tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21267516
Lý luận phê bình văn học
09.10.2017
Nguyễn Trọng Tạo
Trong vườn thơ Trúc Thông



Từ 8 giờ sáng ngày 09-09-2015, tại khoa Viết văn và Báo chí Đại học Văn Hóa HN diễn ra cuộc tọa đàm “Trúc Thông chầm chậm tới mình”. Nhà thơ Trúc Thông tên thật là Đào Mạnh Thông, sinh năm 1940. Quê quán Hà Nam. Sau khi tốt nghiệp Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông về công tác tại Ban Văn nghệ, Đài tiếng nói Việt Nam cho đến lúc nghỉ hưu. Sau đó ông tham gia Ban biên tập Tạp chí Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam.


Trúc Thông làm thơ như một người làm vườn chăm chút trồng tỉa từng cái cây của mình trong một vòng hàng rào dày kín. Những cây – bài – thơ của anh chậm chạp và chắc chắc vươn dần lên trong khu vườn rồi thỉnh thoảng nghe tỏa ra ngoài hàng rào dày kín kia một vài làn hương bí ẩn, là lạ, quyến rũ, những người ta không dễ phân biệt được mùi hương của loài hoa gì. Không nóng vội, Trúc Thông vẫn ngày ngày kiên trì chăm chút cho khu vườn của mình, để rồi đến một ngày, anh mở cổng vườn, mang theo một lẵng quả mà anh đã thận trọng chọn lựa, dành tặng cho chúng ta. Lẵng quả ấy có tên là Chầm chậm tới mình(1).


Phải nói ngay rằng, Trúc Thông đã chịu khó đi “săn” chất liệu cho khu vườn. Anh “săn” nó trong đời sống phong phú sôi động khắp trên đất nước, từ nơi xa tận Cao Bằng, Mộc Châu, Hải Phòng, Nghệ An, Quảng Trị đến nơi gần gũi trong phố mình, trong nhà mình. Những chất liệu rút từ cuộc sống luôn được anh trân trọng, nâng niu. Anh yêu nó với tình yêu chân thành thực sự, khiến ta dễ dàng hòa nhập cùng anh cái nhìn rung động bất ngờ thú vị.


Những trẻ con hàng ngày gần cạnh chúng ta, đôi lúc sự bận bịu của công việc khiến chúng ta sao nhãng, nhưng với Trúc Thông, anh luôn để tâm đến chúng, thèm được chơi với chúng như thèm được chơi với chính anh thời bé dại:


Này trẻ con ơi


Cho tôi theo với


Tôi bé lại đây này


Tôi rất trẻ con


Tôi làm những bài ca cho mà hát


Cho tôi theo với


Quá nửa cầu rồi…


“Quá nửa cầu rồi”…câu thơ tự nhiên mà gợi nhiều liên tưởng tới cái cầu của đời người. “Quá nửa cầu rồi”, anh phát hiện ra điều lí thú trong những nét trẻ con vẽ ra trên mặt đất:


Trái đất cười thích thú được bôi lem bằng phấn trắng


gạch đỏ


than


Trái đất mỉm cười mặt mình ngũ sắc


cười rung…gió cây.


Và Trúc Thông sững sờ ý thức điều hệ trọng trước sự ngây thơ trong trắng của trẻ con:


Cứ lần theo giấy kẹo trẻ con


sẽ gặp thiên đường



thật đấy mà


cứ lần theo giấy kẹo trẻ con


Thái độ trân trọng, thương yêu trẻ con ở Trúc Thông như một lời tự nhắc nghiêm trọng về giá trị nhân cách làm người. Và hơn một lần, anh luôn thổn thức trong trái tim thi sĩ một đứa trẻ con trong sáng, đẹp đẽ. Bởi thế mà những bài thơ viết về trẻ con của anh dễ truyền cảm, ngân rung. Bài ca những em bé theo công trường là một tứ gây ấn tượng mạnh: “tiếng gầm máy, tiếng va rền sắt thép – chói những mảnh tiếng trẻ thơ la hét”. Thế đấy, trẻ con lớn lên cùng với sự ra đời những công trường thời đại sôi động được anh phản ánh bằng những câu thơ khỏe mạnh mà giàu thương cảm. Ở bài khác, anh lại tạo dựng được không gian huyền ảo riêng hòa nhập vào trẻ con một cách dễ yêu:


Vâng con ơi, cha xin làm con bò


Chở đến chân trời những cuốn sách



Xe chúng ta đi bé tẹo dưới trời


Lại khổng lồ trước mắt bao đàn kiến


Đến một lúc, “chiếc xe” phải dừng lại theo yêu cầu của trẻ con, cha lại “hiện thành người – thổi cơm nấu nước” thật gần gũi như một thước phim cận cảnh thú vị. Để rồi:


