tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20554014
Lý luận phê bình văn học
01.09.2017
Nguyễn Thọ Đức
Về Nho giáo và khoa học (1)



(Luận về tư tưởng “khoa học” Nho giáo và chủ trương kết hợp Nho giáo với khoa học hiện đại của Trần Trọng Kim trong Nho giáo)


Phong trào chấn hưng và hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo ở Trung Quốc khởi phát từ những năm đầu thập niên ba mươi thế kỉ XX, phát triển mạnh mẽ và liên tục thành một dòng tư tưởng lớn trong lịch sử tư tưởng hiện đại Trung Quốc – trào lưu Tân Nho học hiện đại Trung Quốc. Ở Việt Nam, hoạt động chấn hưng Nho giáo cũng diễn ra khá rầm rộ vào thập niên ba mươi, bốn mươi thế kỉ XX. Nho giáo của Trần Trọng Kim là một trong những trước tác tiêu biểu của hoạt động chấn hưng Nho giáo giai đoạn này. Đặt vấn đề tìm hiểu tư tưởng “khoa học” Nho giáo và chủ trương kết hợp Nho giáo với khoa học hiện đại/phương thức hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo về mặt khoa học của Trần Trọng Kim trong Nho giáo, công việc cụ thể bài viết triển khai là : phác thảo những nội dung và quan điểm cơ bản của Trần Trọng Kim về mầm mống tư tưởng “khoa học” Nho giáo và chủ trương kết hợp Nho giáo với khoa học hiện đại trong Nho giáo, trên cơ sở đó bài viết đưa ra một vài đánh giá ưu nhược điểm của Trần Trọng Kim về vấn đề này. Ngoài ra, bài viết bước đầu đặt Nho giáo vào bối cảnh vận động và phát triển chung của Nho giáo khu vực đầu thế kỉ XX, sơ bộ tìm hiểu những điểm chung và khác biệt trong nội dung và thao tác hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo về mặt khoa học giữa Trần Trọng Kim với Tân Nho gia hiện đại Trung Quốc.


I. Mở đầu:


“Dân chủ” và “khoa học” là sản phẩm vĩ đại của lịch sử nhân loại, cũng là những nhân tố làm nên sự cường thịnh và ưu việt (so với phương Đông) của các quốc gia phương Tây thời cận hiện đại. Nó trở thành biểu tượng của văn hóa phương Tây, và là mục tiêu hướng tới của các quốc gia phương Đông. “Dân chủ” và “khoa học” trở thành tiêu chí chung thể hiện trình độ văn minh của một quốc gia hiện đại, và là nội dung chủ yếu của “hiện đại hóa”.


Thất bại thảm hại trước sức mạnh quân sự của các nước đế quốc phương Tây cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, là cái giá đắt phải trả để tầng lớp trí thức Trung Quốc và Việt Nam dần tỉnh ngộ và nhận thức ra rằng : “thể chế chính trị dân chủ” và “nền khoa học kĩ thuật hiện đại” – sản phẩm đặc hữu của văn hóa phương Tây chính là nhân tố đem lại sức mạnh cho các nước đế quốc phương Tây. Sự cường thịnh và hùng mạnh của các nước phương Tây được quyết định bởi hai nhân tố này. Đây cũng là điểm khiếm khuyết ở các quốc gia chuyên chế Nho giáo Đông Á. Bởi vậy, nếu muốn đất nước tránh được họa diệt vong, giải phóng dân tộc khỏi xiềng xích nô lệ thực dân, đưa đất nước phát triển giàu mạnh, đủ sức đương đầu với các cường quốc phương Tây, các quốc gia Đông Á buộc phải học tập khoa học kĩ thuật và xây dựng thể chế chính trị dân chủ theo mô hình phương Tây để “hiện đại hóa” đất nước. Vì thế, “hiện đại hóa” trở thành xu hướng tất yếu, là yêu cầu bức thiết mang tính thời đại, nó quán xuyến trong nhận thức và mục tiêu của giới tư tưởng hiện đại Trung Quốc và Việt Nam.


Cũng cần hiểu nội hàm “hiện đại hóa” trong quan niệm của giới tư tưởng hiện đại Trung Quốc và Việt Nam không đơn thuần chỉ là hiện đại hóa về mặt vật chất, mà nó luôn bao hàm hai tầng ý nghĩa song trùng. Công cuộc hiện đại hóa về mặt chính thể dân chủ và tri thức khoa học (vật chất) phải luôn song hành với tiến trình hiện đại hóa về mặt văn hóa – xây dựng một nền văn hóa mới (tinh thần). Do vậy, nội dung cụ thể của “hiện đại hóa” là phấn đấu xây dựng thể chế chính trị dân chủ theo mô hình các quốc gia phương Tây, học tập tri thức khoa học kĩ thuật hiện đại của họ, và kiến tạo một diện  mạo văn hóa mới.


Khác với chủ trương hiện đại hóa của những người theo Chủ nghĩa tự do (Phái Tây hóa) và Chủ nghĩa Mác ở Trung Quốc và Việt Nam đầu thế kỉ XX cho rằng, văn hóa Nho giáo truyền thống là căn nguyên gây ra sự lạc hậu và yếu hèn của Trung Quốc và Việt Nam, tàn dư của Nho giáo vẫn đang cản trở tiến trình hiện đại hóa của Trung Quốc và Việt Nam. Do vậy, muốn “hiện đại hóa” thành công, muốn đi theo con đường văn minh công nghiệp phương Tây - xây dựng chính thể dân chủ, tiếp thu khoa học hiện đại và kiến tạo nền văn hóa mới theo mô hình phương Tây, thì tiền đề của nó là phải đoạn tuyệt với văn hóa Nho giáo truyền thống. Tân Nho gia hiện đại Trung Quốc và những người theo Khuynh hướng khẳng định và chấn hưng Nho giáo ở Việt Nam (chúng tôi tạm gọi là “khuynh hướng truyền thống”) lại cho rằng, “hiện đại hóa” không có nghĩa là “Tây hóa hoàn toàn”, càng không phải là đoạn tuyệt với văn hóa Nho giáo truyền thống. Công cuộc hiện đại hóa đất nước phải gắn liền với tiến trình hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo, và phải được tiến hành trên nền tảng tư tưởng Nho giáo. Theo họ, hiện đại đất nước với mục tiêu phú quốc cường binh là kết quả trực tiếp của tiến trình hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo, vì hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo về bản chất là điều chỉnh và kiến tạo lại hệ tư tưởng Nho giáo, khiến Nho giáo có thể thích ứng và tiếp nhận thành tựu “khoa học” và “dân chủ” phương Tây. Nói cách khác, hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo là lấy Nho giáo làm nền tảng để tiếp nhận và dung nạp các yếu tố “dân chủ”, “khoa học” phương Tây, nhằm xây dựng một đất nước cường thịnh với thể chế chính trị dân chủ, nền khoa học hiện đại và một diện mạo văn hóa mới – văn hóa Nho giáo hiện đại. Và như vậy, mô thức hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo cũng chính là phương thức cụ thể hóa mục tiêu hiện đại hóa đất nước. Với ý nghĩa đó, “dân chủ” và “khoa học” trở thành điều kiện tồn tại sống còn của Nho giáo trong xã hội hiện đại, cũng là một trong những nội dung chủ yếu của tiến trình hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo. Lí luận hiện đại hóa theo mô hình này được Tân Nho gia hiện đại Trung Quốc và giới nghiên cứu khái quát thành con đường “văn minh công nghiệp phương Đông”/Chủ nghĩa Tư bản Nho giáo. Mô hình cụ thể của nó là : Nho giáo + “dân chủ” và “khoa học”[2].


Đầu thế kỉ XX, khi nhà nước chuyên chế Nho giáo sụp đổ, chế độ khoa cử giải thể, Nho giáo rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Cùng với quá trình xâm nhập mạnh mẽ của văn hoá phương Tây, là phong trào phê phán Nho giáo rầm rộ và gay gắt của những người theo Khuynh hướng phản truyền thống ở Trung Quốc và Việt Nam. Thực tế đó đã đẩy Nho giáo tới bờ vực của sự tồn vong. Để chấn hưng và khôi phục Nho giáo, khiến Nho giáo có thể thích ứng và tiếp tục tồn tại trong xã hội hiện đại, dù muốn hay không, một cách bắt buộc, Tân Nho gia hiện đại Trung Quốc và những người theo “Khuynh hướng truyền thống” ở Việt Nam đều phải tìm cơ sở tồn tại mới cho Nho giáo bằng cách hiện đại hoá tư tưởng Nho giáo.


