản thảo cũng không còn, tôi bèn gọi luôn là: Không đề. Tôi gửi nó đi dự thi và lại đoạt luôn giải. Tôi nhớ rất rõ là số tiền ba ngàn đô la đó đến với tôi đúng cái ngày tôi phải thanh toán món viện phí của Mercedes lúc nàng sinh cho tôi đứa con thứ hai. Đúng là tiền rơi từ trên trời xuống cho tôi. Đó là hai cuộc thi tôi có góp mặt. Tôi không phản đối các cuộc thi song thật là tai hại nếu chúng trở thành mục đích tự thân.


- Thế còn Trăm năm cô đơn?


- Hẳn anh cũng thấy, vấn đề là ở chỗ Trăm năm cô đơn là cuốn truyện dài đã làm cho tôi khá trầy trật. Nhiều lần tôi bắt tay vào thực hiện nó, tôi đã có đầy đủ tư liệu, tôi đã thấy cần phải cấu trúc thế nào, song lại chưa tìm ra “giọng” thích hợp. Nói cách khác, chính tôi không tin vào những điều tôi kể ra. Tôi cho rằng nhà văn có thể kể lại mọi điều anh ta nghĩ ra nhưng phải với điều kiện là anh ta thuyết phục được mọi người tin vào những cái đó. Để nhận biết được người ta có tin anh hay không thì trước hết cần phải chính bản thân anh tin vào những điều đó. Mỗi lần bắt tay vào viết Trăm năm cô đơn chính tôi lại không tin vào tôi. Khi đó tôi tự thuyết phục bản thân rằng lầm lẫn nằm ở cái “giọng”, rồi bắt đầu đi tìm, tìm hoài cho tới lúc hiểu ra rằng giống thật nhất chính là - cái lối kể chuyện của bà tôi - bà kể những điều khó tin nhất, huyền hoặc nhất bằng một giọng tự nhiên nhất đời, tôi đã sử dụng nó làm nền tảng tạo ra truyện dài Trăm năm cô đơn - theo quan điểm của nhà văn.


- Khi anh đang viết, anh có thường cho người khác đọc phần anh đã viết xong không?


- Không bao giờ. Không một chữ cỏn con nào hết. Tôi nhất quyết như thế và tin vào điều này một cách dị đoan. Bởi lẽ tôi cho rằng nếu văn học là sản phẩm của xã hội thì lao động văn học hoàn toàn mang tính chất cá nhân và đó chính là thứ công việc cô độc nhất trần gian. Không ai có thể giúp anh viết cái điều anh đang viết. Ở đây anh hoàn toàn một mình, bất lực, giống như con tàu bị nạn, bơ vơ giữa trùng khơi. Và nếu anh trông chờ giúp đỡ, đọc cho người khác nghe để anh ta gà cho chiều hướng phát triển thì chính việc này có thể làm cho anh quẫn trí, gây tổn thương cho anh, vì không ai có thể thật sự biết được thứ gì có trong đầu anh khi anh viết. Nhưng ngược lại, tôi thực hiện một phương sách khá mệt đối với các bạn tôi, cứ mỗi lần viết được cái gì đó thì tôi lại nói hoài về nó và kể cho bạn bè nghe: một lần, hai lần, rồi lần thứ ba... nhiều người bảo tôi rằng tôi trình bày cùng một truyện ngắn tới ba lần, chính tôi đã quên phứt rồi và mỗi lần họ lại thấy nó một khác, hoàn thiện hơn. Điều này quả là đúng vì tôi đã dựa vào phản ứng của bè bạn để sửa những chỗ còn yếu. Làm việc theo cách đó - trong phạm vi truyện ngắn - tôi tập hợp được sự đánh giá về bản thân, giúp cho tôi định hướng được trong bóng tối, giống như người phi công xác định phương hướng nhờ máy móc.


- Bây giờ anh có thể cho biết về sự tham dự của Mercedes vào việc sáng tác cuốn Trăm năm cô đơn được không?