Khởi hành cha lại thành con bò


Cho các con thấy mắt hiền hết nói


Cứ thế chúng ta đi


xe lắc lư


Thế giới cùng các con chạm vai


mỉm cười


có khi cả cười lên rúc rích


Nếu như trong vườn thơ của mình, Trúc Thông đã dành riêng một phần đất màu mỡ cho tình yêu trẻ, thì cũng chính trong khu vườn ấy phần đất anh dành cho tình yêu bạn bè, những người cùng thế hệ không kém phần trân trọng. Với những người hi sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc, dù là người bạn viết ở xa hay người lính cùng phố, Trúc Thông như nhận lấy mất mát cho riêng mình, anh bần thần nén thương buồn để viết ra những câu thơ với lòng biết ơn:


Những bông hoa điếu phúng sẽ tàn


Bông hoa trắng đời anh ngát mãi


Mùa thu mây se se


Mùa thu mưa rào trắng


Quả tim thu bồn chồn


Hi Vọng vẫn đang đi


Khác với những rung động bồn chồn, Trúc Thông có những câu thơ khỏe rắn phóng ra từ sự dồn nén tình yêu những bạn bè đang lao động quên mình cho đất nước:


Cần cẩu cứ quay điệu vũ tròn và chậm


Những kíp thợ quay chung quanh mặt trời



Những bao hàng ném vào bụng con tàu trên cảng


Tôi ném mình vào trái tim các anh


Và trước sự lao động nghệ thuật nghiêm túc của người bạn diễn sân khấu, anh lặng người thán phục:


Bao khán giả như chìm xa dưới thấp


Nghe như rót tự một trời cao xuống


Sao thân gần sao sang trọng tiếng em



Và mọi người như có gì mất mát


Khi em lau lớp phấn


Trở về lững thững dưới cây xanh


Trái tim Trúc Thông như lúc nào cũng đập trong tình bạn bè với sự trân trọng của người đi tìm cái đẹp. Khi thì anh theo người nuôi ong qua “mùa hoa nở tiếp mùa tàn lụi – tim em kề sát bước đi hoa”, khi thì anh thấp thoáng cùng những cô công nhân nông trường Mộc Châu đã xa trong những câu thơ tươi nguyên cỏ xanh sữa trắng: “sữa đang chảy dưới mây trời rất trắng – cỏ đang xanh vào mắt những đàn bò”. Lúc nào anh cũng thấp thỏm lo lắng chưa sống trọn nghĩa với bạn bè. Có lần anh đã thốt lên: “hỡi những người yêu lang bạt của chúng tôi”. Và có lần anh đã tự thú nhận:


Tôi chưa ca ngợi anh như quả núi


Tôi ca ngợi sự chất chồng


Sự vắt ra


Từ đôi cánh tay vạm vỡ kia


Từ lồng ngực cởi trần


Đựng một cái gì xa thẳm, bâng khuâng


Cái “xa thẳm, bâng khuâng” Trúc Thông linh cảm được trong lồng ngực người bạn họa sĩ thì chính nó luôn ẩn hiện trong thơ anh. Nó chính là tình cảm ấm nóng ẩn chứa phía sau cái hòa sắc lạnh:


Mẹ ngồi mẹ nhắc con mẹ đi xa


Em ngồi em nhắc người chị không về


Bạn ngồi bạn nhắc người thủy chung nhất


Lửa nhắc bập bùng tự thuở ấu thơ


Tình cảm nồng ấm ấy là sự phản chiếu của một đời sống gần gũi, cụ thể. Không phải ai cũng có sẵn cái khả năng phản chiếu ấy. Phải có một tâm hồn nhạy cảm mới chắt lọc những gì lấp lánh, trong suốt trong đời sống bề bộn hàng ngày. Sự nhạy cảm của Trúc Thông là sự cảm nhận nhanh nhạy những tình cảm tốt đẹp, đặc biệt là tình cảm người mẹ. Về bên mẹ, anh thấy lắng lọc lại tiếng vang vọng của đời sống. Anh cảm thấy, dẫu có bay tới những hành tinh khác cũng không thể thiếu hơi ấm gần gũi của mẹ. Trong một cuộc du hành tưởng tượng, Trúc Thông đã yêu cầu mẹ thân yêu một điều cảm động: “mẹ nhớ gửi cho con chiếc chiếu quê hương”. Và anh thực sự hạnh phúc trong cuộc du hành đó:


Như khép vỏ thị vào cô Tấm


Mẹ còn dụi mắt


…ta đã xa rồi


Chiếu lại cuộn trong hành trang ta


như trên ba lô người lính



Trong bụi lốc


hầm sâu


dưới bầu trời dọa giết


Sẽ trải lên góc hành tinh xa xăm


Anh viết nhiều thơ về mẹ. Mẹ Cao Bằng “như rừng xanh buổi sớm”, Mẹ Quảng Trị “từ chóp đỏ cháu thơ – đến bạc cằn tóc mẹ”. Lúc nào anh cũng lo lắng cho mẹ:


