tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21264554
Lý luận phê bình văn học
07.10.2017
Nguyễn Chí Thuật
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê



Tác phẩm chính:


- Tiền đồn (1885-1886)


- Búp bê (1887-1889)


- Những người đàn bà được giải phóng (1890-1893)


- Faraon (1894-1895)


*Nhấp chuột vô đây đọc Tiểu sử nhà văn Boleslaw Prus


Tiểu thuyết Búp bê của Boleslaw Prus ra đời được coi là sự kiện trọng đại nhất trong lịch sử tiểu thuyết Ba Lan thế kỷ XIX. Đó là cuốn tiểu thuyết vô cùng đặc biệt, vì ngay sau khi được đăng dài kỳ trên Người đưa thư hàng ngày trong các năm 1887 - 1889, nó đã tạo ra những nguồn dư luận trái ngược nhau. Trước đó, một số cuốn tiểu thuyết của các nhà văn đã thành danh như Henryk Sienkiewicz hay Eliza Orzeszkowa, về nguyên tắc, nằm trong khuôn khổ thi pháp truyền thống, còn B. Prus đã vượt ra ngoài ranh giới này. Tiểu thuyết của ông, vừa thuần khiết vừa sáng tạo, đã tiến đến gần những cấu trúc sau này trở thành đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại đồng thời là tác phẩm mang tính khuôn mẫu của trường phái hiện thực phê phán trong văn học Ba Lan.


Tiểu thuyết Búp bê gây ngạc nhiên lớn cho các nhà phê bình văn học đương thời. Ý kiến của giới phê bình về tác phẩm này lúc đầu không thống nhất, đặc biệt là về quan điểm nghệ thuật của tác giả. Nhưng dần dần nó đã giành được sự thừa nhận rộng rãi, bởi các thế hệ độc giả sau này phát hiện ra mỗi ngày một nhiều hơn các giá trị mới của cuốn tiểu thuyết. Các nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng ở Ba Lan nửa sau thế kỷ 20 như Z. Szwejkowski, H. Markiewicz hay Janina Kulczycka-Saloni đều nhấn mạnh cách nhìn hiện thực đương thời tinh tế, sắc sảo của B. Prus, nhấn mạnh những giá trị nghệ thuật trong lối kể chuyện, sự hài hòa trong cấu trúc tác phẩm và cách thể hiện nhân vật. Đối với các thế hệ nhà văn Ba Lan viết theo trường phái hiện thực sau này, Búp bê thật sự là tác phẩm khuôn mẫu.


B. Prus nuôi ý định viết tiểu thuyết Búp bê từ rất sớm. Đáp lại lời mời cộng tác của tờ Đất nước xuất bản ở Xanh Peterburg năm 1884, ông đã viết: Tôi muốn để lại cho đời một cái gì đó, và vì cũng ít nhiều hiểu được thế nào là sách hay, nên thay vì lao vào lý luận phê bình, tôi muốn viết lấy vài cuốn sách xuất phát từ những câu hỏi lớn của thời đại chúng ta”. Mục đích viết Búp bê cũng đã được B. Prus nhấn mạnh: Tôi muốn giới thiệu các nhà tư tưởng của Ba Lan chúng ta trên nền sự tan rã mang tính xã hội. Sự tan rã đó là: những người tốt thì hoặc phung phí sức lực hoặc tìm cách lẩn trốn, kẻ xấu xa thì chẳng bị làm sao, mọi chuyện vẫn cứ êm đẹp như thường. Các công ty Ba Lan làm ăn thua lỗ và trên đống đổ nát đó mọc lên những cơ sở làm ăn phát đạt của người Do Thái. Những người phụ nữ nghiêm túc (như chị Xtavxka chẳng hạn) thì không có được một cuộc đời hạnh phúc, còn những người chẳng ra sao (như tiểu thư Izabela Oenxka) lại được coi như nữ thánh. Những con người bình thường phải đối đầu với hàng ngàn khó khăn, cản trở (Vôkulxki), những người trung thực (như hoàng thân) thì không đủ nghị lực và nói chung con người ta luôn bị tình trạng mất niềm tin, mối nghi ngờ hành hạ hàng ngày”.


Như đã đề cập, tiểu thuyết Búp bê của B. Prus lúc đầu được đăng dài kỳ trên tờ Người đưa thư hàng ngày từ tháng 9 năm 1887 đến hết năm 1889 và được in thành sách năm 1890. Nó có mặt trên thị trường sách Ba Lan đồng thời với các cuốn Trên bờ sông NiemnoGã thô bỉ của Eliza Orzeszkowa, tiểu thuyết bộ ba (Nạn hồng thủy, Ngài Volodyjowski, Ngọn lửa và thanh kiếm) của Henryk Sienkiewicz. Đối với tác phẩm của B. Prus, đây là một thời điểm quan trọng nhưng tế nhị, bởi  trong sự so sánh của độc giả và các nhà phê bình, sự khác nhau và giống nhau sẽ được thể hiện hoặc có lợi hoặc bất lợi cho một tác phẩm ít nhiều sinh sau đẻ muộn. Nhưng rất may, trên nền những tác phẩm đương thời rất có giá trị, tính thuần khiết và ý nghĩa những sáng tạo của B. Prus đã được nhìn nhận một cách đầy đủ nhất.


Tác phẩm của B. Prus phản ánh bầu không khí chung của xã hội Ba Lan những năm 80 của thế kỷ XIX, khi trong tiềm thức của các nhà thực chứng học đã diễn ra quá trình xác định lại hệ thống giá trị được gọi dưới tên cuộc khủng hoảng về tư tưởng thực chứng. Các ý tưởng lấy lao động làm nền tảng, lao động có tổ chức, tỏ ra thiếu khả thi. Tư tưởng lạc quan ban đầu đã nhường chỗ cho nỗi bi quan, thiếu niềm tin vào khả năng hiện thực hóa của các chương trình hành động.


Để hiểu rõ phần nào quá trình diễn biến hệ tư tưởng chủ yếu chi phối các nhà văn, nhà thơ Ba Lan, xin được ngược lại lịch sử một chút. Trong văn học Ba Lan gần như trong suốt thế kỷ XIX, hai luồng tư tưởng chiếm ưu thế là chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa thực chứng.


Trào lưu lãng mạn hình thành trong hai thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX và mốc quan trọng là năm 1822, khi tác phẩm đầu tay của Adam Mickiewicz được xuất bản dưới nhan đề Thơ. Thời điểm kết thúc giai đoạn này là năm 1863, năm nổ ra Cuộc khởi nghĩa tháng Một.


Chủ trương mang tính triết học và tư tưởng quan trọng nhất của chủ nghĩa lãng mạn được xây dựng trên cơ sở đấu tranh vươn tới những thay đổi xã hội, chính trị và dân chủ nhằm phục sinh hoặc giải phóng dân tộc đồng thời dựa trên việc đem lại giá trị mới cho những quan điểm cơ bản về thế giới và con người, được xây dựng từ thời Ánh sáng.


Tư duy của nhiều nhà lãng mạn chủ nghĩa Ba Lan tập trung xung quanh chủ đề công cuộc đổi mới và cách mạng mang tính lịch sử, sự phát triển thế giới nhờ những hy sinh tinh thần, vấn đề vai trò cá nhân và tập thể trong lịch sử hay sức mạnh của ý chí con người khi họ có ý thức rõ ràng về hành động của mình.