- Được chứ. Chúng tôi đang đến Akapunke - Mercedes, tôi và mấy người con - thì bất chợt: “Dừng lại!” ngay giữa đường. Tôi nói: “Vấn đề là ở chỗ hình tượng người ông dẫn đứa cháu đi xem băng giá. Phải để cho tiếng rơi bật lên rồi mới tiếp tục cái “giọng” cũ. Tôi rẽ ngoặt sang Mexico và bắt tay vào viết cuốn sách.


- Và không đến Akapunke?


- Vâng, không đến Akapunke. Mercedes bảo tôi: “Anh khùng rồi!”. Song nàng nín nhịn - chắc anh không thể hình dung ra nổi Mercedes đã phải chịu đựng bao nhiêu là trường hợp “khùng” kiểu như vậy. Ở Mexico tất cả cứ tuôn ra ào ào. Bởi vì khó khăn nhất vẫn luôn luôn là cái chỗ mở đầu. Câu đầu tiên của cuốn tiểu thuyết, và cả truyện ngắn nữa, sẽ quyết định độ dài, giọng điệu và phong cách - quyết định tất cả. Vấn đề chính yếu là sự bắt đầu. Với tốc độ tôi đã đạt được, cùng với tất cả sức dồn nén bên trong, tôi tưởng chỉ sáu tháng là hoàn thành cuốn sách. Nhưng vừa tròn bốn tháng thì tôi hết sạch tiền, không còn lấy một xentavô. Mà tôi thì lại không muốn gián đoạn công việc. Số tiền giải thưởng của cuốn Giờ xấu thì như tôi đã nói xài vào việc thanh toán viện phí lúc sinh Gonsalo, thằng con trai thứ hai của tôi, và sắm một chiếc xe hơi. Tôi bèn đem cầm chiếc xe hơi rồi nói với Mercedes: “Tiền cho em đây, còn anh thì phải tiếp tục viết”. Tuy nhiên, không phải sáu tháng mà mười tám tháng trôi qua, cuốn Trăm năm cô đơn mới ra đời được. Song Mercedes không bao giờ nói cho tôi hay tiền xe hơi đã tiêu hết và một lần chủ nhà đã gọi điện thoại cho nàng nhắc rằng chúng tôi đã nợ ba tháng tiền nhà, lúc ấy nàng trả lời ông ta: “Ông yên trí đi, chúng tôi còn ở đây đến tháng thứ chín cơ”. Chuyện xảy ra đúng như vậy. Sau đó nàng gửi cho ông ta tờ séc thanh toán tất cả chín tháng tiền nhà chúng tôi phải trả. Đến khi cuốn Trăm năm cô đơn được in ra, cái con người đó biết được dư luận ồn ào chung quanh cuốn sách, bản thân ông ta cũng đọc nó, đã gọi điện thoại cho tôi mà bảo: “Signor Garcia Marquez, ngài sẽ ban cho tôi một vinh dự lớn nếu ngài nói với tôi rằng chính tôi cũng đã đóng góp một phần vào cuốn truyện dài này”. Ngoài ra còn một điều phải chú ý nữa: Mercedes biết là trong một khoảng thời gian nhất định thì phải gửi cho tôi năm trăm tờ giấy. Trong công việc tôi đạt được một nhịp độ chính xác: ở cùng một khoảng thời gian tôi luôn luôn có một năng suất như nhau và mức độ “ngốn” giấy như nhau, loại giấy báo xấu dọc tư. Vấn đề là ở chỗ tôi “ngốn” giấy rất dữ. Tôi thường viết bằng máy chữ, nếu có chỗ nào không thích, hoặc chỉ đánh lầm chữ thôi song tôi vẫn có cảm giác sự lầm lẫn đó nằm ngay ở phần sáng tác. Tôi bèn bắt đầu viết lại hoàn toàn cả trang bản thảo. Câu có chỗ lầm đó được tu chỉnh lại, cả trang đánh máy xong tôi lại sửa tiếp cho thật sạch sẽ.


