tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23630679
Lý luận phê bình văn học
06.08.2018
Trần Thị Trâm
Nguyễn Bính – Người đi tìm hồn xưa đất nước


Trong phong trào Thơ mới, “Xuân Diệu là người mới nhất, Hàn Mặc Tử lạ nhất và Nguyễn Bính quê nhất”[1]. Cái chất quê, cái tình quê thiêng liêng đẹp đẽ ấy chính là hồn xưa đất nước, điều đã làm nên tên tuổi Nguyễn Bính trong lịch sử thi ca dân tộc. Đó là nguyên nhân sâu xa giúp cho thơ ông vừa có diện phủ sóng lớn, vừa có sức sống bền lâu và luôn đạt kỷ lục về số lượng xuất bản.


Bằng những câu thơ trong lành, thánh thiện, thi nhân đã dẫn người đọc trở về nơi làng quê yêu dấu, được ru lòng mình trong điệu hồn dân tộc, để rồi được thụ hưởng những phút giây thật thanh tĩnh, dịu dàng:


Hoa chanh nở giữa vườn chanh


Thầy u mình với chúng mình chân quê


(Chân quê)


Được trở về với những năm tháng thần tiên tưởng đã một đi không bao giờ quay lại:


Những buổi học về không có nón

Đội đầu chung một lá sen tơ


(Trường huyện)


Các tác phẩm thơ ca của ông phần lớn được dệt từ hương hoa đồng nội: từ hương chanh, hương bưởi, hương trầu quế thơm nồng, từ sắc tầm xuân tím biếc, từ biết bao trầm tích văn hoá của những làng quê Việt - nơi lưu giữ nhiều nhất những mã văn hóa truyền thống ngàn đời. Tắm mình trong thứ ánh sáng thông tuệ và minh triết dân gian đó, Nguyễn Bính đã có được những vần thơ mang vẻ đẹp nguyên sơ, quyến rũ, những áng thơ lưu giữ biết bao vẻ đẹp của hồn xưa đất nước.


Cùng thời Nguyễn Bính, Nguyễn Tuân cũng đặt cược cả đời mình vào mục đích đi tìm cái dư âm, dư ảnh của một thời đã qua trong niềm hoài niệm khôn nguôi. Nhưng nếu thi sĩ đồng quê Nguyễn Bính thiên về kiếm tìm vẻ đẹp dân gian dung dị thì Nguyễn tiên sinh lại ráo riết đi săn lùng cái đẹp kiêu sa của văn hoá bác học với những nét kỳ thú sang trọng mang đậm màu phú quý: nhâm nhi chén trà sương buổi sớm, ngắm dò lan nở lúc trăng lên, thậm chí cả cái đẹp rờn rợn của cảnh bữa tiệc máu hay chém treo ngành… Dĩ nhiên, đó là hai quan niệm nghệ thuật khác nhau. Một bên là vẻ đẹp tươi mát đầy sức sống phồn thực của nàng thôn nữ yếm thắm hoa đào, còn bên kia là vẻ khuê các của người con gái chốn lầu son gác tía. Là văn hóa bản địa nên so với văn hoá bác học, văn hoá dân gian mang đậm bản sắc dân tộc hơn, hồn xưa đất nước cũng được gửi gắm vào đó sâu đậm hơn.


Đọc thơ trước 1945 của ông, ta không khỏi giật mình, ngưỡng mộ: chỉ 3 năm, thi nhân đã dâng tặng cho đời 7 tập thơ tinh huyết: Lỡ bước sang ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940), Hương cố nhân (1941), Một nghìn cửa sổ (1941), Người con gái ở lầu hoa (1942), Mây Tần (1942), Mười hai bến nước (1942). Trong đó, có nhiều bài đã trở thành những câu thơ trong trí nhớ. Chỉ thế, đã đủ minh chứng cho bút lực phi thường, một tài năng độc đáo - một ẩn số đang cần lời giải đáp.