Phong trào chấn hưng và hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo ở Trung Quốc bắt đầu từ những năm đầu thập niên ba mươi thế kỉ XX, phát triển mạnh mẽ và liên tục thành một dòng tư tưởng lớn trong lịch sử tư tưởng hiện đại Trung Quốc – trào lưu Tân Nho học hiện đại. Thập niên ba mươi, bốn mươi, ở Việt Nam cũng diễn ra hoạt động chấn hưng Nho giáo khá rầm rộ với những đại biểu theo “Khuynh hướng truyền thống”. Nho giáo của Trần Trọng Kim là một trong những trước tác tiêu biểu của hoạt động chấn hưng Nho giáo giai đoạn này, thể hiện khá rõ xu hướng hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo.


Nho giáo là một tác phẩm khá đồ sộ trình bày về lịch sử Nho giáo Trung Quốc và một phần sơ lược về lịch sử Nho giáo Việt Nam. Nho giáo thể hiện khá rõ xu hướng hiện đại hoá tư tưởng Nho giáo của Trần Trọng Kim từ nhiều phương diện, như : mục đích biên soạn sách “Nho giáo”; phê phán Nho giáo truyền thống; giải thích lại tư tưởng triết học Khổng tử; luận bàn về trực giác, lý trí và phương pháp triết học Nho giáo; xác lập lại phả hệ truyền thừa đạo thống Nho giáo; hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo về mặt dân chủ và khoa học; xác lập mô thức văn hóa Việt Nam tương lai…. Việc tìm hiểu, nghiên cứu và lí giải tường tận nội dung tư tưởng của Nho giáo, đòi hỏi một công trình quy mô lớn. Trong bài viết nhỏ này, chúng tôi tự giới hạn công việc của mình là tìm hiểu tư tưởng “khoa học” Nho giáo và chủ trương kết hợp Nho giáo với khoa học hiện đại của Trần Trọng Kim trong Nho giáo, tức tìm hiểu một khâu của tiến trình hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo của Trần Trọng Kim trong Nho giáo – khâu hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo về mặt khoa học. Công việc cụ thể là : trên cơ sở phác thảo những nội dung và quan điểm cơ bản về mầm mống tư tưởng “khoa học” Nho giáo và chủ trương kết hợp Nho giáo với khoa học hiện đại/phương thức hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo về mặt khoa học trong Nho giáo của Trần Trọng Kim, bài viết đưa ra đánh giá ưu nhược điểm về cách nhìn của Trần Trọng Kim về vấn đề này. Ngoài ra, bài viết cũng thử đặt khâu hiện đại hoá tư tưởng Nho giáo về mặt “khoa học” của Trần Trọng Kim vào bối cảnh vận động và phát triển chung của Nho giáo khu vực, bước đầu tìm hiểu những điểm chung và khác biệt trong nội dung và thao tác hiện đại hoá tư tưởng Nho giáo về mặt “khoa học” giữa Trần Trọng Kim với Tân Nho gia hiện đại Trung Quốc.


II. Chủ trương kết hợp Nho giáo với khoa học hiện đại của Trần Trọng Kim trong Nho giáo


Như trên đã nói, “dân chủ” và “khoa học” là mục tiêu của hiện đại hóa, cũng là điều kiện tồn tại sống còn của Nho giáo trong xã hội hiện đại. Do đó, trong khi tiến hành hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo nhằm tìm kiếm cơ sở tồn tại mới cho Nho giáo, Tân Nho gia hiện đại Trung Quốc và những người theo Khuynh hướng truyền thống ở Việt Nam đều không thể bỏ qua khâu quan trọng này - hiện đại hoá tư tưởng Nho giáo về mặt “dân chủ” và “khoa học”.


Trong tác phẩm Nho giáo, ngoài nỗ lực giải thích, kiến tạo lại và hiện đại hóa một loạt các vấn đề tư tưởng triết học Nho giáo[3], Trần Trọng Kim còn đặc biệt quan tâm đến việc hiện đại hóa nhằm cấy ghép cho học thuyết Nho giáo tư tưởng “dân chủ” và “khoa học”. Nội dung cụ thể của công việc này là tập trung luận giải tư tưởng “dân chủ” vốn hàm chứa trong học thuyết Nho giáo, đồng thời so sánh và chỉ ra ưu nhược điểm giữa tư tưởng “dân chủ” Nho giáo với thể chế chính trị dân chủ phương Tây hiện đại. Bên cạnh đó, Trần Trọng Kim cũng trình bày về mầm mống tư tưởng “khoa học” trong học thuyết Nho giáo, và biện luận về mối quan hệ và khả năng kết hợp, dung hoà giữa Nho giáo với khoa học hiện đại phương Tây.


Vấn đề khó khăn ở chỗ, vào thời điểm đầu thế kỉ XX, trong khi những người theo Khuynh hướng Phản truyền thống ở Trung Quốc và Việt Nam đương thời phê phán gay gắt Nho giáo là cổ hủ lạc hậu, là thứ lễ giáo ăn thịt người. Nho giáo không những khiếm khuyết tư tưởng “dân chủ” và “khoa học”, mà còn mâu thuẫn với “dân chủ” và “khoa học” như nước với lửa. Nho giáo là rào cản ngăn trở sự phát triển và công cuộc hiện đại hóa đất nước, cản trở việc học tập khoa học kĩ thuật và xây dựng thể chế chính trị dân chủ theo mô hình phương Tây hiện đại. Trong mắt những người Phản truyền thống, hiện đại hóa đất nước tất yếu phải gạt bỏ và đoạn tuyệt với Nho giáo truyền thống. Vậy thì, chủ trương kết hợp và dung hòa Nho giáo với “dân chủ” và “khoa học” hiện đại phương Tây của Tân Nho gia hiện đại Trung Quốc và những người theo Khuynh hướng truyền thống ở Việt Nam như Trần Trọng Kim, liệu có phải là cách làm thỏa đáng và khả thi? Trong bối cảnh đó, để có câu trả lời khẳng định, Tân Nho gia hiện đại Trung Quốc và những người theo Khuynh hướng truyền thống ở Việt Nam buộc phải chứng minh được rằng, tuy không thành tựu thể chế chính trị “dân chủ” và nền “khoa học” hiện đại như phương Tây, nhưng Nho giáo vốn hàm chứa mầm mống tư tưởng “dân chủ” và “khoa học”, hoặc chí ít, nếu không có mầm mống thì Nho giáo cũng không mâu thuẫn, xung khắc với những tư tưởng này. Chỉ như vậy, mới có thể tạo điều kiện và cơ sở cho Nho giáo có thể tiếp nhận, dung nạp, kết hợp và dung hoà với “dân chủ” và “khoa học” một cách thuận lợi. Không chứng minh được điều này, đồng nghĩa với việc Nho giáo không còn lí do tồn tại. Đây là điểm mấu chốt buộc các nhà nho hiện đại phải cải tạo, giải thích lại và hiện đại hóa tư tưởng Nho giáo, khiến Nho giáo có thể thích ứng và dung hòa với thể chế chính trị “dân chủ” và nền “khoa học” kĩ thuật phương Tây hiện đại. Ý thức được sự sống còn của Nho giáo phụ thuộc vào việc nghiên cứu mang tính đột phá về tư tưởng, hi vọng bằng sự cố gắng của mình có thể chấn hưng Nho giáo, Trần Trọng Kim đã cố gắng giải thích lại và làm mới tư tưởng Nho giáo theo hướng hiện đại hóa, nhằm chứng minh học thuyết Nho giáo vốn hàm chứa tư tưởng “dân chủ” và “khoa học”. Từ đó khẳng định Nho giáo không những không đối lập, xung khắc với tư tưởng “dân chủ” và “khoa học” phương Tây hiện đại, mà còn bao hàm nhiều tư tưởng “dân chủ” và “khoa học”, thậm chí ở một số điểm nhất định, tư tưởng “dân chủ” và “khoa học” Nho giáo còn ưu việt hơn thể chế chính trị dân chủ và khoa học hiện đại phương Tây[4].


1.Mầm mống tư tưởng “khoa học” Nho giáo và chủ trương kết hợp Nho giáo với khoa học hiện đạiphương Tây


Trong tác phẩmNho giáo, Trần Trọng Kim đã xác lập mô thức văn hóa Việt Nam tương lai là : kết hợp Nho giáo với khoa học hiện đại phương Tây làm phương thức cụ thể hóa tiến trình hiện đại hóa đất nước. Trong đó ông khẳng định tư tưởng Nho giáo truyền thống sẽ đóng vai trò cơ sở nền tảng, là kim chỉ nam dẫn dắt tiến trình hiện đại hóa đất nước[5].