Có lần tôi viết một truyện ngắn có mười hai trang mà số giấy tôi “ngốn” tới năm trăm tờ. Số giấy tôi “ngốn” lớn thế còn là vì tôi dùng máy chữ điện.


- Anh thường viết bằng máy chữ điện à?


- Vâng. Sử dụng máy chữ điện một lần rồi đâm quen, không thể làm khác được. Những khó khăn về cơ bản đã dựng lên chướng ngại vật giữa người viết và điều định viết ra. Máy chữ điện đã san bằng cái chướng ngại vật đó tới mức không nhận ra nó nữa.


- Anh có cho là đầu ngón tay lướt nhẹ trên nút bấm máy chữ điện thì dễ chịu hơn là mổ xuống nút bấm máy chữ thường không?


- Đương nhiên. Tôi biết nhiều nhà văn sợ làm việc bằng máy chữ điện. Bởi vì trong thực tế còn tồn tại cái huyền thoại lãng mạn cho rằng, dường như nhà văn, và nghệ sĩ nói chung, phải rất bất hạnh, phải chịu đói chịu khát để sáng tạo. Phần tôi thì tôi cho rằng trong những điều kiện sống tốt hơn thì có thể viết hay hơn và quả là không đúng khi nghĩ rằng đang đói thì viết hay hơn không đói. Vì các văn nghệ sĩ từng phải chịu đói như thế lại cho rằng đói là điều kiện thiết yếu để viết hay, song chắc chắn họ sẽ viết hay hơn nếu cái dạ dày không trống trơn và lại có chiếc máy chữ điện. Và anh biết đấy: huyền thoại lãng mạn là một chuyện, song còn vấn đề khác liên quan đến các nhà văn hiện tại. Khi anh còn trẻ trung, sức viết của anh như vòi nước phụt mạnh ra, nhưng sự dễ dàng đó ngày càng giảm sút. Nếu đến cái tuổi mà sự sôi nổi không còn nữa và anh vẫn không học được tới mức độ nào đó kỹ năng nghề nghiệp thì sau này, khi cái khả năng đặc biệt thời trẻ này biến mất hẳn mà lại không làm chủ được kỹ năng thì cũng sẽ không còn viết được nữa. Khi đã không “phụt” ra được thì kỹ năng sẽ đỡ cho rất nhiều. Tôi còn nhớ khi còn làm việc ở tòa soạn nhật báo, tôi đã viết phóng sự, xã luận và đủ loại ghi chép, hết giờ làm việc tôi còn ở lại tới khuya viết một mạch xong một truyện ngắn. Bây giờ thì sau một ngày làm việc, tôi tự lấy làm hạnh phúc lắm nếu viết được một đoạn văn ưng ý - như thường lệ, phải để sáng hôm sau mới chữa.


- Anh có thể nói thêm về điều anh đã từng nói đến: “nghề văn” của Hemingway...


- Tôi cho rằng Hemingway không phải là người viết tiểu thuyết hay, song ông là tác giả những truyện ngắn tuyệt vời. Truyện ngắn của Hemingway là những mẫu mực, không cái nào giống cái nào. Tôi đồng ý với anh là ông không có những cuốn tiểu thuyết kết cấu vững vàng: tiểu thuyết của ông khập khiễng. Ngược lại, bất kỳ truyện ngắn nào của ông cũng là một chuẩn mực của thể loại này ở bất cứ đâu; nhưng anh biết không, điều tôi thích hơn cả ở Hemingway không phải là tiểu thuyết, cũng không phải truyện ngắn, mà là những lời khuyên của ông ta về nghề văn.


- Phương pháp?