Chủ nghĩa lãng mạn nhìn nhận thế giới với tư cách một cơ thể sống sinh động và năng động, bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, không lặp lại. Thế giới đó không thể nhận thức được duy nhất bằng trí tuệ hoặc không thể khoanh lại trong hệ thống - hiện thực chỉ có thể cố gắng nắm bắt thông qua cảm giác và trí tưởng tượng mang tính tự phát, thông qua việc sáng tạo ra những biểu tượng phù hợp của sự tồn tại về mặt tinh thần, các giác quan không với tới được.


Thiên nhiên có chỗ đứng rất quan trọng trong tư duy của các nhà lãng mạn chủ nghĩa. Đó là một tổng thế sống động, có khả năng cảm nhận, có khả năng mang lại những ý nghĩa bí ẩn của vũ trụ. Chính tính chất bí ẩn, tính chất đánh đố và tất cả những gì chưa được biết đến, được coi là bất hợp lý, siêu nhiên, ma thuật và tính vô hạn định đã tạo ra bức tranh hiện thực phong phú, quay cuồng”, đầy mâu thuẫn, khó hiểu và phức tạp.


Cũng giống như thế giới quanh mình, con người không còn là một cá thể điển hình về tính hài hòa, có nội tâm ổn định, mà ngược lại, trong thời đại lãng mạn chủ nghĩa, con người là một cá thể không lặp lại ở bất cứ đâu, với đặc trưng rõ ràng nhất là chủ nghĩa cá nhân đến cực đoan. Vì thế con người luôn mâu thuẫn với xã hội, trong lòng anh ta đầy những tư tưởng chống lại thế giới, cái hài hòa trong anh ta làgiả tạo và những chuẩn mực cứng nhắc, anh ta nuôi ý chí chống lại cách tư duy truyền thống và chống lại trật tự xã hội cũ.


Cuộc chiến này và các giá trị của nó được thể hiện qua thơ, tức là qua hành động sáng tạo, thông qua sự bộc lộ cá nhân cho phép nhà thơ trở thành lãnh tụ tinh thần, thành nhà tiên tri của cả một dân tộc. Chính vì thế nhiệm vụ đặt ra cho thơ cao cả hơn bao giờ hết và nhà thơ được nâng lên một tầm cao mới, cao hơn bất cứ thời đại nào trong lịch sử Ba Lan.


Văn học lãng mạn Ba Lan có một đại diện xuất sắc, một người mà tác phẩm vạch ra hướng đi và giúp mọi người hình dung về một nền văn học mới, đó là Adam Mickiewicz. Thất bại của Cuộc khởi nghĩa tháng Mười Một là thời điểm mang tính bước ngoặt đối với trào lưu văn học lãng mạn Ba Lan. Do hậu quả của cuộc đàn áp sau khởi nghĩa, những cây bút tên tuổi đã phải rời bỏ đất nước. Các sáng tác của họ ở nước ngoài mang một nội dung khác hẳn.


Trong văn học Ba Lan, chủ nghĩa thực chứng là một trào lưu hình thành trong giai đoạn từ cuộc khởi nghĩa tháng Một (1863 - 1864) đến thập niên 90 thế kỷ XIX, tức là trào lưu tồn tại sau lãng mạn và trước thời kỳ Ba Lan Trẻ. Bối cảnh lịch sử của nó có thể phác họa ngắn ngọn như sau: Thất bại của cuộc khởi nghĩa tháng Một đã khiến nhiều người Ba Lan không còn hy vọng vào việc giành độc lập bằng khởi nghĩa vũ trang. Họ không chỉ gác sang một bên những hy vọng đó mà vứt bỏ luôn những khuôn mẫu hình thành trong thời kỳ lãng mạn. Chủ nghĩa thực chứng Ba Lan, lấy cảm hứng từ triết học của Comte và từ các tạp chí khoa học Anh, đã đặt lại cách hiểu một số vấn đề, thiên về lý trí hơn là tình cảm. Các nhà thực chứng Ba Lan cho rằng giữ vững bản sắc dân tộc không phải ở hình thức khởi nghĩa vũ trang giành độc lập nữa mà trong lao động và ở chủ nghĩa yêu nước mang tính xây dựng. Họ lý luận rằng nếu Ba Lan muốn giành độc lập thì công cuộc ấy phải tiến hành từng bước, phải lấy lao động làm nền tảng, lao động có tổ chức, thông qua nỗ lực tập thể của cả một xã hội vì mục đích tạo ra hạ tầng cơ sở vật chất, giáo dục và cải thiện cuộc sống của đông đảo quần chúng. Chính B. Prus đưa ra lời khuyên: để vị trí của Ba Lan trên thế giới được nâng cao thì phải nhờ vào phát triển kinh tế, khoa học và văn hóa. Các vấn đề điển hình khác của chủ nghĩa thực chứng Ba Lan là bình đẳng nam nữ, là sự hòa nhập của thiểu số Do thái, là chống lại chính sách Giéc-manh hóa của Bismarck.


B. Prus là một trong những người sáng lập chủ nghĩa thực chứng Ba Lan. Thể loại được các nhà văn thực chứng ưa thích là tiểu thuyết, vì nó phục vụ đắc lực mục tiêu của họ. Tiểu thuyết có nhiệm vụ miêu tả thế giới đúng với thực tế. Nó không đòi hỏi phải có chuẩn bị gì nhiều về tinh thần tiếp nhận của độc giả nhưng lại có khả năng to lớn về mặt tuyên truyền và giáo dục. Văn học khi đó mang tính mục đích rõ ràng - thể hiện xu hướng tiến bộ của thời đại - đồng thời mang tính thực dụng - sáng tạo ra nhân vật tích cực, dễ dàng đến được với đông đảo người đọc. Típ nhân vật tiểu thuyết mới - trong các tác phẩm của các nhà văn thực chứng - thường là người lao động, có học thức, luôn hành động dựa trên trí tuệ, luôn nghĩ đến lợi ích chung. Người tiếp nhận văn học mới thường là con người bình dân có nhu cầu học hỏi ở cuộc sống, có nhu cầu về những khuôn mẫu để noi theo. Các nhà thực chứng đặt ra cho mình mục tiêu là tuyên truyền tới mọi người những tư tưởng mới: Hướng mối quan tâm của quần chúng vào nền tảng vật chất của đời sống dân tộc và đưa ra chương trình hiện đại hóa đất nước, lấy lao động làm nền tảng phát triển xã hội - nâng cao trình độ khoa học và hiểu biết của các tầng lớp xã hội chủ yếu, lấy lao động làm động lực nâng cao trình độ phát triển kinh tế đất nước. Nếu coi xã hội là một cơ thể sống thì mỗi giai cấp trong xã hội phải quan tâm đến sức khỏe của cái cơ thể đó bất kể đó là các chi hay bộ não. Đoàn kết mọi tầng lớp xã hội cũng có nghĩa là nâng cao khả năng hợp tác chặt chẽ giữa các tầng lớp xã hội với nhau.