Trần Trọng Kim cho rằng, mô thức văn hóa này là lựa chọn ưu việt nhất cho văn hóa Việt Nam tương lai – mô thức văn hóa kết hợp Đông Tây hài hòa, vừa giữ được giá trị luân lí đạo đức Nho giáo truyền thống, vừa tiếp thu được nền khoa học kĩ thuật hiện đại phương Tây. Trong mô thức văn hóa này, Nho giáo có vai trò đặc biệt quan trọng, nó vừa là hạt nhân của văn hóa Việt Nam tương lai, cũng là nhân tố dẫn dắt và kiến tạo tiến trình hiện đại hóa đất nước. Trần Trọng Kim tin rằng, tiến trình hiện đại hóa đất nước dưới sự dẫn dắt của tư tưởng luân lí đạo đức Nho giáo một mặt giúp tiến trình hiện đại hóa của Việt Nam giành được thành tựu khoa học công nghệ hiện đại phương Tây, mặt khác cũng giúp Việt Nam tránh được hậu quả nghiêm trọngvề kinh tế, xã hội, văn hóa mà xã hội phương Tây đang phải đối mặt đương thời. Đó là những cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa tàn khốc, cuộc sống vật chất thô thiển xô bồ, chủ nghĩa cá nhân tự do vỏ ốc và sự băng hoại giá trị đạo đức luân lí.... Theo Trần Trọng Kim, so với chủ trương hiện đại hóa đất nước bằng phương thức “Tây hóa hoàn toàn” theo kiểu “di thực, lai căng, mất gốc” của những người theo Khuynh hướng phản truyền thống Việt Nam đương thời, thì ưu điểm của mô thức văn hóa ông xác lập là vừa giúp Việt Nam có thể hiện đại hóa đất nước thành công, đạt mục tiêu phú quốc cường binh, vươn lên ngang bằng với các cường quốc phương Tây, vừa giữ được giá trị luân lí đạo đức Nho giáo truyền thống. Trần Trọng Kim cũng hi vọng thông qua thực hiện tiến trình hiện đại hóa đất nước theo mô thức văn hóa kết hợp Nho giáo với khoa học hiện đại phương Tây có thể khôi phục và chấn hưng đạo thánh Nho giáo. Một khi đạo thánh Nho giáo được chấn hưng và sáng tỏ trở lại, Nho giáo không chỉ khuôn hẹp phạm vi ảnh hưởng là dẫn dắt, kiến tạo và giúp tiến trình hiện đại hóa của Việt Nam đạt được thành tựu tốt đẹp, mà còn góp phần soi sáng “thế đạo, nhân tâm” cho cả nhân loại đang phải sống trong cảnh hôn ám, “vô đạo” đương thời, ông viết : “mong rằng ta giữ được cái nền đạo đức cũ mà tham chước với sự sinh hoạt đương thời, để cho tâm với trí cùng tiến hóa, cùng điều hòa được với nhau, thì có lẽ cái đạo của thánh hiền cũng có thể sáng rõ ra được, và nhân loại không đến nỗi lờ mờ như người đi đêm vậy”[6]. Điều đó cho thấy, sở dĩ Trần Trọng Kim lựa chọn Nho giáo làm hạt nhân của tiến trình hiện đại hóa, vì theo ông tuy xã hội phương Tây phát triển rực rỡ về khoa học và vật chất, nhưng do họ quá thiên về vật chất, xem thường và lãng quên luân lí đạo đức, đã tạo ra sự mất cân bằng trong xã hội, và hậu quả khiến cho xã hội phương Tây chao đảo băng hoại. Ưu điểm của mô thức văn hóa kết hợp Nho giáo với khoa học phương Tây hiện đại của Trần Trọng Kim là giúp Việt Nam tránh được những hậu quả mà xã hội phương Tây đang phải đối mặt đương thời trong tiến trình hiện đại hóa. Đó là lí do căn bản khiến Trần Trọng Kim lựa chọn mô thức này làm phương thức cụ thể hóa tiến trình hiện đại hóa cho Việt Nam. Mô thức văn hóa này cũng chính làmục tiêu và lí tưởng Trần Trọng Kim hướng tới trong tác phẩm Nho giáo. Với Trần Trọng Kim, mô thức này không chỉ là sự lựa chọn ưu việt cho Việt Nam tương lai, mà còn cho thế giới tương lai.


Vấn đề cần bàn ở đây là, học thuyết Nho giáo truyền thống vốn coi trọng đạo đức hơn tri thức khoa học, xem trọng kinh nghiệm chủ quan, coi nhẹ tri thức khoa học thực nghiệm khách quan. Nho giáo quan tâm hàng đầu là công việc tu dưỡng đạo đức của cá nhân, Nho giáo luôn soi xét xem con người cá nhân tu dưỡng đạo đức như thế nào, chứ không xem họ tiếp cận giới tự nhiên hay nghiên cứu khoa học thực nghiệm ra sao. Đạo đức luôn chiếm địa vị chủ đạo, tri thức khoa học chỉ là thứ yếu. Thước đo giá trị con người cá nhân là thành tích tu dưỡng đạo đức, không phải thành tựu tri thức khoa học. Với quan niệm và hệ giá trị truyền thống như thế, mô thức văn hóa Việt Nam tương lai Trần Trọng Kim xác lập nói trên, không khỏi khiến những người theo Khuynh hướng phản truyền thống chủ trương hiện đại hóa theo hướng “Tây hóa” Việt Nam đương thời tỏ ra hoài nghi về khả năng kết hợp, dung hòa Nho giáo với khoa học, bởi trong mắt họ, Nho giáo bị xem là tư tưởng cổ hủ lạc hậu, cản trở sự phát triển và tiến trình hiện đại hóa đất nước, Nho giáo vốn xung khắc với khoa học như nước với lửa. Khoa học với tư cách là một trong những thành tựu nổi bật của văn hóa phương Tây - nhân tố làm nên sự cường thịnh của các quốc gia phương Tây thời cận hiện đại - tiêu chí thể hiện trình độ văn minh của mỗi quốc gia thời hiện đại, quyết không thể kết hợp và dung hòa với Nho giáo. Bởi thế, mô thức văn hóa Việt Nam tương lai của Trần Trọng Kim phải đối mặt với một loạt câu hỏi như : Nho giáo có mầm mống tư tưởng khoa học? Nếu Nho giáo không có mầm mống tư tưởng khoa học, thì Nho giáo có mâu thuẫn, xung đột với khoa học không, có thể kết hợp Nho giáo với khoa học không? Nếu Nho giáo có mầm mốngtư tưởngkhoa học, tư tưởng khoa học vốn hàm chứa trong học thuyết Nhogiáo có tương thích với khoa học hiện đạiphương Tâykhông, có thể kết hợp chúng với nhau không, nếu có thể kết hợp thì phải kết hợp theo nguyên tắc nào? Việc kết hợp này có trái nguyên tắc của Nho giáo…?  Ý thức được khó khăn, thách thức và những vấn đề cần giải đáp này, bên cạnh việc xác lập mô thức văn hóa Việt Nam tương lai và những thuyết minh ưu điểm, hiệu quả của mô thức này sẽ mang lại cho Việt Nam trong tiến trình hiện đại hóa, Trần Trọng Kim cũng đặc biệt lưu ý luận giải về mầm mống tư tưởng “khoa học” trong học thuyết Nho giáo, khẳng định Nho giáo có mầm mống tư tưởng “khoa học”, Nho giáo không mâu thuẫn, xung đột với khoa học, trên cơ sở đó ông chủ trương kết hợp, dung hòa Nho giáo với khoa học hiện đại phương Tây.


 Về mầm mống tư tưởng “khoa học” Nho giáo, khả năng kết hợp, dung hòa Nho giáo với khoa học hiện đại phương Tây, Trần Trọng Kim cho rằng, Nho giáo tuy coi trọng tu dưỡng đạo đức cá nhân, luôn đòi hỏi con người phải chính tâm, tu thân, nhưng không vì thế Nho giáo xem thường tri thức khoa học tự nhiên và thực nghiệm, bởi bên cạnh coi trọng tu dưỡng đạo đức, Nho giáo vẫn lấy “cách vật, trí tri” làm cốt yếu. Quan niệm “cách vật, trí tri” của Nho giáo không những không trái, mà còn rất gần, thậm chí mang ý nghĩa khoa học hiện đại. Đây là cơ sở Trần Trọng Kim dựa vào để khẳng định Nho giáo có mầm mống tư tưởng khoa học, không trái khoa học, và chủ trương kết hợp, dung hòa Nho giáo với khoa học hiện đại. Trần Trọng Kim cũng khẳng định chủ trương kết hợp Nho giáo với khoa học phương Tây hiện đại ông đề xướng, không phải do ông thiên ái với Nho giáo, muốn chấn hưng và khôi phục Nho giáo nên đề xướng như vậy, mà chủ trương này xuất phát từ chính tôn chỉ của Nho giáo :


 “Nho giáo trọng sự chính tâm, tu thân, nhưng vẫn lấy điều trí tri, cách vật làm cốt yếu. Vậy đem Nho giáo mà dung hợp với khoa học ngày nay, tưởng cũng không phải là trái với tông chỉ của Khổng Mạnh, phải tùy thời mà biến đổi. Miễn là lúc nào cũng giữ lấy nhân nghĩa làm gốc, thì càng thay đổi bao nhiêu lại càng thích hợp với cái chủ nghĩa của Nho giáo bấy nhiêu”[7].