- Chính thế. Ông không đưa ra những bài học về phong cách hay triết học... ông dạy kỹ thuật làm văn. Có thể trong đó có cái gì đấy không hay, thậm chí nguy hiểm; kỹ thuật của ông có phần dụng ý thái quá. Song những lời khuyên của ông thì quả là tuyệt. Một trong những lời khuyên đó - có liên quan đến núi băng - cho rằng một truyện ngắn, nhìn rất đơn giản, đứng vững được không phải nhờ cái vẻ ngoài mà nhờ tất cả những thứ ẩn giấu đằng sau, trong cái dung lượng chứa đựng một khối lượng khổng lồ những tài liệu - thành phần thiết yếu để viết nên một truyện ngắn.


Điều này giống như một núi băng: Khối băng chúng ta trông thấy thực là lớn lao, song đó chỉ là một phần tám núi băng đó, còn bảy phần tám thì chìm dưới nước - đó mới là phần chính của núi băng. Thứ nhất, đó là sự thật; thứ hai, rất quan trọng, là để các nhà văn trẻ biết rút ra từ đó những kết luận rộng rãi nhất, bởi lẽ không tài nào sáng tác được thứ văn chương hay nếu như không biết được sâu sắc nghề văn (ngoại trừ trường hợp đặc biệt khi đột nhiên xuất hiện một thiên tài xuất chúng). Hiện tồn tại khuynh hướng coi thường văn học với nghĩa văn hóa, chỉ tin vào tính chất tự phát, cảm hứng. Chân lý nằm ở chỗ văn học là một khoa học cần phải tinh thông, và hằng chục ngàn năm nay văn học phát triển trên cơ sở từng truyện ngắn được viết ra; và để hiểu rõ nền văn học này, ở đây lại cần đến tính khiêm nhường và sự kính trọng. Tính khiêm nhường ngăn cản sự viết lại là cần thiết để nghiên cứu toàn bộ nền văn học và thấy được, khổ thật, những thứ được tạo ra từ mười ngàn năm về trước, để biết được lứa tuổi chúng ta là thế nào và chúng ta ở vào vị trí nào trong lịch sử nhân loại để tiếp tục làm cái việc này. Cuối cùng là học văn học không phải ở các trường đại học mà là ở việc đọc đi đọc lại các nhà văn.


Lời khuyên quan trọng khác của Hemingway liên quan tới sự lao động hàng ngày: “Khó nhất là lúc bắt đầu viết”. Anh càng trẻ thì việc này càng dễ. Đi đôi với việc ngày càng trở nên trưởng thành, có tên tuổi - nghĩa là ngày càng trở nên có trách nhiệm đối với công việc thì cái lúc bắt đầu viết cũng ngày càng thấy khó khăn hơn. Nỗi buồn trước trang giấy trắng có lẽ là nỗi buồn đáng sợ nhất đối với tôi. Và tôi đã thoát ra khỏi được nỗi buồn đó khi đọc thấy lời khuyên của Hemingway. Không bao giờ lại đi dành công việc của hôm nay lại vào đúng cái lúc “chất nhựa” trong anh đã khô cạn hết, cần phải đi cho tới cái nơi hoàn thành công việc của hôm nay, và cái chỉ dành lại chút ít công việc đã - biết hết cái chung cục sang ngày mai. Đến khi hôm sau, anh lại bắt đầu từ chỗ này, tiếp tục công việc và dành lại phần kết thúc cho ngày hôm sau. Như vậy mới tránh khỏi được sự căng thẳng và nỗi buồn lớn lao, và công việc sẽ trở nên dễ dàng hơn. Kết quả cuộc trao đổi về Hemingway dẫn tới nhận xét, có thế thôi, ông không phải là một nhà văn vĩ đại song có một cái bẫy hết sức nguy hiểm đe dọa ai cho rằng ông là một nhà văn “nhẹ ký”. Hemingway là một nhà văn không “nhẹ ký” chút nào. Chất dung dị của Hemingway là kết quả của sự trau dồi phi thường. Tôi chú ý tới phương pháp làm việc của Hemingway, tới kỹ năng làm việc của Hemingway.