 “Tiểu thuyết viết ra từ những câu hỏi lớn của thời đại chúng ta” là cách nói thể hiện rất rõ phương pháp sáng tạo trong cách tư duy mới của nhà văn. Không phải  “những phán đoán”, những câu trả lời” mà chính là các câu hỏi. Bởi vì trong quan điểm của B. Prus, người sáng tạo không phải là người được ban tặng khả năng vô hạn  cái gì cũng biết và một năng lực phán xét luôn đúng với hiện thực được miêu tả. Người sáng tạo, đúng hơn, là  “nhà nghiên cứu” tỉ mỉ, có lương tâm,  có cái nhìn khách quan đối với những hiện tượng xã hội và tâm lý học, là người quan sát thận trọng để chỉ ra cho bạn đọc tính phức tạp của thế giới mình đang sống. B. Prus không lảng tránh những đánh giá chủ quan, song cái tinh tế và tính đa nghĩa của những đánh giá đó mang đặc tính khác so với những gì chứa đựng trong các cuốn tiểu thuyết của những người đi trước ông. Tính đa dạng, phong phú, muôn màu nhiều vẻ của các tình tiết được đề cập trong tác phẩm của ông tạo ra khả năng phân tích bằng nhiều cách các nhân vật cũng như các tình huống của cốt truyện.


Tự đánh giá tác phẩm của mình, B. Prus từng viết rằng tiểu thuyết Búp bê “miêu tả các nhà tư tưởng Ba Lan trên nền sự đổ vỡ mang tính xã hội”. Câu nói này chứa đựng lời phán quyết về hiện thực đương thời. Nhưng tác giả không tự hạn chế mình ở hiện thực này. Ông đã sáng tạo ra cuốn tiểu thuyết-tổng hợp khi ông miêu tả các giới xã hội khác nhau vào những năm 70 của thế kỷ XIX, nhưng đồng thời  nó cũng mang tầm nhìn rất xa về thời gian khi đề cập đến các sự kiện diễn ra vào nửa đầu thế kỷ đó. Trong thế giới của tác phẩm, thời điểm mang tính bước ngoặt về văn minh cũng đã được phản ánh, đó là thời điểm diễn ra những thay đổi cơ cấu xã hội và hệ thống giá trị. Thế giới này không hoàn toàn đem lại niềm lạc quan, ngược lại có thể nhìn rõ dấu hiệu sự khủng hoảng. Sự khủng hoảng trong tiểu thuyết Búp bê, như đã đề cập, liên quan đến hai tư tưởng lớn của thế kỷ XIX: chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa thực chứng. Hậu quả sự sụp đổ này liên quan mật thiết đến số phận của những nhân vật tiểu thuyết mà hiện thực xã hội tác động trực tiếp nhất. Khi bác sĩ Suman nói về Vôkulxki rằng cậu ta  “chết vì bị các thứ còn rơi rớt lại của chế độ phong kiến đè lên người”, ông ta, chính bằng cách đó, chỉ ra cho mọi người thấy sức phá hoại của thái độ và những định hướng bảo thủ đang tiếp tục tồn tại. Bởi vì giới quý tộc, theo ý kiến tác giả, là thủ phạm chính gây ra tình trạng tụt hậu trong trình độ văn minh đất nước. Nhưng B. Prus cũng đồng thời chỉ ra những mặt tiêu cực của các tầng lớp xã hội khác, trước hết là của giới thị dân. Tiểu thuyết Búp bê phản ánh nỗi thất vọng của nhà văn, một người từng tin tưởng sâu sắc vào giá trị những lý tưởng cơ bản của chủ nghĩa thực chứng, nhưng cũng đồng thời nhận ra  tính lỗi thời và xa rời thực tế của chúng.


Những mục tiêu chung nhất của tiểu thuyết Búp bê đã được miêu tả đặc biệt cụ thể, mang nét đặc trưng của B. Prus, cây bút từng gây tiếng vang nhờ những tác phẩm thiên về ghi chép. Vì thế chẳng có gì đáng ngạc nhiên  khi các chi tiết của tiểu thuyết diễn ra ở Varsava thì hiện thực Varsava đã hiện rõ mồn một với đầy đủ tập quán, gam màu và bầu không khí thành phố cùng những sự kiện có thật gắn liền với thủ đô trong vòng hai năm của thập kỷ 70 thế kỷ XIX (1878 - 1979). Tính thời đại của tiểu thuyết có thể nhận thấy rõ ràng, như đập ngay vào mắt độc giả, đến mức mọi người sẵn sàng coi nó là tư liệu của một thời. Có nhà phê bình văn học Ba Lan đã viết rằng sẽ có lúc tiểu thuyết của B. Prus trở thành tư liệu mang tính khoa học, giống như Dickens ở Anh hay Balzac ở Pháp, trở thành nhân chứng lịch sử tự nhiên, trở thành bằng chứng sống nói với các thế hệ sau này của Ba Lan về cuộc sống thường nhật của người dân Ba Lan diễn ra vào nửa sau thế kỷ XIX. Các nhân vật tiểu thuyết mặc dù là hư cấu, song môi trường sống, cách sống, diễn biến tư tưởng của họ là một hiện thực sống động.


Nhiều nhà phê bình tiểu thuyết Ba Lan nhấn mạnh đến cơ cấu nội dung của tác phẩm Búp bê. Có một điều rất cơ bản, không thể phủ nhận, là B. Prus không bị sa đà vào những chi tiết cụ thể mà đi sâu vào hướng tổng hợp yếu tố thời đại, song song với việc ghi nhớ vai trò, phân cấp các yếu tố khác nhau của thời đại đó. Trung tâm chú ý của tác giả là những thành phố lớn (trước hết là Varsava, sau đó đến Pari). Ý nghĩa không gian thành phố của tiểu thuyết được khẳng định bằng nguyên tắc tương phản - miêu tả thành phố và nông thôn. Những chi tiết trong tiểu thuyết diễn ra ở nông thôn chỉ rõ hiện thực mang xu hướng: nông thôn đang mất dần vai trò, nhường chỗ cho thành phố. Nhưng thành phố đã bị tước bỏ những nét nên thơ, trở thành địa bàn của các công chuyện làm ăn, thành thương trường, có thành công, có thất bại. Đó chính là hiện thực tư bản chủ nghĩa, đối lập với những gì còn rơi rớt lại của thời phong kiến.


Nhưng thế giới đó cũng là mối đe dọa đối với các nhân vật tiểu thuyết. Là bởitrong một mức độ khá lớn, nói gì thì nói, các nhân vật trong tiểu thuyết vẫn tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi thế giới quan của chủ nghĩa lãng mạn. Điều này có thể nhận thấy rõ ràng nhất trong cách xử sự của nhân vật Giexki, người trước sau tin theo Napoleon, hơi lập dị một chút, hơi điên khùng một chút, nhưng được tác giả rất ưu ái. Tình cảm mang nặng tính lãng mạn trở thành nguồn gốc những thất bại của Vôkulxki và Ôkhôxki, cả hai đều  “chết vì lý tưởng”. B. Prus từng viết về vấn đề này trong một bài tự nhận xét tác phẩm của mình:


 “Lý tưởng của chúng ta, trong tiểu thuyết có ba dạng, đặc trưng ở chỗ mỗi dạng đều chạy theo những sự nghiệp lớn lao mà không quan tâm đến những cái nhỏ bé, trong khi nhà hiện thực chủ nghĩa Slangbaum bằng cách thực thi những công việc tỉ mẩn, đã giành được cả đất nước. Lão Giexki là người có lý tưởng về chính trị, Ôkhôxki là người có lý tưởng khoa học, còn Vôkulxki, với danh nghĩa con người giai đoạn quá độ, rất phức tạp”.