Theo Trần Trọng Kim, người học Nho giáo phải hiểu cái học Nho giáo không phải cái học cứng nhắc giáo điều, mà là cái học “phải theo thời mà biến đổi cho hợp thời”[8], do vậy kết hợp, dung hòa Nho giáo với khoa học hiện đại phương Tây là hợp thời thế, và hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc “tùy thời biến dịch” trong tư tưởng Khổng Mạnh. Có nghĩa, theo ông Nho giáo không đối lập, xung khắc với khoa học, hoàn toàn có thể kết hợp chúng với nhau, và việc kết hợp này phù hợp với nguyên tắc “tùy thời biến dịch” của Nho giáo. Nhưng kết hợp Nho giáo với khoa học như thế nào và theo nguyên tắc nào? Trần Trọng Kim giải đáp vấn đề này bằng cách cụ thể hóa chủ trương kết hợp Nho giáo với khoa học hiện đại phương Tây thành sựkết hợp giữa giáo dục “đức dục” Nho giáo truyền thống với giáo dục “trí dục” hiện đại phương Tây, tạo nên mô thức giáo dục Việt Nam hiện đại.


Trần Trọng Kim cho rằng, Nho giáo quan niệm tính bản nhiên chí thiện của con người là do Trời phú, ai sinh ra cũng bẩm thụ được đầu mối Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí (“tứ đoan” : trắc ẩn, tu ố, từ nhượng, thị phi). Người ta sở dĩ làm điều ác là do bị tư tâm, tư dục che lấp, do đó Nho giáo chủ trương giáo dục con người nuôi dưỡng mầm thiện, chế tài điều ác. Trọng tâm giáo dục của Nho giáo là đào luyện ra những người lương thiện, có tâm, có đức, có khí tiết, có nhân phẩm cao thượng, trung nghĩa, hiếu liêm, tu đức luyện tài để trở thành bậc chính nhân quân tử, để kinh bang tế thế, phục vụ công việc chính trị của đất nước. Và để có được những bậc chính nhân quân tử, Nho giáo phải xây dựng nền “đức dục” vững vàng, để giáo dục bồi tài đạo đức và nhân cách cho họ. Trần Trọng Kim nhấn mạnh, sở dĩ Nho giáo coi trọng giáo dục “đức dục” là vì, với Nho giáo công việc giáo dục luôn gắn bó mật thiết với công việc chính trị. Nho giáo chủ trương cai trị nước bằng nền chính trị “đức trị”, cho nên sự thành bại của giáo dục “đức dục” quyết định sự thành bại của công việc cai trị đất nước : “trong một nước mà vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, vợ chồng ra vợ chồng, thì nước trị; trái lại thì nước loạn. Vậy nên Nho giáo nói chính trị là phải nói cả giáo dục. Phàm là người dân đã có giáo dục, thì biết có nghĩa vụ và quyền lợi, biết trọng lễ nghĩa và trật tự. Người làm vua làm quan có giáo dục thì biết rõ cái chức trách của mình, không làm điều tàn ngược”[9]. Với vai trò quan trọng đối với sự thành bại trong chính trị và sự trị loạn của đất nước như thế, nên giáo dục “đức dục” luôn được Nho giáo quan tâm hàng đầu.


Đối tượng của giáo dục “đức dục” là toàn thể dân chúng, trong đó quan trọng nhất là vua và quan, bởi họ là những người quan hệ trực tiếp đến vận mệnh đất nước, sự thịnh suy của dân tộc và sự sướng khổ của dân chúng : “những người ấy (vua quan – NTĐ) mà không có giáo dục, không biết nhân nghĩa lễ trí, thì thành ra một bọn đạo tặc dùng cái cơ thuật gian trá để làm hại thiên hạ”[10]. Người làm vua, làm quan có giáo dục là những bậc hiền nhân quân tử thấu hiểu đạo đức lễ nghĩa, luôn lấy mình làm mẫu để khuôn phép dân chúng đi theo con đường đạo đức luân lí, đưa đất nước đến cảnh thái bình thịnh trị. Còn kẻ làm vua, làm quan mà vô giáo dục thì chỉ là những kẻ hôn quân vô đạo, sớm muộn cũng đưa đất nước và dân chúng tới cảnh lầm than. Điều đó cho thấy sự quan trọng của giáo dục “đức dục” Nho giáo với dân chúng và xã hội. Người dân nhờ giáo dục “đức dục” của Nho giáo mà thấm nhuần luân lí đạo đức, từ đó khuôn phép mình trong phạm vi danh giáo, xa rời sự xảo trá gian tà. Xã hội nhờ sự đào luyện và giáo dục “đức dục” của Nho giáo mà thành một xã hội trật tự lễ nghĩa.


Nho giáo trước nay vẫn “lấy đức dục làm gốc, lấy trí dục làm ngọn”, cho nên Nho giáo thành tựu về luân lí đạo đức, mà thiếu thành tựu về khoa học kĩ thuật, nhưng lẽ nào chỉ vì khuyết điểm đó mà ngày nay chúng ta phủ nhận tác dụng tích cực và vứt bỏ nền giáo dục “đức dục” của Nho giáo? Đã đành trong giáo dục hiện đại ngày nay, chúng ta không thể không coi trọng “trí dục”, học tập khoa học hiện đại phương Tây, đưa đất nước phát triển cường thịnh, nhưng có nên bỏ nền giáo dục “đức dục” Nho giáo? Theo quan điểm của những người phê phán, phỉ báng Nho giáo đương thời thì, thời thế thay đổi, xã hội thay đổi, nền giáo dục Nho giáo cũ kĩ lạc hậu không còn phù hợp với xã hội đương thời, đang cản trở sự phát triển của đất nước, khiến đất nước lạc hậu yếu hèn, vì vậy đương nhiên phải vứt bỏ cái học đạo đức hủ bại Nho giáo, để theo cái học “trí dục” phương Tây. Trần Trọng Kim cho rằng, đó là quan niệm nông nổi sai lầm, chưa ý thức được ý nghĩa, giá trị và tầm quan trọng của cái học “đức dục” Nho giáo. Theo ông, những người tân học không chịu bình tâm suy xét kĩ cái học Nho giáo của mình và cái học phương Tây của người, xem nó hay dở ra sao, để “thủ xả cho chính đáng”. Họ không hiểu cái học cũ – Nho giáo tuy có cái dở nhưng vẫn có cái hay, cái tốt cần kế thừa phát huy; cái học mới – phương Tây tuy có điều hay, nhưng cũng có không ít cái xấu, cái dở cần chắt lọc gạn bỏ. Họ một mực theo thiên kiến chủ quan cá nhân, cái gì mới đều cho là hay, là tốt và đáng học cả, cái gì cũ đều cho là xấu, là dở và đáng bỏ cả. Trước sự thay đổi của thời cuộc, trước sự lớn mạnh và khuynh đảo của thế lực phương Tây, đối mặt với nền văn hóa vật chất phương Tây và sự suy tàn của Nho giáo, họ vội vàng đồng thanh kêu gọi vứt bỏ Nho giáo để theo Tây học. Khi Nho giáo đổ nát, văn hóa phương Tây tràn vào với sự cường thịnh và ưu thế của nó, thì ai nấy (cả nhà nho truyền thống và tri thức Tây học) đều chạy theo học phương Tây cả, không ai chịu suy nghĩ tìm hiểu nguyên do đâu mà Nho giáo vốn xưa hay là thế mà bỗng chốc lại thành ra như vậy : “không xem xét sự kém hèn của mình bởi đâu mà ra, vội vàng bỏ những điều xưa nay mình vẫn tín ngưỡng mà bắt chước cái mới của người ta”[11]. Trần Trọng Kim cho rằng, quan điểm cực đoan này của những người theo khuynh hướng “Tây hóa hoàn toàn” là chủ quan, nông cạn và không có lợi cho Việt Nam, bởi vì “cái tinh thần của Nho giáo vốn có phần rất mĩ mãn, và đã có rễ ăn sâu xa vào não tủy của người mình. Nếu ta không hiểu tinh thần ấy cho đến nơi đến chốn, chưa gì đã vội đem cắt bỏ đi, thì vị tất đã lợi cho tương lai của xã hội mình”[12]. Những người tân học cũng không hiểu sở dĩ Nho giáo suy tàn nhanh chóng, chịu khuất nhục trước văn hóa phương Tây, là vì chúng ta không hiểu và không biết theo đúng tông chỉ của Khổng Mạnh “phải tùy thời mà biến đổi cho hợp lẽ tự nhiên” để kế thừa và phát triển tư tưởng Nho giáo. Những người tân học đã không biết lỗi của mình, còn xu thời nịnh thế, một mực theo Tây học, quay lưng rũ bỏ Nho giáo. Trần Trọng Kim lưu ý họ rằng, ngày nay “giả sử ta biết nhận cái lỗi ấy, rồi tìm cách mà sửa đổi lại cho hợp thời, thì biết đâu sau này Nho giáo dung hòa với khoa học, lại không thành ra cái học có giá trị lắm hay sao?”[13]. Trần Trọng Kim phê bình gay gắt thái độ cuống cuồng học theo phương Tây và vội vàng rũ bỏ Nho giáo của trí thức tân học Việt Nam đương thời, khi họ chưa học được cái mới tốt hơn (văn hóa phương Tây) để thay thế cái cũ (Nho giáo), họ đã vội quay lưng với Nho giáo, thành ra những cái dở của mình không bỏ được, còn cái hay, cái tốt, cái “mĩ mãn” của Nho giáo lại mất đi, khiến cho văn hóa nước ta đã đổ nát, nay lại càng đổ nát hơn. Kết quả là, chúng ta rơi vào trạng thái hoang mang, “ngơ ngác, không biết đi về đường nào cho phải, không biết bấu víu vào đâu để làm cốt về đường lý tưởng”[14]. Theo Trần Trọng Kim, học tập phương Tây phải lấy tinh thần dân tộc - tinh thần Nho giáo của mình làm cốt lõi, chỉ học thêm cái hay của người để bồi bổ cho tinh thần của mình mới tốt. Đằng này, cái tinh thần của mình vốn đã hư hỏng, mà vội đi bắt chước người ta, thì chỉ làm cho mình dở hơn, làm loạn cả tính tình, tư tưởng, phong tục của mình, và tạo ra đủ loại thứ bệnh cho xã hội, đó là lỗi lầm của những người tân học ngày nay. Trần Trọng Kim nhấn mạnh, sự cường thịnh của một dân tộc quyết định bởi “tinh thần” văn hóa dân tộc đó có cường thịnh hay không : “dân tộc nào cường thịnh là vì đã biết giữ cái tinh thần của mình được tươi tốt luôn; dân tộc nào suy nhược là vì đã để cái tinh thần hư hỏng đi, không biết tìm cách mà nuôi nó lên”[15]. Tinh thần của dân tộc như cội rễ của cây cối, cội rễ cây cối được chăm bón thì cành lá xum xuê, không được chăm bón thì cằn cỗi suy nhược. Sự yếu hèn của Việt Nam là do chúng ta đã không biết giữ và nuôi dưỡng tinh thần dân tộc – văn hóa Nho giáo truyền thống của mình, chứ không phải do bản thân Nho giáo yếu hèn. Văn hóa Nho giáo có cái dở nhưng cũng có cái hay, cái tốt cần kế thừa phát huy, văn hóa phương Tây có điều hay nhưng cũng có không ít cái dở cần chắt lọc gạn bỏ. Vì thế, phương pháp hiệu quả là kết hợp hài hòa sở trường Đông Tây, không thiên một bên nào : “giả sử nay ta biết hồi tỉnh lại, cố gây lấy cái sở trưởng của mình, và lại học thêm cái sở trưởng của người, thì chắc có thể dần dần gây nên cái tinh thần tốt đẹp mạnh mẽ, đủ làm cho ta cường thịnh được. Là vì một đường ta không bỏ mất cái căn bản đã tạo tác ra tâm tính của ta, một đường ta lại học được thêm cái hay của người, để theo thời mà biến đổi cho thích hợp với cái lẽ đương nhiên, như vậy thì dẫu thế nào, cái kết quả về sau cũng có phần hay được ”[16]. Như vậy, bên cạnh khẳng định ưu điểm và vai trò của Nho giáo trong đào luyện đạo đức nhân cách con người, Trần Trọng Kim cũng thừa nhận nhược điểm của Nho giáo là do quá thiên về giáo dục “đức dục”, xem nhẹ phương diện “trí dục” nên Nho giáo không thành tựu khoa học kĩ thuật hiện đại như phương Tây, nhưng không vì thế mà vứt bỏ giáo dục “đức dục” Nho giáo, bởi trong xã hội hiện đại giáo dục “đức dục” Nho giáo lại càng có vai trò quan trọng.