Thực tế cho thấy, dù ít có nhiều có điều kiện học hành, nhưng nhờ “Tiếp thu trọn vẹn tinh hoa của nền văn minh thôn dã, nền văn hoá xóm làng"[2], Nguyễn Bính đã nhanh chóng trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Dẫu không thể phủ nhận ảnh hưởng của văn hoá phương Tây nhưng có thể chắc chắn rằng, những giá trị truyền thống mới là điều cốt yếu làm nên một Nguyễn Bính tài hoa. Cội nguồn dân tộc đã nâng cánh cho ông, giúp ông dễ dàng băng mình bay lên hoà cùng nhân loại, thăng hoa rồi xuất thần mà có được những câu thơ đẹp mang phong cách thời đại:


Đã thấy xuân về với gió đông

Với trên màu má gái chưa chồng


Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm


Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong


(Xuân về)


Vì khác với nhiều nhà thơ cùng trang lứa, Nguyễn Bính chỉ tập trung tinh lực đi tìm chất thơ trong tâm hồn Việt, chỉ tiếp cận đối tượng từ điểm nhìn văn hoá. Nhờ được thẩm thấu qua tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của người thơ Nguyễn Bính, hình ảnh cuộc sống nơi thôn dã quê kiểng được tinh lọc, chưng cất rồi làm nên những bức danh hoạ về đề tài làng quê, mang đến cho bạn đọc những thông điệp vĩnh cửu về tình yêu quê hương đất nước. Chú tâm đi tìm hồn xưa đất nước - những giá trị thuần Việt trong quá khứ, nên ống kính của thi nhân luôn hướng về phía làng quê (nếu có nói đến thị thành thì cũng chỉ với mục đích đối sánh để thấy mặt trái của văn hoá thị thành mà thôi), nơi được coi là một pháo đài bền vững, là mảnh đất lưu giữ nhiều “mã di truyền” văn hoá dân tộc. Làng quê của Nguyễn Bính là làng quê văn hoá, những lối sống văn hóa, những con người với những hành vi văn hoá. Đọc thơ Nguyễn Bính ta không bắt gặp những nông dân chân lấm tay bùn mà chỉ thấy một cô gái e ấp trong khung cửi, anh lái đò đa cảm với những giấc mơ trở thành quan Trạng, cô thiếu nữ ngây thơ đang mải mê bắt bướm ngoài vườn, đôi bạn học trò chung đầu chiếc lá sen tơ ướp nhị hờ, nàng sơn nữ hái mơ thơ thẩn trong rừng chiều êm ái, những cặp trai gái tương tư hò hẹn nơi đầu đình lúc đỏ đèn, một cô dâu thẹn thùng nức nở trong ngày hạnh phúc, người hàng xóm xinh đẹp với một mối tình mong manh vừa giăng tơ, một đôi bạn bé con rủ nhau ra vườn nhặt bông bưởi chưng nước hoa rồi ngây thơ bôi lên mái tóc… Thoảng gặp là một bậc từ mẫu phong lưu trong ngày Tết giữa sân gạch tường hoa, trong ngày cưới cô con gái rượu, hay ngày chớm đông tay mẹ khéo léo luồn chiếc mền bông chăm chút cho sự đủ đầy của cái tổ ấm gia đình rất đỗi nề nếp. Hầu như tất cả được bao phủ trong một khí quyển của tình người rất đẹp: nhẹ và thanh, không nhuốm màu vật chất vừa đủ để yêu thương, nhung nhớ, giận hờn. Đó là những con người tinh hoa của cộng đồng làng xã, mang trong dòng máu những giá trị văn hoá ngàn đời:


Em là con gái trong khung cửi

Dệt lụa quanh năm với mẹ già


Lòng trẻ còn như cây lụa trắng


Mẹ già chưa bán chợ làng xa


(Mưa xuân)


Nhưng cuộc xâm thực dữ dội của văn hóa phương Tây đã khiến khá nhiều giá trị truyền thống đẹp đẽ bị mai một, phôi pha, đã làm cho không ít quốc bảo, quốc tuý, quốc hồn có nguy cơ bị biến mất:


Hôm qua em đi tỉnh về


Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều


(Chân quê)


Nhưng nặng lòng với những giá trị văn hóa truyền thống, Nguyễn Bính vẫn gắng sức khổ công đãi cát tìm vàng “bòn mót lại những giá trị của một nền văn hoá dân gian đang vơi cạn”[3]. Nguyễn Bính cứ một mình đăm đắm mong níu kéo lại cái đẹp trong quá khứ, những mong gìn giữ cho muôn đời sau:  Van em em hãy giữ nguyên quê mùa” (Chân quê).