Chính ba đại diện của ba thế hệ này đã bị sự tan rã về mặt xã hội thời điểm đó ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Những giá trị cá nhân và niềm tin trong họ, mặc dù có thể rất quan trọng đối với xã hội, đã không có cơ hội được hiện thực hóa. Lỗi thuộc về thời đại, bởi vì trong thời đại đó, chuyện làm ăn được đặt lên hàng đầu, và đứng đầu lại là những người chỉ biết đến mỗi việc kiếm lời. Nhưng trong quan niệm của tác giả, không hoàn toàn có thể đổ lỗi cho các yếu tố khách quan, màthất bại là kết quả tất yếu khi các nhân vật có những tính cách khác người. Cả Vôkulxki lẫn lão Giexki, dù nhiều dù ít, đều có lỗi vì đã không biết điều chỉnh bản thân cho phù hợp với hoàn cảnh: Tình yêu mù quáng của Vôkulxki, sự thần tượng một cách lỗi thời dòng họ Napoleon của lão Giexki đã đẩy cả hai người đến chỗ mất tự tin và thất bại.


Các sự kiện được miêu tả trong tiểu thuyết cũng như các vấn đề đặt ra đã được tác giả gắn với nền tảng lịch sử vững chắc. Quá khứ hiện lên qua trí nhớ các nhân vật và ảnh hưởng đến thái độ, hành động của họ là cái quá khứ từ thời cuộc khởi nghĩa tháng Một, từ thời Mùa xuân Nhân loại, thậm chí xa hơn nữa - tận lịch sử các hoàng đế Napoleon. Bản đồ hoành tráng của tác phẩm được vẽ nên chủ yếu nhờ các chương có nhan đề Nhật ký của người nhân viên kỳ cựu, trong đó các sự kiện lịch sử có thêm ý nghĩa chủ quan, chịu sự phán xét mang tính cá nhân. Sự tham gia của lão Ignaxư Giexki trong thời kỳ Mùa xuân Nhân loại, của Vôkulxki vào cuộc khởi nghĩa tháng Một chứa đựng ảnh hưởng lâu dài tới cuộc sống của họ, gắn số phận riêng của các nhân vật với vấn đề độc lập dân tộc. Mặc dù trong tác phẩm, nhận xét của tác giả về các cuộc khởi nghĩa vũ trang xuất phát từ quan điểm lãng mạn chủ nghĩa, rõ ràng thiên về phê phán mạnh mẽ, vẫn có thể nhận ra là các chi tiết này trong cuộc đời các nhân vật được người viết đưa vào một ý nghĩa rất cơ bản mang tính thời đại. Cách biệtthế hệ trong tiểu thuyết Búp bê không phải làcách biệt tuổi tác vì giữa lão Giexki và Vôkulxki khoảng cách này chỉ là mấy năm, song họ đại diện cho những thái độ và tính khí khác nhau. Nếu số phận của người nhân viên kỳ cựu hầu như được định hình hoàn toàn nhờ quan niệm mang tính lãng mạn chủ nghĩa về thế giới thì con đường công danh của một thương gia - nhà tư bản do Vôkulxki tự chọn đã đưa ông ta gần lại với thế hệ sau, tức là thế hệ hậu khởi nghĩa tháng Một và sự khác biệt đó đã tạo nên khoảng cách giữa hai người.


Nhưng nếu chỉ hạn chế hiện thực được miêu tả trong tác phẩm Búp bê ở việc phân tích vấn đề trên thì chúng ta chỉ có duy nhất bức tranh nằm trong mảng đề tài xã hội học về một thời đại với các nhân vật và các vấn đề mang tính đại diện của nó. Ở đây B. Prus, trong khi tận dụng một phần truyền thống thể loại và khuôn mẫu của tiểu thuyết Balzac, đã đưa  “những câu hỏi lớn của thời đại” vào hệ thống các chủ điểm của tiểu thuyết miêu tả  trạng thái phức tạp về tâm lý con người và vào chiều sâu những trải nghiệm. Nhìn từ góc độ này, chúng ta càng thấy tầm vóc lớn lao của Búp bê, một trong những tiểu thuyết lớn nhất về tình yêu của toàn bộ nền văn học Ba Lan, cuốn tiểu thuyết có thể mạnh dạn đặt bên cạnh các kiệt tác của văn học thế giới như Bà Bovary của Flaubert hay Anna Karenina của Tolxtoi. Nhà phê bình văn học Ba Lan Henryk Markiewicz,  rất có lý khi gọi Búp bê  “chuyên khảo vừa chính xác vừa nghệ thuật về nỗi đam mê lớn lao”. Đọc tác phẩm này, chúng ta chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ của những tình cảm muộn màng ở người đàn ông tuổi bốn mươi nhăm Xtanixlav Vôkulxki.


B. Prus đã tận dụng những công thức về tình yêu không được đáp lại, về những vật cản do đẳng cấp và tập quán gây ra, những bất đồng về tính cách và ảo tưởng về mục đích của bạn đời, là các yếu tố từ lâu đã ăn sâu vào tiểu thuyết Ba Lan. Nhưng những yếu tố mang tính truyền thống này, dưới ngòi bút của B. Prus, đã lấy lại những biểu hiện thuần khiết của mình. Những vật cản mang tính xã h trở thành truyền thống trước đây nay giành lại được động cơ mang tính tâm lý học hiện đại. Tình yêu trong Búp bê đã chỉ ra những đặc tính cá nhân của các nhân vật ít được đề cập khi phân tích tác phẩm. Tuy vậy tình yêu ở đây không được miêu tả hoàn toàn với danh nghĩa một trạng thái tâm lý, bởi các nhân vật của Prus được đặt cố định, vững chắc trong hiện thực lịch sử - xã hội của thời đại mình. Hiện thực này cũng ảnh hưởng đến tính tích cực hay thụ động của các nhân vật, đồng thời mở ra bối cảnh  để nhân vật dấn thân trong cuộc đời. Vì thế,  cái tích cực của Vôkulxki một mặt xuất phát từ tính cách một con người mạnh mẽ, quyết đoán, mặt khác những điều kiện xã hội lúc đó đã khiếnngười từng là một nghĩa quân trở thành anh nhà buôn, một doanh nhân tư bản lớn, một nhà đầu cơ trở nên giàu có nhờ tranh thủ được cơ hội trong cuộc chiến tranh Nga - Thổ ở vùng Ban-căng. Ngược lại, những mong ước lớn lao về mặt khoa học - và sau đó về tình cảm - của ông không thể hiện thực hóa được. Số phận Vôkulxki là bức tranh minh họa cho những vấn đề liên quan đến vị trí, vai trò của cá nhân tài năng trong xã hội Ba Lan thời kỳ bị chia cắt. Con người đó phải gánh chịu hậu quả  từ mâu thuẫn giữa trách nhiệm xã hội và trách nhiệm của một người yêu nước trong khi vươn tới hạnh phúc cá nhân. Tình yêu của Vôkulxki có thể được coi là một thứ tình cảm thay thế mà, do quá thần tượng tiểu thư Izabela, đã trở thành sự trốn chạy khỏi  hiện thực vô vọng để đi tìm chỗ ẩn náu về tâm lý.