Về vai trò của giáo dục “đức dục” Nho giáo trong xã hội hiện đại, Trần Trọng Kim khẳng định, dù thời thế có thay đổi thế nào, vẫn cần giáo dục “đức dục” Nho giáo. Xã hội càng hiện đại, vai trò của giáo dục “đức dục” càng có ý nghĩa quan trọng. “Đức dục” là gốc, là cơ sở nền tảng cho một xã hội lễ nghĩa trật tự, có luân thường đạo lí, “cái gốc đức dục có bền chặt, cái ngọn trí dục mới tươi tốt”. Sở dĩ như vậy là vì :


“nếu ở trong một xã hội mới ngày nay mà những người giữ quân quyền đều là người có đức hạnh cả, lại không hơn những người giảo quyệt, khôn khéo mà gian tham và vô liêm sỉ hay sao? Đã hay rằng thời khoa học mở mang ra, sự sinh hoạt không giản dị đơn sơ như trước nữa, sự giáo dục ngày nay tất không thể không chú trọng ở trí dục, nhưng thử xét xem ta có thể bỏ được đức dục đi không? Người có tài có trí mà không có tâm địa, không có khí tiết, thì dù ở thời đại nào mặc lòng, cũng chỉ là một bọn gian ác, làm những việc ích kỉ hại nhân mà thôi, vậy thì lấy gì mà phân biệt kẻ hay người dở!”[17].


Có nghĩa, trong thời hiện đại không thể không chú trọng giáo dục “trí dục”, nhưng một nền giáo dục nếu chỉ thiên về “trí dục” mà lãng quên “đức dục”, xã hội đó tuy hiện đại về khoa học kĩ thuật, phong phú về vật chất, nhưng thiếu đạo lí nhân luân. Một xã hội phát triển thiên lệch như thế là xã hội không có căn bản và mất gốc, xã hội đó sớm muộn cũng đảo điên vô đạo :


“sự giáo dục mà chỉ chú trọng ở một trí dục mà thôi, thì không đủ khiến người ta biết rõ cái đạo làm người được. Bởi vì người ở trong xã hội mà khôn ngoan đủ điều, nhưng không có cái đức dục để ràng buộc nhân tâm thì khác nào một đàn thú dữ ở với nhau, chỉ chực làm hại lẫn nhau để cầu cái lợi riêng của mình. Người ở với nhau như thế, thì còn có gì là nhân đạo nữa?”[18].


Ưu điểm và giá trị của giáo dục “đức dục” Nho giáo là làm cho đạo đức, nhân nghĩa thấm vào lòng người, loại bỏ lòng tư dục gian tà, đào luyện ra những người đức hạnh, có khí tiết, có phẩm cách cao thượng, dám xả thân vì quốc gia thiên hạ. Nhược điểm của nó là quá thiên về “đức dục”, xem nhẹ “trí dục”, nên không thành tựu các ngành khoa học kĩ thuật hiện đại, khiến đất nước yếu hèn và lạc hậu. Đó là hiện trạng của văn hóa nước ta. Giáo dục “trí dục” làm cho tài trí, khoa học, công nghệ phát triển, nhưng nếu chỉ thiên về “trí dục”, bỏ “đức dục”, thì chỉ tạo ra đám người “giảo quyệt”, “gian tham”, “vô liêm sỉ”, “gian ác”, “ích kỉ hại nhân”, “giả nhân giả nghĩa”, “tự tư tự lợi”. Kết quả là hình thành lối sống vật chất xô bồ, con người cá nhân vỏ ốc, tình cảm con người đơn bạc. Đó là hiện trạng văn hóa phương Tây. “Đức dục” và “trí dục” mỗi cái đều có sở trường và sở đoản của nó, nên không thể chỉ thiên lệch một bên nào. Nền giáo dục chỉ thiên lệch về một phương diện “đức dục” hoặc “trí dục” là nền giáo dục không căn bản và toàn diện, và chúng đều tạo ra những hậu quả đáng tiếc. Trước đây, vì chúng ta quá coi trọng “đức dục”, xem thường “trí dục”, nên khoa học kĩ thuật không phát triển, hệ quả là đất nước nghèo hèn lạc hậu. Còn các nước phương Tây đương thời, vì họ quá coi trọng “trí dục”, xem thường “đức dục”, nên khoa học kĩ thuật phát triển, đất nước cường thịnh, nhưng đạo đức nhân tâm băng hoại. Một nền giáo dục được xem là căn bản và tránh được những hậu quả đáng tiếc là nền giáo dục kết hợp hài hòa giữa “đức dục” và “trí dục”, không thiên lệch một bên nào :


“cái nền đức dục của ta là Nho giáođã xây đắp lên hằng mấy nghìn năm nay rồi, mà đã có cái hiệu quả mĩ mãn, thì ta cứ giữ lấy cái nền lưu truyền ấy để làm cái sản nghiệp riêng của ta. Ta lại thu thái lấy những điều trí dục mà ta còn khiếm khuyết, để bồi bổ thêm vào cái sản nghiệp ấy, làm cho tâm với trí điều hòa với nhau mà tiến hóa. Như thế thì cái học của ta có cái căn bản, và có thay đổi điều gì ắt cũng ít có sự lầm lỗ vậy”[19].