- Thế còn sự sử dụng ngôn ngữ của ông ta?


- Tôi không chú ý, vì tôi đọc Hemingway qua bản dịch.


- Còn không khí, văn cảnh?


- Tôi xin nói với anh một điều là: đã có lúc Hemingway tiếp cận gần nhất với hoàn cảnh trở thành một nhà văn vùng Caribe, khi ông sống ở Cuba. Nhưng ông đã không như vậy bởi vì ông là cả một hệ thuyết văn học và sáng tác của ông biểu lộ rõ rệt điều này.


- Hệ thuyết... lại có thứ “tinh thần văn học” riêng của các nhà văn vùng Antilles sao?


- Mỗi nhà văn cần phải làm việc với cái thực tại riêng của mình, đây là điều tất nhiên. Chỉ có nhà văn tồi mới không làm việc với cái thực tại của riêng mình, mới không dựa vào kinh nghiệm của riêng mình - anh ta hành động theo khuynh hướng sai lệch.


- Trước anh đã nói về Faulkner nhưng Faulkner vẽ nên những bức tranh phong cảnh phương nam giống như miền ven biển Colombia, khi đó anh đã cảm thấy...


- Nhưng Faulkner là nhà văn vùng Caribe.


- Được. Song đây không giống trường hợp Hemingway sao?


- Dĩ nhiên là khác. Chẳng hạn, truyện ngắn Sau trận bão của Hemingway là tưởng tượng... Con tàu xuyên Đại Tây Dương chìm dưới đáy biển như dưới tủ kính, thật là đẹp. Khi đọc truyện ngắn này, anh sẽ hiểu là Hemingway không “thả” hết mình ra, có cái gì đó kiềm chế ông.


- Không “thả” hết mình ở khía cạnh nào cơ? Ở phần tưởng tượng?


- Ở phần tưởng tượng, vì Hemingway lập thuyết và xây dựng những nguyên lý của mình về sự dung dị trong văn học. Ông là vị sứ đồ đầu tiên của sự dung dị trong văn học. Tóm tắt lại là: những bài học về nghề văn Hemingway rao giảng trong tác phẩm của mình rất có giá trị - xét theo quan điểm của nghề nghiệp văn chương. Nhưng từ đó mà rút ra kết luận rằng Hemingway là khuôn mẫu duy nhất thì không thể được.


- Có nghĩa là sự phủ nhận, nền văn học Tây Ban Nha chẳng hạn?