 Chủ đề đa dạng trong tiểu thuyết Búp bê đã được thể hiện bằng những phương tiện nghệ thuật hiện đại, hiện đại đến mức gây nghi ngại ở các nhà phê bình văn học. Tiểu thuyết của B. Prus đã gặp phải những lời phê phán khác nhau về cơ cấu hình thức tác phẩm,chủ yếu tập trung vào sự gắn kết lỏng lẻo, khác xa với cách thức xây dựng tác phẩm đã trở thành truyền thống, xa rời tính rõ ràng của hành động, tính mất cân đối của các thành tố và động cơ nội tại mang tính nhân - quả.  Hiểu lầm cơ bản nhất do quan điểm đưa vào cốt truyện thể loại tiểu thuyết nhật ký của lão Giexki, mà theo ý kiến một số nhà phê bình là gây lộn xộn, xa lạ với thể loại mà tác giả sử dụng. Thực tế càng về sau càng chứng tỏ quyết định này của tác giả là rất sáng tạo và có ý thức rõ ràng. Chính B. Prus đã có lần giải thích:  “Tiểu thuyết hiện thực, nhất là loại tiểu thuyết mà chủ đề là những hiện tượng xã hội lớn, lúc đầu luôn gây ấn tượng về sự thiếu rõ ràng, hơi lộn xộn, song đây là khu rừng, trong đó chỉ có thể nhìn thấy những cái cây đơn lẻ mà không nhìn thấy rừng. Một độc giả lơ đãng thì không bao giờ nhìn thấy cái  “rừng” đó, nhưng một nhà phê bình chừng mực thì phải phát hiện toàn cảnh và xác định nó”.


Từ những phân tích trên, có thể khẳng định Búp bê vừa là cuốn tiểu thuyết mang tính xã hội lớn, vừa là tác phẩm về tình yêu và tâm lý. Không thể đơn giản dùng quan điểm thể loại trong khuôn khổ cấu trúc truyền thống để phân tích tác phẩm này. Tác giả đã biến những khuôn mẫu tồn tại từ trước đến nay thành một liên kết mở nhưng bao gồm nhiều chủ đề một lúc và bao gồm nhiều chi tiết khác biệt nhau. Một số chi tiết được tác giả chốt lại trong Nhật ký của người nhân viên kỳ cựu. Nhờ những trang nhật ký đó mà đôi khi xuất hiện sự va chạm giữa hai điểm nhìn khác nhau; cùng các sự kiện nhưng Giexki - người kể chuyện  “nhìn” và đánh giá khác, tác giả - người kể chuyện - chủ quan và vô nhân xưng - nhìn và đánh giá khác. Tính phức tạp của nghệ thuật kể chuyện theo kiểu tiểu thuyết không chỉ có thế. Không gian quan sát của người kể chuyện cũng bị hạn chế bởi nhân vật tiểu thuyết, tác giả - người kể chuyện tận dụng sự trung gian của nhân vật để giới thiệu hiện thực giống như người đang  “đứng sau lưng” nhân vật. Người thường giữ vai trò đó trong Búp bê là nhân vật Vôkulxki, chẳng hạn từ điểm nhìn của ông ta tác giả miêu tả quang cảnh hai bên bờ sông Vixla. Những trang nhật ký của lão Giexki có vai trò khác hơn - tác giả thông qua sự trung gian của chúng đưa vào tiểu thuyết các yếu tố góp phần quan trọng để hiểu rõ nhiều chủ đề đặc biệt.


Dựa vào cách kể chuyện trong Búp bê có thể nhận ra các phương pháp đánh giá rất khác nhau về thế giới được miêu tả. Bên cạnh hàng loạt các đoạn văn mang tính khách quan, không để lại nhiều ấn tượng trong cách tường thuật sự kiện, nhà văn đã đưa vào câu chuyện những yếu tố rất có giá trị về mặt cảm xúc. Đây có thể là giọng điệu hài hước hay, như trong trường hợp các trang nhật ký của lão Giexki, là  thái độ tự trào. Các trang viết tái hiện những trải nghiệm của nhân vậtthấm đẫm tình cảm. Nhưng chúng cũng đòi hỏi phải sử dụng những phương tiện nghệ thuật cho phép chỉ rõ quá trình tư duy liên tục và phương pháp cảm nhận nhân vật. B. Prus, mặc dù vẫn tiếp tục sử dụng hình thức độc thoại truyền thống, đã thường xuyên dùng đến các phương pháp hiện đại, nhờ đó các nhân vật tiểu thuyết càng ngày càng thể hiện sự độc lập lớn hơn nên không quá phụ thuộc vào sự can thiệp trực tiếp của tác giả.


Bức tranh thế giới tiểu thuyết ở một mức độ khá lớn phụ thuộc vào việc các nhân vật  “nhìn” hiện thực như thế nào. Những đánh giá cá nhân của B. Prus chỉ được thể hiện gián tiếp và mất đi tính chất rao giảng đạo đức. Nói đúng hơn, nhà văn đã gợi ý những kết luận hơn là chuẩn bị sẵn chúng, nhất là khi số phận các nhân vật  “treo lơ lửng giữa hai thời đại” và trong lúc  “giao thời” nó thể hiện rõ sự đa dạng trong tính cách, đặc điểm các nhân vật. Xu hướng phân tích của tác giả cũng thể hiện rõ trong phong cách tiểu thuyết, trong đó những đặc điểm thường thấy nhất là sự  “giấu mình” và  “tính minh bạch” cũng như  tính súc tích, rõ ràng của các cấu trúc ngôn ngữ, câu cú đơn giản, không cầu kỳ, phức tạp.


Phân tích Búp bê, có thể đề cập đến một phạm vi rộng lớn các vấn đề. Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về tác phẩm này vẫn chứa đựng những quan điểm không chỉ khác nhau mà còn trái ngược nhau. Điều đó không chỉ xuất phát từ việc mỗi người đọc Búp bê theo một kiểu chủ quan, mà có lẽ đó là kết quả việc xác định khác nhau hiện thực của tiểu thuyết, các sự kiện và cách hiểu về số phận nhân vật cũng như cách đặt họ trên cái nền chung đã không cho phép giải thích, chứng minh chỉ một lần là xong, chỉ một lần đã đúng. Sự đánh giá tác phẩm Búp bê thay đổi theo ảnh hưởng của thời gian, theo việc tác phẩm tham gia như thế nào vào dòng chảyvăn học các thời đại sau. Những khả năng đọc mới cũng đã mở ra sau khi tác phẩm được dựng thành phim. Những lý do nêu trênchứng tỏ sức sống mãnh liệt của Búp bê và chứng tỏ nó - thông qua sự giàu có nội tại của mình - đã vượt qua giới hạn thời gian, mãi mãi là cuốn tiểu thuyết vô giá đại diện cho trào lưu thực chứng trong văn học Ba Lan.                                                                                     


 


Một số sự kiện và bối cảnh lịch sử Ba Lan - cái nôi nơi Búp bê ra đời


Đọc Búp bê, độc giả sẽ gặp khá nhiều sự kiện lịch sử. Đối với độc giả Việt Nam, các sự kiện đó cần phải được nói rõ. Lịch sử có mặt trong cuốn tiểu thuyết này trước hết liên quan đến nhân vật Ignaxư Giexki, người đã dành khá nhiều trang nhật ký của mình để nói về các sự kiện lịch sử. Nhiều nhất có lẽ là các sự kiện về hoạt động của dòng họ Napoleon, quá trình diễn biến Mùa xuân Nhân loại trên đất Hungari và bối cảnh chính trị đương thời. Nhờ sự mở rộng khoảng cách thời gian và những lời bình luận mang tính cá nhân, những cân nhắc, suy tư của lão Giexki, các sự kiện trong quá khứ đã hiện lên rõ ràng, lấy lại ý nghĩa của chúng trong hiện tại. Có thể nói tác giả các trang nhật ký đã mở ra một loại lịch sử của riêng mình và trong cách tư duy của tác giả, dòng họ Bonaparte có nhiệm vụ đưa các dân tộc đến tự do. Điều này quả thật mang ý nghĩa lớn lao trong bối cảnh Ba Lan năm 1878.