Sự kết hợp giữa giáo dục “đức dục” Nho giáo với giáo dục “trí dục” phương Tây được Trần Trọng Kim lựa chọn làm mô hình giáo dục lí tưởng và ưu việt cho Việt Nam tương lai. Đó là nền giáo dục kết hợp hài hòa giữa “đức dục” và “trí dục”, không thiên về “đức dục” hay “trí dục”. Mô hình giáo dục này được Trần Trọng Kim cụ thể hóa như sau :


“ta muốn rằng người mình bây giờ phải theo thời mà học tập : thực nghiệp, kinh tế, binh gia, toán pháp, vật lí, hóa học, bao nhiêu những khoa trí dục đều phải học như người ta, nhưng phải lấy Nho giáo làm cái nền đức dục, nghĩa là lấy cái nghĩa lí lưu truyền tự nghìn xưa mà gây lấy cái tinh thần, dù ở vào cảnh ngộ nào cũng có cái nhân cách đặc biệt, có cái phẩm giá tôn quí, không phụ cái tiếng nhân linh ư vạn vật. Nếu ta biết theo cái phương châm ấy mà học tập, mà hành động, thì cái nền giáo dục của ta sau này chắc có nhiều hi vọng lắm vậy”[20].


Trong sự kết hợp này, chúng ta phải kế thừa cái tinh hoa đặc sắc của nền giáo dục “đức dục” Nho giáo truyền thống, vốn được đúc kết từ lâu đời, từng phát huy hiệu quả “mĩ mãn” trong quá khứ, lấy đó làm nền tảng để tiếp thu thành quả giáo dục “trí dục” phương Tây mà ta khiếm khuyết, kết hợp hài hòa chúng với nhau, tạo nên nền giáo dục căn bản. Đó là nền giáo dục kế thừa được đặc sắc văn hóa truyền thống – tư tưởng luân lí đạo đức Nho giáo, tiếp nhận dung nạp được tinh hoa văn hóa phương Tây - thành tựu khoa học kĩ thuật hiện đại – nền giáo dục truyền thống nhưng không lạc hậu hủ bại, hiện đại nhưng không mất gốc lai căng – nền giáo dục truyền thống mà hiện đại, hiện đại mà truyền thống – nền giáo dục hiện đại mà đậm bản sắc dân tộc.


Trên đây, bài viết đã trình bày khái lược quan điểm của Trần Trọng Kim về mầm mống tư tưởng “khoa học” Nho giáo và chủ trương kết hợp Nho giáo với khoa học hiện đại phương Tây của ông trong Nho giáo. Tuy không dành nhiều thời gian trình bày và luận giải về mầm mống tư tưởng “khoa học” Nho giáo, mà thiên về luận giải khả năng kếp hợp, sự cần thiết phải kết hợp và ý nghĩa của việc kết hợp Nho giáo với khoa học hiện đại, song ta vẫn thấy quan điểm của Trần Trọng Kim nhất quán khẳng định Nho giáo có mầm mống tư tưởng khoa học, Nho giáo không mâu thuẫn, xung đột, đối lập với khoa học, có thể kết hợp Nho giáo với khoa học và cần phải kết hợp Nho giáo với khoa học, bởi những ưu điểm của việc kết hợp này như ông đã diễn giải ở trên. Vấn đề tư tưởng “khoa học” Nho giáo, mối quan hệ giữa Nho giáo với khoa học hiện đại và chủ trương kết hợp chúng với nhau được Trần Trọng Kim tiếp tục trình bày, luận giải, biện luận sâu rộng hơn khi ông tranh luận với Phan Khôi về vấn đề này.


2. Tranh luận với Phan Khôi


So với chủ trương khẳng định và chấn hưng Nho giáo của Trần Trọng Kim, Phan Khôi (1887 - 1959) là người có quan điểm đối lập, ông là đại diện tiêu biểu củaxu hướng phê phán Nho giáo ở Việt Nam thập niên ba mươi thế kỉ XX. Phan Khôi phê phán Nho giáo mạnh mẽ và gay gắt. Trước khi cuốn Nho giáo của Trần Trọng Kim xuất bản, Phan Khôi đã viết một loạt bài phê phán Nho giáo trên báo Phụ nữ Tân văn vào năm 1929[21]. Ông kêu gọi vứt bỏ tư tưởng lạc hậu và lỗi thời của Nho giáo, chủ trương học tập khoa học kĩ thuật và xây dựng thể chế chính trị dân chủ hiện đại phương Tây, để hiện đại hóa đất nước.


Theo lời Phan Khôi trong bài “Đọc cuốn “Nho giáo” của ông Trần Trọng Kim” đăng trên Phụ nữ Tân văn năm 1930, trước khi Nho giáo của Trần Trọng Kim ra mắt bạn đọc, Nhà xuất bản đã mời ông đọc thẩm định phê bình cuốn sách này. Vì thế, Phan Khôi là người đầu tiên viết bài phê bình nội dung sách Nho giáo. Trong bài viết này, bên cạnh khẳng định những ưu điểm và giá trị học thuật của sách Nho giáo, Phan Khôi cũng phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim trên nhiều điểm, trong đó nổi bật là vấn đề tư tưởng “khoa học” Nho giáo, vấn đề kết hợp và dung hòa Nho giáo với khoa học hiện đại.


Trong bài “Đọc cuốn “Nho giáo” của ông Trần Trọng Kim”, Phan Khôi phê phán quan điểm cho Nho giáo có mầm mống tư tưởng “khoa học” và chủ trương kết hợp, dung hòa Nho giáo với khoa học hiện đại phương Tây của Trần Trọng Kim. Theo Phan Khôi, Nho giáo không thể dung hòa với Tây học, bởi hai lí do : “một là cái vẻ huyền học của Khổng giáo trái với khoa học; hai là cái chủ nghĩa tôn quân của Khổng giáo trái với chủ nghĩa duy dân (démocratisme)”[22]. Vì vậy, ngày nay nếu chúng ta muốn học theo phương Tây, ắt phải bỏ hết tất cả những thứ của Nho giáo trái với “khoa học” và “dân chủ”, cho dù việc đó có trái với tông chỉ Khổng Mạnh hay không, vì rằng việc học theo phương Tây là vô cùng cần kíp. Có chăng cái cần kế thừa Khổng giáo “chỉ nên lấy nội cái phần tu thân để đạt đến cái mục đích làm quân tử mà thôi”[23].


Về việc Trần Trọng Kim căn cứ vào bốn chữ “cách vật trí tri” để biện luận Nho giáo không trái với khoa học và có ý nghĩa khoa học, ở mức độ nhất định Phan Khôi cũng thừa nhận “cách vật trí tri” có vẻ không trái khoa học, tuy nhiên ông cũng cho rằng, cái nghĩa gần khoa học hiện đại của bốn chữ “cách vật trí tri” là nghĩa chúng ta thường hiểu ngày nay, còn những giải thích của các vị tiên nho về ý nghĩa bốn chữ “cách vật trí tri” như Vương Dương Minh khi viết thư cho La Khâm Thuận nói rằng “cách vật giã, cách kì tâm chi vật, cách kì ý chi vật, cách kì tri chi vật; chánh tâm giã, chánh kì vật chi tâm; thành ý giã, thành kì vật chi ý; trí tri giã, trí kì vật chi tri. Nếu “cách vật trí tri” mà theo như lời họ Vương đó thì thôi, thiệt không còn ra nghĩa lí chi nữa”[24]thì quả là trái với khoa học ngày nay lắm. Và rằng, giả như chúng ta thừa nhận ý nghĩa bốn chữ “cách vật trí tri” của Nho giáo không trái khoa học, thì Nho giáo cũng chỉ có vẻn vẹn bốn chữ đó thôi, ngoài ra Nho giáo có rất nhiều điểm trái với khoa học, ngăn trở khoa học, ông viết :


“Thế nhưng chỉ bốn chữ ấy mà thôi (“cách vật trí tri” – NTĐ), ngoài ra thiệt có lắm điều trở ngại cho khoa học. Đại để Khổng giáo chỉ nói cái lẽ đương nhiên mà không nói đến cái sở dĩ nhiên, bảo người ta phải làm như vậy mà không cắt nghĩa cho người ta tại làm sao phải làm như vậy. Tôi tưởng cái phương pháp chuyên dùng trực giác ấy thiệt có hại cho cái tinh thần khoa học chẳng phải vừa”[25].