- Đâu có phủ nhận được văn học - đó là di sản của nhân loại từ hàng chục ngàn năm nay. Nhân tiện lúc này anh nhắc đến văn học Tây Ban Nha, tôi xin nói rằng tôi không phải là người quá sùng mộ tiểu thuyết Tây Ban Nha. Nếu nói về Cervantes và cuốn tiểu thuyết tinh quái của ông thì đương nhiên khỏi phải tranh luận gì rồi. Đó là cuốn tiểu thuyết Tây Ban Nha vĩ đại. Đối với tôi, Cervantes còn lớn hơn nữa với tư cách là tác giả một cuốn sách nhỏ ít được người nhắc đến - đó là cuốn Laxarilio và Termès. Độc thoại nội tâm (được người ta coi là một bước cách mạng trong tiểu thuyết mới) được coi là phát kiến của Joyce, mà Joyce là một tượng đài của văn học thế giới. Không một ai bác bỏ đỉnh cao tài nghệ và hiệu quả của Joyce trong độc thoại nội tâm. Thực ra, riêng tôi thì thích lối thể hiện độc thoại nội tâm của Virginia Woolf hơn của Joyce - cả hai viết cùng một khoảng thời gian và khó mà phân biệt được ai là người sử dụng kỹ thuật đó trước. Song ta lại gặp thực sự kiểu độc thoại nội tâm, có vẻ như không có một chút gia công nào mà lại hết sức rõ rệt và kỹ lưỡng, hệt như của Joyce và Virginia Woolf - đó là ở Laxarilio và Termès. Tác giả Laxarilio, vì tình tiết của câu chuyện nói về một người mù cố tỏ ra tinh ranh hơn một kẻ bịp bợm sáng mắt, đã phải trình bày trước độc giả dòng suy nghĩ của người mù đó. Và lối thoát duy nhất ông tìm thấy chính là việc sáng tạo ra cái mà ngày nay người ta gọi là độc thoại nội tâm. Tôi nói thế để anh hiểu rằng thật là khó khăn, hầu như không thể bắt tay một cách nghiêm chỉnh vào việc viết tiểu thuyết trong thời đại chúng ta nếu không đọc kỹ cuốn Laxarilio và Termès. Nói thể, tôi xin nhắc lại là tiểu thuyết Tây Ban Nha không làm tôi chú ý lắm. Trong văn học Tây Ban Nha cần biết trước hết là thơ. Thực ra tôi phải chịu ơn thơ về mặt tạo hình. Tôi bắt đầu chú ý đến văn học là do thơ - Và xin nói thêm với anh là do thơ tồi, vì không có cách nào khác đi tới thơ hay mà lại không phải qua thơ tồi. Anh không thể đi tới Rimbaud, Valéry mà lại không phải qua Nunez de Arce ([1]) và những vần thơ đa sầu đa cảm thu hút lứa tuổi sinh viên đang yêu. Đó là cái bẫy cột chặt anh mãi vào văn học. Vì vậy, tôi là kẻ hết sức sùng mộ thơ tồi. Vì vậy, trong nền văn học Tây Ban Nha tôi thích hơn cả không phải tiểu thuyết mà là thơ. Hơn thế nữa, tôi cho rằng không có ngày lễ mừng Rubens Dario nào giống như trong Mùa thu của vị trưởng lão cả. Trong cuốn sách này người ta gặp trọn vẹn thơ của Rubens. Sách được viết theo văn phong Rubens Dario. Nó hoàn toàn làm thỏa mãn những người hiểu Rubens Dario - vì tôi cố gắng xác định xem ai là nhà thơ vĩ đại trong thời đại những tên độc tài “lớn”, hóa ra Rubens Dario. Một lần chúng tôi giải trí bằng cách gạch dưới tất cả những chỗ ông ta có mặt. Cuối cùng Rubens Dario hiện diện với tư cách một nhân vật... Trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn có một nhân vật giải thích rằng: Văn học là thú tiêu khiển hay nhất được nghĩ ra để giễu cợt người đời... Có dịp nào, phân tích kỹ càng các cuốn Trăm năm cô đơn,  Ngài đại tá chờ thư, Mùa thu của vị trưởng lão, chúng ta sẽ thấy có biết bao chuyện đùa giỡn, giải trí, niềm vui của công việc chứa đựng trong các cuốn sách này bởi lẽ chẳng thể sáng tạo ra được cái gì vĩ đại trong văn chương hoặc nói chung trong bất cứ lĩnh vực nào nếu như chưa từng được nếm trải hạnh phúc.


- Trước kia anh đã từng dựng cảnh nàng Remedios Tuyệt Trần bay lên trời và tôi cho rằng anh đã lột trần điều bí ẩn thâm sâu nhất của văn chương, cuối cùng sẽ dẫn tới thơ. Từ tất cả mọi điều có thể khẳng định rằng anh thiên về hướng quan sát hơn là phía tưởng tượng.


- Vấn đề là ở chỗ đừng nên nhẹ dạ tin vào tất cả những điều người ta nói về sự tưởng tượng của Garcia Marquez và ngay cả những gì tôi nói cũng có phần nào cường điệu. Tôi nghĩ rằng cái trí tưởng tượng khét tiếng ấy chẳng phải là cái gì khác với cái khả năng đặc biệt (hay không đặc biệt) tu chỉnh lại thực tại một cách sáng tạo, song đó vẫn chính là thực tại.