            Mùa xuân Nhân loại (1848) diễn ra trên đất Hungari mang hình thức một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Rất nhiều người Ba Lan ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của Hung. Ba Lan có hẳn một vị tướng chỉ huy các đơn vị quân đội nước mình tham gia cuộc đấu tranh đó. Bởi tất cả mọi người được tập hợp dưới ngọn cờ của Mùa xuân Nhân loại, được thôi thúc bởi mục tiêu vươn tới: Tình anh em, tự do, bình đẳng. Giúp đỡ người Hung, người Ba Lan hy vọng đó cũng là cách giành độc lập cho dân tộc mình. Họ làm việc đó, trong lòng họ tràn đầy tin tưởng vào sự giúp đỡ của Napoleon đệ tam. Cách suy nghĩ đó được lão Giexki và Auguxtơ Katzơ thể hiện nhất quán. Chỉ tiếc rằng người bạn thân thiết của lão Giexki, vì quá thất vọng sau thất bại của cuộc khởi nghĩa, đã chọn cho mình cái chết. Lão Giexki thì kiên quyết bảo vệ quan điểm của mình, ngay cả khi mọi người nhận ra rằng người Ba Lan không thể trông chờ gì ở sự giúp đỡ của nước Pháp. Đối với người nhân viên kỳ cựu Ignaxư Giexki, năm 1848 là năm đẹp đẽ nhất của đời mình.


            Trong tiểu thuyết Búp bê cũng có những trang nhắc đến cuộc chiến tranh Nga - Thổ ở vùng Ban-căng những năm 1877 - 1878. Cuộc chiến tranh này diễn ra chủ yếu trên đất Bungari, cho nên trong tác phẩm có những câu nói đến chuyện Vôkulxki đi đánh nhau ở đó. Nước Nga đã thắng cuộc, góp phần  thúc đẩy cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tại một số quốc gia.


            Sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng diễn ra trong năm 1863 là Cuộc khởi nghĩa tháng Một, nhưng nó được đề cập trong tác phẩm dưới một hình thức đặc biệt. Có chuyện đó là vì B. Prus buộc phải sử dụng phương pháp ẩn dụ nhằm che mắt các cơ quan kiểm duyệt để tác phẩm có cơ hội được in. Bầu không khí ở Ba Lan trong bối cảnh đất nước bị chia cắt, một phần do Nga cai quản, đã được lão Giexki miêu tả trong nhật ký của mình:  “Có vẻ như Varsava đang nghẹt thở. Tôi chờ đợi hàng giờ, hy vọng điều bất ngờ xảy ra. Mặc dù nghẹt thở nhưng tất cả chúng tôi đều rất vui, trong đầu đầy ắp những dự định lớn lao”.


Vôkulxki đã tham gia cuộc khởi nghĩa này và đó là một trong những chi tiết đáng tự hào trong tiểu sử của ông, cho dù hành động đó khôngkhỏi bị trả thù, theo dõi, với kết quả cuối cùng là bị đày đi Xibêri. 


           


Phác họa chân dung ba nhân vật chính   


 


Xtanixlav Vôkulxki


 


Xtanixlav Vôkulxki là nhân vật chính của tiểu thuyết, là hình tượng được khắc họa đậm nét nhất và miêu tả kỹ nhất. Lịch sử cuộc đời ông chúng ta không được biết theo trình tự thời gian mà gián đoạn, có nhiều chi tiết không rõ ràng vàđến khi gấp lại cuốn sách chúng ta vẫn không biết số phận nhân vật ra sao.


Ông sinh ra trong một gia đình có nguồn gốc quý tộc. Thời trẻ ông làm việc ở cửa hàng nhà Hốpfơ với tư cách nhân viên bán hàng. Vào một thời điểm nhất định, chàng thanh niên Xtanixlav quyết định bước vào con đường học hành nên ghi tên vào trường dự bị đại học, sau thi đỗ vào trường Tổng hợp. Anh rất kiên trì vươn tới hiện thực hóa mong muốn của mình là trở thành người có tri thức, vì vậy ban ngày làm việc ở cửa hàng, ban đêm dùi mài kinh sử. Nhưng sau đó anh phải bỏ dở chuyện học hành vì tham gia Cuộc khởi nghĩa tháng Một, biểu hiện sự hy sinh xuất phát từ lòng yêu nước nồng nàn của thanh niên Ba Lan thời bấy giờ.


Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa, Vôkulxki bị đày đi Ircuxcơ và ở đó ông tiếp tục học. Khi trở về Ba Lan, vì nghèo túng ông phải cưới một phụ nữ già hơn mình nhiều tuổi. Một thời gian sau, người vợ qua đời, ông tiếp quản cửa hàng và toàn bộ gia tài của vợ. Rồi một lần, khi đi xem nhà hát để giải sầu, ông nhìn thấy tiểu thư Izabela, yêu nàng say đắm từ cái nhìn đầu tiên để từ đó cuộc sống của ông hoàn toàn thay đổi. Vì nàng ông đi Bungari, lợi dụng chiến tranh kiếm tiền, vì nàng ông tìm mọi cách kết thân với giới quý tộc. Ông chịu đựng mọi xúc phạm từ phía tiểu thư Izabela, người con gái có số lần bày tỏ tình cảm gần gũi ông thì ít mà số lần đẩy ông ra xa thì nhiều.


Cũng vì yêu say đắm tiểu thư Izabela mà ông quan tâm đến khoa học tự nhiên, đem lòng mến phục và muốn hiến dâng tài sản của mình cho Ôkhôxki, đem lòng kính phục giáo sư Gâyxtơ, người tìm mọi cách phát minh ra thứ kim loại nhẹ hơn không khí.


Vôkulxki là một thương gia, một ông chủ giỏi, ông có cách sống và làm việc hợp lý, có những dự án mang tính khả thi, biết cách tổ chức công ty buôn bán với nước ngoài. Nhưng tình yêu dành cho tiểu thư Izabela khiến ông chọn cách xử sự mất lý trí, dẫn đến việc toàn bộ tài sản có được nhờ đổi cả tính mạng trong chiến tranh đã tiêu tan chỉ vì một cái gật đầu, liếc mắt của người con gái. Nói như bác sĩ Suman, trong Xtanixlav Vôkulxki tồn tại song song hai con người, một nhà lãng mạn chủ nghĩa những năm 60 và một  nhà thực chứng chủ nghĩa những năm 70 của thế kỷ XIX. Đặc tính lãng mạn được thể hiện qua tình yêu dành cho tiểu thư Izabela, tình yêu điên cuồng, tình yêu mù quáng, sẵn sàng hy sinh tất cả mọi thứ đang có trong tay.