Sau bài phê bình này của Phan Khôi, Trần Trọng Kim viết bài “Mấy lời bàn với Phan tiên sinh về Khổng giáo”[26] tranh luận với Phan Khôi về tư tưởng “khoa học” Nho giáo, vấn đề kết hợp, dung hòa Nho giáo với khoa học phương Tây hiện đại. Trong bài viết này, Trần Trọng Kim thừa nhận về ý nghĩa khoa học hiện đại phương Tây ngày nay, xã hội phương Đông ngày xưa không có, nếu có cũng chỉ manh mún không rõ ràng. Về sau, dưới ảnh hưởng của Nho giáo, Trung Quốc, Việt Nam và các nước chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo đều thiên về mặt đạo đức, không quan tâm và bỏ qua khoa học, do vậy khoa học không phát triển. Hậu quả là ngày nay bị các nước phương Tây lợi dụng ưu thế khoa học xâm chiếm lấn lướt. Tuy nhiên, Trần Trọng Kim vẫn khẳng định Nho giáo không trái khoa học, bởi Nho giáo có mầm mồng tư tưởng “khoa học” :


“Bốn chữ “cách vật trí tri” của Khổng giáo tuy chưa phải là khoa học, nhưng chính là cái ý nghĩa khoa học. Những nhà học giả như Vương Dương Minh đem mấy chữ ấy cho vào tâm học, không phải là không có giá trị. Song vì ông chú ý về một mặt tâm học, cho nên ông mới nói như lời ông viết cho La Khâm Thuận. Nếu ta đem cái nhỡn giới triết học cao lên mấy độ nữa, thì ta biết cái học của họ Vương không phải là cái học tầm thường”[27].


“Khổng giáo sở dĩ không chú ý đến khoa học là vì lúc trước sự sinh hoạt của người ta không cần đến khoa học. Song xét kỹ ra cái tinh thần của Khổng giáo không trái với khoa học, bởi chưng Khổng giáo dạy người ta phải tùy thời mà biến đổi, miễn là đừng thiên lệch về một mặt nào thái quá là được”[28].


Về lối dùng “trực giác” của Nho giáo, Trần Trọng Kim cho rằng nó không những không trái khoa học mà còn chính là cái thần bí của các nhà khoa học hiện nay, bởi “nhờ có cái trực giác cho nên các nhà khoa học mới tìm ra những cái rất huyền bí và sáng tạo ra được nhiều cái rất tinh xảo”[29]. Vấn đề Khổng giáo nói cái “đương nhiên” mà không nói cái “sở dĩ nhiên”, là vì Khổng giáo không nhận có cái định lí, cho nên chỉ nói lẽ “đương nhiên”, còn cái “sở dĩ nhiên” thì mỗi thời một khác, học giả phải theo thời mà ứng biến : “ta ở đời nào ta phải lấy cái lẽ sở dĩ nhiên đời ấy, chứ đừng có thấy người ta làm sao mình bào hao làm vậy. Nếu người mình mà giữ cái thói ấy mãi, thì dẫu có theo khoa học cũng chẳng có ích gì, suốt đời chỉ đi nhặt những cái bã của người ta đã vứt ra mà thôi”[30]. Cái hay của đạo Khổng là ở chỗ “tùy thời”, việc gì hợp thời thuận lí đều theo được, cốt giữ sao cho sự việc được “điều hòa”, không “thiên lệch”. Theo lí ấy, ngày nay ta cần khoa học thì ta theo khoa học, nhưng không vì theo khoa học mà bỏ cái học đạo đức “tâm học” của Nho giáo, mà nên kết hợp và điều hòa “tâm” và “trí” với nhau. Việc kết hợp này là hợp thời thuận lí, không có gì khó khăn trở ngại : “Nay ta ở vào thời đại có khoa học và cần phải có khoa học, thì ta theo khoa học, nhưng theo khoa học mà không bỏ mất cái tâm học, thì tâm với trí có thể điều hòa được với nhau, có việc gì là việc trở ngại”[31].


Trần Trọng Kim cũng thanh minh với Phan Khôi, sở dĩ ông chủ trương kết hợp Nho giáo với khoa học, không phải vì thiên ái với Nho giáo, mà bởi Nho giáo vốn có cái hay cái đẹp cần kế thừa, cũng bởi Nho giáo vốn là tinh thần và là bản sắc của mình, cho nên đồng thời với việc học tập phương Tây để hiện đại hóa đất nước, ta phải làm sao để giữ được bản sắc của riêng mình. Có nghĩa, hiện đại hóa không phải là “Tây hóa hoàn toàn”, mà phải theo phương châm hiện đại hóa trên cơ sở kế thừa bản sắc truyến thống dân tộc : “cái gì của ta hay thì ta giữ lấy, cái gì ta không có thì ta đi học của người, làm thế nào cho ta lớn lên được mà ta vẫn là ta, chứ không lẫn với người”[32]. Tại sao phải thực hiện phương châm hiện đại hóa trên cơ sở kế thừa bản sắc truyến thống dân tộc? Là vì, theo Trần Trọng Kim nếu hiện đại hóa theo phương thức Tây hóa hoàn toàn như chủ trương học tập khoa học một cách cực đoan và vứt bỏ Nho giáo của Phan Khôi sẽ mang lại những hậu quả xấu. Trần Trọng Kim cho rằng, vì quá thiên về khoa học mà phương Tây đang phải gánh chịu những hậu quả nặng nề. Những cuộc chiến tranh động loạn, cuộc sống vật chất xô bồ và sự băng hoại giá trị đạo đức đã khiến người phương Tây chán nản khoa học. Họ đang tìm kiếm phương thức cải tạo, chữa trị những nhược điểm của xã hội phương Tây đương thời. Chúng ta đang chứng kiến sự vận động trái chiều của thế giới Đông Tây. Trong khi các nước phương Đông đua nhau vứt bỏ giá trị truyền thống của mình để chạy theo học khoa học phương Tây, những mong nhanh chóng cường thịnh như các nước phương Tây; trong khi đó các nước phương Tây lại chán nản khoa học bởi những hậu quả mà nó mang lại, họ đang hướng về phương Đông tìm kiếm phương thuốc chữa trị căn bệnh khủng hoảng đương thời. Rõ ràng, Trần Trọng Kim đã lưu ý Phan Khôi, Việt Nam sẽ phải gánh chịu hậu quả như thế nào, nếu bỏ nền đạo đức Nho giáo truyền thống, để học tập khoa học phương Tây một cách cực đoan. Do đó, chủ trương học tập khoa học phương Tây hiện đại, nhưng không bỏ đạo đức Nho giáo truyền thống, mà kết hợp chúng với nhau một cách “điều hòa” của Trần Trọng Kim là nhằm vừa tiếp nhận thành quả khoa học kĩ thuật phương Tây hiện đại, vừa tránh được những hậu quả xấu mà xã hội phương Tây đang phải đối mặt vì quá thiên về khoa học :


“ta nay thấy người cường thịnh, thì ai ai cũng háo hức theo người, biết đâu rằng cái cường thịnh ấy lại không có cái nguy cơ đã nằm sẵn đó rồi. Bởi vậy những người thức giả thường lấy làm lo. Tôi nói thế không phải là tôi bảo người mình không theo khoa học, nhưng tôi chỉ muốn người mình theo khoa học mà đừng bỏ mất cái tâm học của mình thì rồi mới có lợi được”[33].


Từ việc khẳng định ý nghĩa và giá trị hiện đại của Nho giáo, Trần Trọng Kim nhấn mạnh, trong quá trình hiện đại hóa đất nước, ngoài chủ trương học tập phương Tây những gì mình không có, chúng ta phải giữ gìn, phát huy tinh thần và bản sắc của riêng mình – tư tưởng luân lí đạo đức Nho giáo, sao cho khi ta phát triển nhưng vẫn giữ được tinh thần của mình, không bị Tây hóa hoàn toàn, không phủ định sạch trơn văn hóa truyền thống. Học tập phương Tây cần phải có chọn lọc, không phải cái gì cũng học theo, bởi không phải cái gì của phương Tây cũng hay và đều đáng học, có những cái cần học, nhưng có những cái không nên học. Trần Trọng Kim cũng lưu ý Phan Khôi, phương Tây đang đối mặt với những vấn đề xã hội nan giải, các nhà thức giả bên Tây đang phải tìm cách để chữa trị căn bệnh xã hội của họ. Vì vậy, chúng ta càng không nên mô phỏng hoàn toàn theo phương Tây, bởi như vậy ta sẽ lặp lại sai lầm của họ :


“tôi chắc Phan quân cũng biết rằng ngay ở bên Tây, những nhà thức giả có nhiều người cũng lấy cái cảnh tượng xã hội ngày nay làm lo, còn đi tìm tòi, xem có cách gì mà sửa đổi lại được không. Huống chi ta đây cũng là tai mắt, có đủ trí tuệ, ta há lại không làm ra được việc gì là riêng của ta, mà lại cứ nhất nhất phải chạy theo đuôi người ta làm gì”[34].