- Anh nói rằng tất cả những gì anh đã viết đều có cơ sở thực tế, và anh có thể chỉ dẫn điều này qua từng dòng một. Anh có thể cho dẫn chứng được không?


- Tất cả những gì tôi đã viết ra đều có cơ sở thực tế, vì nếu không thì đây sẽ là sự bịa đặt, mà bịa đặt có nghĩa là Walt Disney([2]) mất rồi. Điều này không làm tôi chú ý mấy. Chỉ có tới một gam bịa đặt là tôi đủ cảm thấy ngượng mặt rồi. Trong bất cứ cuốn sách nào của tôi cũng đều không có sự bịa đặt. Như cảnh Mauricio Babilonia với bầy bướm vàng chẳng hạn, người ta từng nói về nó thế này: “Bịa ơi là bịa!”. Quả thật là không có một chút bịa đặt nào hết! Tôi nhớ rất rõ lúc người thợ điện đến nhà tôi ở Aracatac, dạo tôi vừa lên sáu và lúc này dường như tôi đang trông thấy là tôi hãi sợ con bướm trắng tối hôm ấy... Chúng đấy - những điều bí mật không hề chờ khám phá.


- Không hề trông chờ gì cơ?


- Khám phá, vì đây được coi là sự phanh phui điều bí mật, nhưng hóa ra lại không phải thế: điều bí mật càng trở nên bí ẩn hơn! Khi nhà ảo thuật nói với anh: “Quả trứng đâu cũng có, song vấn đề là ở chỗ nó đang ở đây, treo trên sợi chỉ”. Khi ông ta giải thích rõ mọi chuyện thì tất cả lại trở nên huyền bí hơn là nếu đó là sự huyền bí thật. Vì nếu là sự huyền bí thật thì mọi chuyện thành đơn giản, đằng này lại chỉ do kỹ xảo và sự khéo tay thì quả là khó hơn sự huyền bí gấp bội. Vì vậy mà bất cứ sự phanh phui nào cũng chả làm cho tôi hãi sợ. Bà tôi vung tấm khăn đuổi con bướm trắng chứ không phải vàng - tôi nghe thấy bà tôi làu bàu: “Quỷ tha ma bắt mày đi! Ta không thể đuổi con bướm này đi được, cứ mỗi lần bác thợ điện đến là nó lại bay vào nhà”. Cảnh này in vào trí não tôi suốt đời. Bây giờ hẳn anh đã thấy nó vào văn chương như thế nào rồi.


Song tôi muốn nói với anh thêm một điều nữa. Thoạt kỳ thủy những con bướm trắng như ở ngoài đời - chính tôi cũng không thể tin được điều này. Tôi tô cho chúng màu vàng để mọi người tin hơn. Từ câu chuyện có thật tôi kể anh nghe tới việc thay đổi màu cho bướm chính là bước đi tới sự tái tạo của văn học - ở đây không thể sử dụng bất cứ khả năng nào ngoài thi pháp.