 


Izabela Oenxka


 


Tiểu thư Izabela sống trong một thế giới hoàn toàn khác - thế giới của những đại sảnh mà chủ nhân là những quý ông quý bà giàu có, sang trọng. Tất cả mọi người đều nhất nhất ngưỡng mộ nàng, nhất nhất chiều theo những ý thích đôi khi rất đỏng đảnh của nàng. Nàng sống trong sự bao bọc của mọi người. Đối với nàng, các khái niệm về mùa trong năm hay ngày trong tháng hầu như không tồn tại - nàng không làm bất cứ việc gì, nàng có thể định kế hoạch trong ngày theo sở thích riêng. Nàng biết đến thế giới xung quanh với tư cách là nơi mọi người lao động và đau khổ, nhưng lại coi thế giới như một bức tranh, như một cái gì đó thường tình. Nàng giúp đỡ người nghèo nhưng lại luôn tin tưởng vào tính ngoại lệ của con người mình. Về chuyện hôn nhân, suy nghĩ của nàng chứa đựng đầy chất lý trí. Nàng cho rằng hôn nhân không nhất thiết phải là vấn đề tình yêu mà là vấn đề xuất thân và tài sản.


Đôi khi tiểu thư Izabela thấy chán chuyện chồng con nên xua đuổi tất cả những kẻ ngưỡng mộ mình - trong đó có những người giàu nứt đố đổ vách và những anh chàng đẹp trai không chê vào đâu được. Nhưng sau đó nàng lại hiểu ra rằng cần phải chấp nhận thế giới như nó vốn dĩ là thế nên quyết định sẽ lấy chồng. Chỉ có điều, người định kết duyên cùng nàng phải thỏa mãn ba điều kiện: Là người nàng thích, có xuất thân danh giá và giàu có. Nhưng vì không tìm được một người như vậy, tiểu thư Izabela lần lượt bị những kẻ theo đuổi mình bỏ rơi, để cuối cùng chỉ còn lại hai người, vị công chức quyền uy và ngài nam tước - những kẻ giàu có nhưng già cả, xấu xí và đáng ghê tởm.


Tiểu thư Izabela hiểu rõ những vấn đề tài sản mà cha mình đang phải đối đầu, nhưng nàng không thể vượt qua tính cách cố hữu của mình. Đối với nàng, mẫu người lý tưởng về nam tính chính là bức tượng thần Apollo mà nàng đã mua và gửi gắm không biết bao nhiêu nụ hôn. Có những lúc, khi nàng mơ mộng, thần Apollo đã đến với nàng trong đêm. Nàng cũng tự cho mình là mẫu người lý tưởng, nên những người đàn ông khác có nghĩa vụ thần tượng nàng.


Đã nhiều lần nàng tỏ ra khinh thường cánh đàn ông. Vì vậy nàng đùa cợt với họ, trong lòng nuôi mơ ước về sự tồn tại song song bên mình một anh chồng giàu có và những người tình đáng yêu. Quả thật chưa bao giờ nàng được ai yêu thương thực sự và bản thân nàng cũng không phải là người đủ khả năng yêu thương người khác. Cuối cùng, cuộc đời nàng đã kết thúc tồi tệ: Tất cả những người từng chạy đua để đến với nàng đều rời bỏ nàng, Vôkulxki đi biệt tăm biệt tích, cha nàng chết trong đau khổ, còn nàng thì phải vào tu viện.


            Thực ra trong Búp bê có thể thấy rõ sự tồn tại hai nàng Izabela, một người hiện lên qua lời kể của tác giả, một người được nhìn nhận theo quan điểm của Vôkulxki. Vì vậy nàng có thể vừa hấp dẫn, vừa không đến nỗi nào về mặt trí tuệ, songvẫn là một cô gái quý tộc học đòi và rỗng tuếch, vô tích sự. Chỉ trong những thời điểm làm chủ được tình cảm của mình, Vôkulxki mới nhìn thấy mặt trái của cái thế giới tiểu thư Izabela đang sống. Nhưng bạn đọc hẳn sẽ cảm nhận con người nàng qua những trang miêu tả của tác giả, người chắc chắn hiểu biết toàn diện hơn và luôn chiếm được lòng tin của độc giả.  


 


Ignacy Giexki


 


Người nhân viên kỳ cựu này sinh ra trong một gia đình không mấy khá giả nhưng giàu truyền thống yêu nước. Lòng yêu nước của cậu bé Ignaxư được ông bố gieo vào đầu và nuôi dưỡng từ những năm tháng tuổi thơ của cậu. Ông bố là người ủng hộ nhiệt thành, tin tưởng tuyệt đối vào lẽ công bằng và sứ mệnh cứu vớt các dân tộc của Napoleon. Khi thành một thiếu niên, Ignaxư được gửi đến cửa hàng của Minxen học việc để trở thành nhân viên bán hàng. Sẵn có năng khiếu và đức tính trung thực, cậu đã nhanh chóng chứng tỏ mình sẽ rất phù hợp với công việc trong tương lai. Cậu cũng coi những người trong gia đình nhà Minxen như người thân của mình.


Nhưng chàng thanh niên Giexki đã không ngần ngại dấn thân khi có cơ hội biến những lý tưởng tuổi trẻthành hành động nênđã cùng Augustơ Katzơ lên đường sang Hungari tham gia cuộc chiến đấu dưới ngọn cờ tự do các dân tộc. Đáng tiếc, cuộc khởi nghĩa không đem lại kết quả mong muốn. Người bạn thân của ông, do không chịu nổi nỗi cay đắng của thất bại, đã tự kết thúcđời mình. Ông Giexki cũng cảm thấy đau đớn trước thất bại này. Hai năm liền ông lưu lạc trên khắp châu Âu, cho mãi đến khi định vượt biên thì bị bắt giữ vàtống giam. May mà chỉ một năm sau ông được thả, trở về với công việc ở cửa hàng nhà Minxen.


Ông Ignaxư sống rất giản dị. Ông cũng kiên trì cuộc sống bình lặng của người đàn ông không vợ không con, chỉ một lòng một dạ vì cửa hàng. Ông ở trong một phòng nhỏ chung tường với cửa hàng, nhờ thế có thể quán xuyến mọi việc ở đây. Hàng ngày ông đến cửa hàng đầu tiên và là người cuối cùng rời khỏi. Ông không bao giờ kêu ca phàn nàn về nỗi đơn điệu trong cuộc sống mặc dù hầu như tất cả các ngày tháng trong đời ông đều giống hệt nhau. Trong tiểu thuyết Búp bê ông còn giữ vai trò người kể chuyện thứ hai, sau tác giả. Nhờ những trang nhật ký của ông, chúng ta biết được quá khứ của Xtanixlav Vôkulxki, nhân vật chính của tác phẩm này. Suốt thời gian dài, chính ông là người chèo lái cửa hàng, vì Vôkulxki còn bận tìm cách chiếm lấy trái tim đã trở nên lạnh giá của tiểu thư Izabela Oenxka. Nhưng rồi tất cả những hy sinh của ông Giexki không được đền đáp. Ông chết mà không nhìn thấy điều mình mong ước là cậu bạn thân Xtanixlav của ông sẽ sống bên cạnh người phụ nữ ông yêu quý và muốn vun đắp hạnh phúc cho cậu ta, không đợi được đến ngày một người thuộc dòng họ Napoleon trở thành lãnh tụ thế giới.


Ông Giexki như người của thế giới khác, bởi quan điểm của ông không phù hợp với thời đại mới. Bản thân ông cũng không làm gì đểthích nghi với một hoàn cảnh đã có rất nhiều thay đổi. Bảo thủ trong những quan điểm chính trị của mình, ông luôn hy vọng vào một ngày kia, khi có một Napoleon mới xuất hiện, và ông luôn nhìn thấy khả năng giành lại độc lập cho đất nước bằng đấu tranh vũ trang. Đắm mình quá lâu trong thế giới quan của quá khứ, thần tượng những lý tưởng xưa cũ, thậm chí những lý tưởng bị các nhà thực chứng phê phán kịch liệt, chẳng hạn như thông qua đấu tranh vũ trang giành độc lập, ông Giexki bị những người xung quanh coi là lập dị, bảo thủ, lỗi thời. Thêm vào đó là lối sống của ông, lối sống mà cả thế giới chỉ gói gọn trong cái cửa hàng và những vấn đề liên quan đến một người -Xtanixlav yêu quý của ông.