Khát khao tìm lại được những cái đẹp đã bị đánh mất, giữa buổi xô bồ, ông đưa con người về soi ngắm dưới một hệ hình quy chiếu cổ truyền. Trong khi phái cấp tiến đang ráng sức cổ vũ cho lối sống mới gấp gáp vội vàng:


Hãy sát đôi đầu hãy kề đôi ngực

Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài


 


Những cánh tay hãy quấn riết đôi vai


Và dâng cả tình yêu lên sóng mắt…


(Vội vàng - Xuân Diệu)


Nguyễn Bính lại thống thiết tìm đến với những mối tình lãng mạn, kín đáo, nghiêm túc, thuỷ chung theo kiểu dân gian:


Trăng tròn chỉ một đêm rằm


Tình yêu chỉ có một lần mà thôi


(Ca dao)


Nhưng trước cơn lốc phũ phàng của cuộc đời, những điều ông nâng niu tôn thờ đều có nguy cơ bị băng hoại:


- Lòng em như quán bán hàng


Dừng chân cho khách qua đường mà thôi


- Lòng em như cái con thoi


Thay bao nhiêu suốt mà thoi vẫn lành


(Em với anh)


Thất vọng trong tình yêu, chán chường vì thời cuộc, ông trở lại với cái tôi cô đơn mộng mị như một căn bệnh trầm kha của thời đại (Mal du ciècle). Rồi chẳng ngại dấn thân vào chốn giang hồ để tìm lại quê hương: khi ông lên Hà Nội, khi vào Huế, lúc đến tận Hà Tiên xa lắc... Nghệ thuật giãn cách đã giúp Nguyễn Bính tìm lại được quê hương trong mộng tưởng. Từ sâu thẳm của cõi tâm thức, qua nỗi da diết, khắc khoải của người xa xứ, quê hương hiện lên trong ánh hào quang với những nét yêu kiều mới lạ. Chỉ còn lại những gì đẹp đẽ thuộc về văn hóa: những hội hè đình đám, tết lễ, cưới hỏi, những điệu hát chèo ngọt ngào duyên dáng, những đêm sáng trăng sáng cả vườn chè… Tiếng hát chèo được ông nói đến nhiều nhất bởi hồn dân tộc thấm đẫm trong từng câu hát. Nam Định quê ông chính là cái nôi đã sản sinh ra loại hình ca kịch truyền thống dân tộc nhất và cũng dân gian nhất ấy. Những mã di truyền văn hoá vùng đã tuôn chảy trong mỗi tế bào làm ông không những rất say mà còn đàn ngọt hát hay:


 


 - Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy


Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ


Mẹ bảo em rằng hát tối nay


- Hội chèo làng Đặng hát thâu đêm


Em mải tìm anh chả thiết xem…

(Mưa xuân)


Năm qua làng Thượng hát chèo

Giai làng lân cận dập dìu sang xem

(Cô nữ phường chèo)


Dưới góc nhìn văn hoá, Nguyễn Bính đã chọn lựa đưa vào thơ mình những không gian văn hoá thấm đẫm hồn quê: vườn hoa, gốc đa bến nước, sân đình, ngôi nhà dệt cửi với tiếng thoi đưa lách cách, mái lá gianh nghèo trải bao mưa nắng. Ông đặc biệt quan tâm đến không gian văn hoá vườn - nơi hò hẹn để chín nhớ mười thương, một khung cảnh lao động vừa nên thơ, vừa kín đáo khác với lao động vất vả ngoài đồng nên dễ tạo chất xúc tác cho những mối tình giăng tơ duyên lại bén duyên. Vườn xuất hiện trong thơ của thi nhân rất nhiều và đủ loại: vườn cam, vườn chè, vườn hồng, vườn chanh, vườn chuối, vườn cau, vườn dâu… Và trái tim còn mách bảo thi nhân những thứ vườn rất đỗi mơ hồ, gợi bao nhiêu là nhung nhớ: vườn cổ tích, vườn Ngự uyển, vườn Thanh, vườn cũ, vườn hoang, vườn ai, vườn tiên… trong cõi mơ xưa:


- Có phải ngày xưa vườn Ngự uyển


- Là đây hoa cỏ giống vườn tiên


- Vườn Thanh qua đấy năm xưa


- Bướm tiên khi đã lạc vào vườn hoang…


 Nhiều nhất là vườn hoa, với bao nhiêu là hương sắc đồng nội, mà hoa là biểu trưng cho cái đẹp. Nào là hoa chanh, hoa bưởi, hoa cau, hoa ngâu, hoa cam, hoa cải, hoa gạo, hoa sen, hoa xoan, hoa lài, hoa lý, hoa mơ, hoa mận, hoa hướng dương, hoa cúc, hoa bèo hoang dại và tím ngắt…


- Vườn ai thấp thoáng hoa đào nở


- Ra vườn nhặt những hoa cam rụng


- Xuân đến hoa mơ hoa mận nở


- Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy


- Em đi từ độ hoa sen nở


- Sớm đào trưa lý đêm hồng phấn


- Hoa mai trắng xoá dưới chân đồi


 Và cơ man nào là bướm: nào bướm trắng, bướm vàng, bướm nâu, bướm đen, bướm chúa… Những chú bướm xinh đẹp duyên dáng như những vị sứ giả mang những lá bùa nhiệm mầu của tình yêu thả vào những trái tim tương tư, làm cho người ta thêm nhung nhớ, giận hờn, say đắm:


Qua dậu tầm xuân thấy bướm nhiều


Bướm vàng vàng quá bướm yêu yêu


(Hết bướm vàng)


Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng


Thấy con bướm trắng thường sang bên này


(Người hàng xóm)


Em ạ ngày xưa vua nước bướm


Kén nhân tài mở điệp lang khoa


Vua không kén Trạng vua thề thế


Con bướm vàng tuyền đậu Thám hoa


(Truyện cổ tích)


Trong bức tranh văn hoá mà Nguyễn Bính vất vả kiếm tìm, người ta không thấy thời gian ba chiều thông thường mà bắt gặp rất nhiều thời gian văn hoá: là mùa xuân gắn liền với hội hè đình đám, là mùa thu mơ màng huyền ảo, gợi tình cảm mơ mộng xa xăm, là ngày tết lễ cưới hỏi với pháo đỏ rượu nồng, là những giấc mộng vàng triền miên không dứt… Thời gian luôn được tính bằng cách tính duy cảm, theo chu kỳ, tuần hoàn, phương phưởng theo kiểu dân gian phương Đông:


Láng giềng đã đỏ đèn đâu


Chờ em ăn dập miếng trầu em sang


Thời gian như có mặt khắp nơi: khi ẩn tàng trong sắc hoa, trong vật dụng, trong ngôn ngữ, trong không gian, trong cuộc hẹn hò; khi quy tụ, khi dồn nén ngưng đọng, khi toả sáng, lúc lê thê, khi vụt đi như một bóng câu... Đó là điều khác nhau rất cơ bản giữa thơ Nguyễn Bính với những người cùng trường phái như: Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân… “Một đằng là nghệ thuật tĩnh mang tính chất không gian, một đằng là nghệ thuật động mang tính thời gian. Sức trẻ của thơ Nguyễn Bính là ở sự thay đổi cả những cái dường như không thay đổi”[4]. Nhờ thế mà thơ Nguyễn Bính bỗng trở nên mềm mại và có một khả năng diễn tả không phải chỉ cảnh quê mà chủ yếu là tình quê sâu nặng.


Và trong cuộc hành hương đi tìm cái đẹp đã bị đánh mất, ông đã tìm thấy biết bao giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc. Ánh sáng văn hoá, như một cây đũa thần nhiệm mầu giúp Nguyễn Bính đánh thức người nông dân ở mỗi chúng ta thức dậy, giúp thi nhân tìm thấy một “điều quý giá vô ngần: hồn xưa đất nước”[5].


Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 07-2018.


www.trieuxuan.info


 







[1] Nguyễn Đăng Điệp: “Khối tình lỡ của người chân quê”. Tạp chí Văn học, số 5/1994, tr. 29.


 




[2] Đỗ Lai Thuý: Con mắt thơ. Nxb. Lao Động. H., 1992, tr. 99.


 




[3] Đỗ Lai Thúy: Sđd., tr. 112.




[4] Đỗ Lai Thúy: Sđd., tr. 111.




[5] Hoài Thanh, Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam. Nxb. Văn học, H., 1992, tr.334.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyễn Bính và tuần báo “Trăm hoa” 1955-1957 - Lại Nguyên Ân 20.08.2018
Nguyễn Bính và con đường trở thành “Người của ngày mai” - Đoàn Trọng Huy 20.08.2018
Nam Bộ trong đời thơ Nguyễn Bính - Võ Văn Nhơn 20.08.2018
Nguyễn Bính – Nhà thơ của nhiều thời - Bùi Mạnh Nhị 16.08.2018
Giang hồ Nguyễn Bính - Phạm Xuân Nguyên 16.08.2018
Hai không gian sống trong thơ Nguyễn Bính trước cách mạng - Lê Thị Dục Tú 16.08.2018
Những bài viết về thơ Đỗ Nam Cao - Nhiều tác giả 16.08.2018
Cảm thức nơi chốn trong thơ Nguyễn Bính trước 1945 - Đỗ Hải Ninh 15.08.2018
Trở về như là Nguyễn Bính… - Nguyễn Thanh Tâm 15.08.2018
Con người và đặc sắc thơ Nguyễn Bính qua một số chân dung văn học - Hà Thị Kim Phượng 14.08.2018
xem thêm »