Cảnh nàng Romedios Tuyệt Trần bay lên trời cũng vậy. Thoạt đầu nàng chỉ ngồi khâu ở hành lang cùng Rebecca và Amarenta, đột nhiên họ ngoảnh nhìn lại thì đã không còn thấy nàng đâu nữa. Hệt như chuyển cảnh trong điện ảnh ấy. Song như vậy nàng vẫn còn ở mặt đất. Tôi bèn quyết định cho nàng bay lên trời bằng cả linh hồn lẫn thể xác. Chẳng qua là do tôi nhớ đến một phu nhân có đứa cháu gái trốn khỏi nhà vào lúc rạng đông. Xấu hổ về việc này, bà ta bèn phao lên rằng cháu bà đã bay lên trời, chính mắt bà trông thấy vầng hào quang và đủ thứ khác. Gặp ai bà cũng kể lể chuyện này, phớt lờ sự cười giễu của người khác. Bà ta còn dám nói rằng Đức bà Maria đã bay lên trời thì cháu gái bà sao lại chẳng bay lên trời được. Với tư cách nhà văn, tôi nhớ lại hết những chuyện này khi viết cuốn tiểu thuyết. Nếu cái kết cục văn chương của huyền thoại về Đức bà Maria là sự bay lên trời bằng cả linh hồn lẫn thể xác của đức bà thì tại sao lại không thể có được cái kết thúc văn chương tương tự trong câu chuyện của nữ nhân vật của tôi? Thế là tôi bắt tay vào viết - một mặt gắng viết sao cho đúng như những điều tôi quan sát thấy, mặt khác phải luôn tu chỉnh một cách văn học để độc giả tin vào anh. Song lại không có cách nào để nâng cho nàng bay lên được. Tôi hiểu rằng phương cách duy nhất có thể nâng nàng lên được là thi pháp. Mải băn khoăn về vấn đề này, tôi bước ra sân. Lúc này gió đang lộng từng cơn, một người đàn bà phơi khăn trải giường cố giữ cái đầu móc mà những tấm khăn cứ bay vù đi. Tôi bèn giúp bà ta lượm lại những tấm khăn trải giường. Và thế là trong câu chuyện về nàng Remedios Tuyệt Trần bay lên trời bằng cả linh hồn và thể xác đã xuất hiện những chiếc khăn trải giường này - chúng quấn lấy nàng rồi bay vù đi, không để lại một chút dấu tích nào...


- Anh có nghe nói về Hollywood và dự định của họ đưa tác phẩm Trăm năm cô đơn lên màn ảnh không?


- Đầu tiên họ có đề nghị tôi một triệu pêxô, bây giờ thì dường như đã lên tới hai triệu. Họ muốn “băm nhỏ” cuốn tiểu thuyết để lấy ra câu chuyện về Aureliano Buendia, câu chuyện về Romedios, v.v... nhưng tôi không bằng lòng vì tôi muốn mọi người đọc sách tôi hình dung ra các nhân vật của tôi đúng như chúng vốn có. Tới ngày nào mà số tiền đó quả là tối cần thiết cho cách mạng châu Mỹ La tinh thì tôi sẽ chấp nhận giao kèo này, còn bây giờ thì không.


- Tên độc tài Juan Vicente Gomez là nguyên mẫu gần gũi nhất của nhân vật trong cuốn Mùa thu của vị trưởng lão; vậy có thể hiểu lời giải thích của anh rằng đây là một cuốn tự truyện như thế nào?


- Tôi có thể trả lời anh một câu duy nhất: Không có gì giống sự cô độc của quyền lực bằng sự cô đơn của vinh quang.


 


Hoàng Anh - Dịch từ bản tiếng Nga - Tạp chí Những vấn đề văn học (Liên Xô), số 3-1980.


www.trieuxuan.info


 


 


 







 ([1])  Gaspar Nunez de Arce (1832-1903), nhà thơ và kịch tác gia Tây Ban Nha.




([2]) Walt Disney: họa sĩ nổi tiếng Mỹ, chuyên làm phim hoạt họa, cha đẻ của chú chuột Mickey, vịt Donald v.v...



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 26.04.2017
Nhân tính và nhân phẩm trong tập truyện Ký thác của Bình Nguyên Lộc - Vinh Lan 25.04.2017
Lời trong đời sống và trong thơ - Voloshinov 22.04.2017
Nỗi đau trong văn chương - Trần Đình Sử 22.04.2017
Hai cách đọc bài thơ Khiển hoài của Đỗ Mục - Hà Văn Thùy 21.04.2017
Đồng thuận xã hội - Một số vấn đề lý luận - Chu Văn Tuân 18.04.2017
Nguyễn Đăng Na và những thành tựu nghiên cứu văn học trung đại - Trần Đình Sử 05.04.2017
Những giới hạn của lý thuyết văn học nước ngoài ở Việt Nam - Trương Đăng Dung 31.03.2017
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
xem thêm »