Ông Giexki là người lập dị, song thói lập dị của ông chẳng làm hại ai. Nhưng quả thật, ông đơn độc trong quan điểm của mình. Ông là người đại diện cuối cùng trong mắt xích của các nhà lãng mạn chủ nghĩa, cũng là người cuối cùng thuộc nhóm những người bán hàng giỏi giang, chuyên nghiệp và trung thực. Nhân vật Giexki có thể chiếm được cảm tình của bạn đọc các thế hệ. Người ta có thể ghen với Vokulxki khi ông có một người bạn rất mực thủy chung nhường ấy.


 


Lời kết


 


Tính đến năm 2010 là vừa tròn 110 năm tiểu thuyết Búp bê được in thành sách. Trong văn học bất cứ dân tộc nào nói riêng và văn học thế giới nói chung, đã và đang tồn tại điều bí ẩn lớn là có những cuốn tiểu thuyết, mặc dù sau khi in đã gây được tiếng vang không nhỏ, đã mang lại cho tác giả của nó vầng hào quang không đến nỗi nào, nhưng rồi sau đó lại bị lãng quên. Ngược lại, có những cuốn được thời gian nâng niu, gìn giữ, dành cho vị trí cao bất di bất dịch, không bị cũ, không bị bào mòn. Nếu như con ngườikhông cưỡng lại được thời gian thì văn học không hoàn toàn như vậy. Búp bê là một trong những tác phẩm văn học thuộc loại thời gian phải chịu thua. Làm nên giá trị bền vững của nó là những yếu tố mà chỉ các kiệt tác văn học mới có. Tác phẩm này một mặt kể về một giai đoạn cụ thể cuối thế kỷ XIX, rất đặc biệt, rất có tính lịch sử và kể những câu chuyện gắn liền với những con người sống thời ấy. Đối với thế hệ bạn đọc sau này, nó nói về chuyện đã quanhưng vì là tiểu thuyết nên cuốn sách gồm những trải nghiệm nội tâm chứ không phải là những ghi chép sự kiện. Song không chỉ dừng lại ở đó, Búp bê đề cập đến những sự thật rất cơ bản mang tính tâm lý học, tức là những vấn đề nếu cũ đi thì cũng cũ đi rất chậm so với thế giới bên ngoài. Cho nên có thể nói những gì B. Prus miêu tả hơn 100 năm trước, ngày nay vẫn còn rất thời sự. Có ý kiến cho rằng tất cả những gì là cơ bản được nói đến trong Búp bê đều có thể diễn ra ngay bây giờ, tại thời điểm này. Vôkulxki có thể đi kiếm tiền ở Đức rồi mang về Ba Lan, để ngồi nhớ nhung Izabela - cô con gái xinh đẹp và có học thức của ngài Oenxki, đại sứ Ba Lan tại Đức mà ông đã có dịp làm quen. Khái niệm  “tiểu thuyết hiện đại”chỉ mang tính ước lệ, còn về cơ bản, cái làm nên giá trị bền vững của nó chính là việc xây dựng nên một nhân vật - cá nhân không phụ thuộc vào lịch sử. Vôkulxki là con người hiện đại, tức là con người vĩnh cửu.


Sức hấp dẫn của tiểu thuyết Búp bê đối với các thế hệ bạn đọc sau này có thể có nguồn gốc ở đề tài và nhân vật. Đề tài của tác phẩm là chạy theo những ước mơ, là miêu tả tỉ mỉ những sức mạnh có thể giúp con người tiến lên phía trước, buộc con người đặt ra cho mình những nhiệm vụ, những mục tiêu và hiện thực hóa mục tiêu. Nhờ sự chuyển động lên phía trước đó, con người phát hiện ra ở mình những khả năng mới. Nhân vật chính ở đây là con người phức tạp, con người nhiều chiều, nhiều kích cỡ, đôi khi tự mâu thuẫn với chính mình. Nhưng một nhân vật như vậy mới giúp độc giả soi lại mình, nhận dạng mình. Về nghệ thuật, có thể nói thêm chính cảm giác về sự gián đoạn, không liên tục của các sự kiện diễn ra theo thời gian lại là thứ gây hấp dẫn cho người đọc.


Ở Varsava, tại số 7 phố Ngoại vi Krakov có tấm biển với dòng chữ:  Nơi đây ông Ignaxư Giexki, nhân vật tiểu thuyết do Boleslav Prus xây dựng trong tác phẩm Búp bê, nguyên sĩ quan lục quân Hungari, tham gia chiến dịch năm 1848, thương nhân, tác giả Nhật ký nổi tiếng, đã sống và mất năm 1879”.


Trong tiểu thuyết Búp bê có chi tiết Xtanixlav Vôkulxki trong chuyến đi từ Varsava đến Krakov, sau khi chứng kiến cảnh tiểu thư Izabela công khai xúc phạm mình bằng cách cợt nhả với Xtarxki trên tàu, đã xuống tàu ở nhà ga Xkiernievixe và gục xuống đường ray chờ tàu đi ngang qua để tự tử. Nhưng ông đã được người anh của Vưxôxki cứu sống.


Chính quyền thành phố Xkiernievixe đã nghĩ đến chuyện tận dụng chi tiết này để quảng bá thành phố của mình với khách thập phương bằng cách dựng tượng Vôkulxki ngay trước cửa ga. Hiện nay mẫu tượng đã hoàn thành và đang được trưng bày để lấy ý kiến nhân dân. Nếu được ủng hộ, theo kế hoạch của thành phố, lễ khánh thành tượng Xtanixlav Vôkulxki sẽ được tổ chức vào ngày 9 tháng 10 năm 2010. Cũng tại thành phố Xkiernievixe này, từ mấy chục năm nay, trường Trung học mang tên B. Prus có ngày hội của riêng mình. Như thế đủ biết tác giả, tác phẩm và nhân vật tiểu thuyết có sức sống mãnh liệt như thế nào trong lòng người đọc.


Dịch Búp bê ra tiếng Việt và giới thiệu cuốn tiểu thuyết được coi là kiệt tác này của văn học Ba Lan với bạn đọc Việt Nam chắc chắn không phải là việc làm mang tính ngẫu nhiên. 


Poznan, những ngày đầu tháng 4 năm 2010


Nguyễn Chí Thuật


Giáo sư. Giảng dạy tại Adam Mickiewicz University in Poznan, Ba Lan.


www.trieuxuan.info


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Thành phố lên đèn”, niềm thơ thắp sáng trong đêm - Nguyễn Đình Phúc 11.12.2017
Sao lại nói chữ quốc ngữ Việt Nam "rất nực cười"? - Nguyễn Hải Hoành 11.12.2017
Đọc lại bản dịch nổi tiếng Chinh Phụ Ngâm - Vương Trọng 03.12.2017
Thế giới “con rối” trong thơ Nguyễn Đức Tùng - Mai Văn Phấn 25.11.2017
Nguyễn Quang Thiều với "Câu hỏi trước dòng sông" - Tâm Anh 25.11.2017
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
xem thêm »