“trước kia tôi cũng như Phan quân, điều gì của ta, tôi cũng cho là dở, muốn bỏ đi cho hết, để đi lượm lặt của người về mà thay vào, sau dần dần tôi thấy những cái mình muốn lặt của người, lại là cái bã người ta nhai chán đã muốn nhả ra. Nếu mình lại chạy theo mà lượm lấy đem về làm của quý, thế chẳng hóa ra mình dại lắm ru!”[35].


Sự lo lắng về hiện trạng căn bệnh xã hội phương Tây đương thời do quá thiên về khoa học mà xem thường đạo đức nhân luân, là lí do khiến Trần Trọng Kim chủ trương học tập khoa học phương Tây phải được tiến hành trên cơ sở kế thừa tinh hoa văn hóa dân tộc – luân lí đạo đức Nho giáo. Tuy nhiên, Trần Trọng Kim cũng không khẳng định một chiều ưu điểm, cái hay, cái tốt cần kế thừa từ Nho giáo, ông cũng thừa nhận Nho giáo có những mặt khuyết điểm và hạn chế của nó. Có điều, theo ông sở dĩ Nho giáo có nhiều hạn chế và khuyết điểm là vì các nhà nho truyền thống và hiện đại không biết “tùy thời mà biến đổi”để lĩnh hội cái tinh thần và tinh túy của Nho giáo, cứ khư khư ôm lấy cái cặn bã hẩm nátcủa Nho giáo, đến khi Nho giáo suy tàn đổ nát, lạiquay ra đổ tội cho Nho giáo. Ông cho rằng, cần phải lĩnh hội, kế thừa tinh thần, tông chỉ của Nho giáo, đồng thời gạn lọc, vứt bỏ những điều cặn bã, lỗi thời của Nho giáo:


“xét ra tông giáo nào và học thuật nào cũng vậy, người sáng lập ra chỉ biết dạy mình cái tông chỉ mà thôi. Về sau cái hình thể cứ biến đi mãi, đến khi không biến được nữa là mất. Nho giáo sở dĩ đến mực này là vì ta không biết theo thời mà biến. Giả sử ta bỏ hết những cái vụn vặt cặn bã đi, những cái ấy có lẽ thích hợp với thời cổ mà không thích hợp với thời này nữa; rồi ta rút lấy cái tinh thần, gây nó lên cho mạnh mẽ, thì biết đâu ta lại không làm được việc rất đáng làm hay sao?”[36].


Cuộc tranh luận giữa Trần Trọng Kim và Phan Khôi được tiếp tục với bài hồi đáp của Phan Khôi có tiêu đề “Mời Trần Trọng Kim tiên sanh đi với Khổng tử Mạnh tử đến nhà M.Logique chơi, tại đó, chúng ta sẽ nói chuyện”[37]. Trong bài viết này, Phan Khôi tiếp tục khẳng định quan điểm Nho giáo có nhiều điểm trái với khoa học, bởi Nho giáo chỉ nói cái “đương nhiên” mà không nói cái “sở dĩ nhiên”. Ông cho rằng trong sách Luận ngữ, khi trả lời chất vấn của các học trò, rất nhiều lần Khổng tử chỉ nói cái kết quả mà không giải thích nguyên do tại sao phải như thế. Ví dụ đoạn Diệp công hỏi việc chính trị, Khổng tử đáp : “cận giả duyệt, viễn giả lai” (Luận ngữ - Tử lộ), đoạn này chỉ nói về kết quả, không nói nguyên nhân. Đó là chỗ Khổng giáo “trái với khoa học. Vì khoa học dạy người ta phải tìm đến cái lẽ sở dĩ nhiên”[38].


Phan Khôi cũng cho rằng Khổng tử và Mạnh tử trong khi biện luận về học vấn “thỉnh thoảng hay trái với luận lí học (論理學/lôgíc học). Điều đó là không hợp với sự học vấn ngày nay”[39]. Ví như, cách trả lời của Khổng tử với Mạnh Ý tử khi Mạnh Ý tử hỏi về “hiếu trong thiên “Vi chính” sáchLuận ngữ; cách trả lời của Mạnh tử với Đào Ứng khi Đào Ứng hỏi Mạnh tử : giả thiết Thuấn làm thiên tử, Cao Dao làm quan toà, mà cha Thuấn là Cổ Tẩu giết người, thì Cao Dao phải làm như thế nào? (Mạnh tử - Tận tâm thượng); lại như cách biện luận của Mạnh tử với học trò Vạn Chương trong câu chuyện Vạn Chương hỏi Mạnh tử : “vua Nghiêu lấy thiên hạ cho vua Thuấn, có việc ấy không? (Mạnh tử - Vạn Chương thượng)”; hay nội dung Mạnh tử biện luận về thuyết “tịnh canh” của Hứa Hành (Mạnh tử - Đằng Văn công thượng)… đều vi phạm những nguyên tắc cơ bản của lôgíc học như “mậu vọng”, “độn từ”, “biến canh luận điểm”… cho nên cần phải bỏ hết.


Không chỉ thế, Phan Khôi còn cho rằng thuyết “minh đức tân dân” trong sách Đại học của Nho giáo cũng trái khoa học. Sách Đại học đưa ra “tam cưỡng lĩnh” và “bát điều mục” làm tôn chỉ cho việc tu thân và trị quốc, trong đó “minh đức” là tu thân, “tân dân” là trị quốc. Sách Đại học viết : “người quân tử chẳng ra khỏi nhà mà làm nên giáo hóa trong nước; chưa hề có ai học nuôi con rồi sau mới gả lấy chồng”. Đại ý nói rằng, người ta chỉ cần tu thân hoàn thiện, rồi lấy mình cảm hóa mọi người từ gần đến xa, từ nhà ra nước, để đạt mục tiêu tề gia, trị quốc và bình thiên hạ. Phan Khôi khẳng định, quan điểm này của sách Đại học trái khoa học, vì theo khoa học ngày nay, không có việc gì không học mà người ta có thể làm được, sao có thể nói chỉ cần “minh đức” là có thể tân dân” được ngay, ông viết : “khoa học trọng chứng cứ và thiệt nghiệm. Cái thuyết “minh tân” chỉ là một cái lí tưởng cao siêu, chớ đem mà đối chiếu với lịch sử thì không thể chứng nghiệm là thiệt được”[40]. Vì trái khoa học, nên theo Phan Khôi, nếu đầu óc chúng ta còn bị ảnh hưởng bởi thuyết “minh đức tân dân”, thì không thể theo khoa học được, do vậy phải bỏ nó đi.


Nếu Trần Trọng Kim giải thích sở dĩ Nho giáo không chú ý đến khoa học vì thời xưa không cần khoa học, và viện vào hai chữ “tùy thời” để biện luận Khổng giáo không trái khoa học, thì Phan Khôi cũng căn cứ vào hai chữ “tùy thời” biện bác lại quan điểm của Trần Trọng Kim. Phan Khôi cho rằng, thuyết “minh đức tân dân” hợp với xã hội tông pháp thời Xuân thu, nhưng nó không phù hợp với xu hướng tự do bình đẳng ngày nay, cho nên phải bỏ nó đi, “sự biến đổi ấy chẳng qua là tuỳ thời, chẳng có gì lạ hết, cũng như hồi Xuân Thu, con gái không học nuôi con, cứ việc gả lấy chồng; còn đời nay, trước khi lấy chồng, các cô phải học nuôi con đã”[41]. Nếu Trần Trọng Kim chủ trương kết hợp Nho giáo với khoa học hiện đại phương Tây, thì Phan Khôi chỉ chấp nhận giữ lại những phần của Nho giáo theo ông còn phù hợp với thời đại ngày nay, những phần không phù hợp đều bỏ hết. Cụ thể với thuyết “minh đức tân dân”của sách Đại học, Phan Khôi chỉ giữ lại phần “tu thân” (chính tâm, thành ý) và bỏ hết phần “trị quốc, bình thiên hạ”, vì theo ông quan điểm chỉ cần “tu thân” là có thể “trị quốc, bình thiên hạ”, hay cứ “minh” được “đức” là có thể “tân dân” là trái khoa học ngày  nay.


(còn tiếp)


Vanhoanghean


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 20.09.2017
Thanh Tùng – Xanh mãi Thời hoa đỏ - Trần Mạnh Hảo 18.09.2017
Tiểu thuyết Thủy Hử theo quan điểm một học giả phương Tây - Bill Jenner 18.09.2017
Lời cảnh cáo các nhà học phiệt - Đoàn Lê Giang 08.09.2017
Dấu ấn Chủ nghĩa nhân văn của Erasmus trong tiểu thuyết Don Quixote - Linh Lan 08.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (tiếp và hết) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (1) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Lại bàn về Nguyễn Khắc Viện và sách “Việt Nam một thiên lịch sử” - Nguyễn Khắc Phê 31.08.2017
Thế giới phi lý trong tiểu thuyết đô thị miền nam 1954-1975 - Nguyễn Thị Việt Nga 27.08.2017
Thơ Phùng Cung – Lời cuối của quê - Thu Tứ 27.08.2017
xem thêm »