Xin bão táp hãy lặng đi cho mẹ


Cho bình an mái nhà nhỏ bé


Nhưng tất cả những tình cảm Trúc Thông chăm chút dành cho mẹ vẫn không níu giữ được người mẹ thân yêu trên cõi đời mãi mãi. Bàng hoàng không còn mẹ nữa như bao người từng khóc mẹ, nhưng những giọt lệ của Trúc Thông không tan trên trang giấy:


Lá ngô lay ở bờ sông


Bờ sông vẫn gió


Người không thấy về


“Bờ sông vẫn gió” là bài thơ lục bát duy nhất trong tập thơ Chầm chậm tới mình. Đây cũng là bài thơ thành công nhất của anh, bài thơ như không còn chữ, chỉ còn tiếng ngân vọng của một tấm lòng trân trọng yêu thương.


*


Nhìn chung, thơ Trúc Thông có những tìm tòi mới, trẻ, với một nhịp điệu tâm hồn tiếp cận mạnh đời sống thực tại, hướng tới tính triết học và tính công dân nghiêm túc. Đọc thơ anh, không thấy dấu vết của sự dễ dãi, mà thấy một lao động có trách nhiệm:


Xuyên những bức tường


ta đã phải tấn công


từ ngữ những núi cao vỏ đạn


Có người bạn nói đùa: “Trúc Thông quyết chết với thơ”, là nói cái cực đoan của anh, như một người tử vì đạo. Quả thật, khi đàm đạo về thơ, lúc nào anh cũng có một thái độ nghiêm túc thực sự. Có lần đến chia tay tôi, Thanh Thảo, Nguyễn Thụy Kha và Văn Cao trước chuyến bay vào Quy Nhơn, Trúc Thông cùng thức trắng đêm tranh luận về thơ cho đến khi thấy chúng tôi mệt quá, anh mới chịu đi ngủ. Một tuần sau, anh còn gửi theo máy bay vào Quy Nhơn cho tôi và Thanh Thảo một lá thư tranh luận tiếp. Anh nhấn mạnh: “Cần chú ý nhiều đến âm nhạc bên trong của thơ”, và kèm theo nhiều bài thơ tôi tặng tôi như để minh chứng thêm điều anh nói. Và tôi thấy tấm lòng Trúc Thông lúc nào cũng rộng mở, chỉ riêng đối với thơ, bao giờ anh cũng khắt khe. Có câu thơ như chắt ra:


Linh hồn là giọt rượu


Văng quay trong tiếng đàn


Đấy là anh nhớ lại tôi ôm đàn hát trong một đêm uống rượu cùng nhau. Nhưng đôi lúc, vì khắt khe quá mà thơ anh trở nên bí ẩn, tối nghĩa. “Đàn thụ cầm và bóng tối”, “Tìm em phía cánh đồng” là những bài thơ cầu kì, khó hiểu.


Tuy nhiên, ở thời đại cách mạng khoa học kĩ thuật tạo ra những sự vật cực kì phức tạp, thơ không chỉ dừng lại ở thị hiếu đơn giản. Nhưng cũng chính ở thời đại này, con người thực ra, trong cõi sâu thẳm của tâm hồn, thèm nhớ cái gì đó rất không phức tạp, thì thơ ca muốn đi vào lòng người “phải có một sự táo bạo đặc biệt, đó là sự táo bạo dám đơn giản”(Martunov)(1). Nói cách khác, thơ càng phức tạp thì càng tìm đến sự giản dị. Phải chăng Trúc Thông đang phấn đấu cho chính điều ấy? Và sau cái lẵng quả đầu tiên, Trúc Thông đã lại “chầm chậm” trở về vườn thơ của mình. Anh sẽ chuẩn bị cho chúng ta lẵng quả mới gì đây?


Thứ bảy, 11 – 3 – 1986


Nguyễn Trọng Tạo


___


(1) Tên phần thơ Trúc Thông in chung với Thời yêu thương của Đào Cảng – Nxb Tác phẩm mới, 1985.


(1) Dẫn theo Hoàng Ngọc Hiến – VĂN HỌC XÔ VIẾT NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY – Nxb Đà Nẵng, 1985.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Thành phố lên đèn”, niềm thơ thắp sáng trong đêm - Nguyễn Đình Phúc 11.12.2017
Sao lại nói chữ quốc ngữ Việt Nam "rất nực cười"? - Nguyễn Hải Hoành 11.12.2017
Đọc lại bản dịch nổi tiếng Chinh Phụ Ngâm - Vương Trọng 03.12.2017
Thế giới “con rối” trong thơ Nguyễn Đức Tùng - Mai Văn Phấn 25.11.2017
Nguyễn Quang Thiều với "Câu hỏi trước dòng sông" - Tâm Anh 25.11.2017
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
xem thêm »