tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20236060
Lý luận phê bình văn học
27.07.2017
Trần Nhuận Minh
Về hai văn bản của vua Lê Thánh Tông đối với Nguyễn Trãi



Hai văn bản này rất quan trọng, đó là “Chiếu giải oan” cho Nguyễn Trãi như người ta thường nói và câu thơ ca tụng ông “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” của vua Lê Thánh Tông. Nó có liên quan rất sâu sắc đến sự đánh giá của đời sau đối với vị Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Vừa qua, báo Hải Dương hằng tháng số 242 tháng 8/2015, có đăng bài “Hai người con thoát họa tru di của Nguyễn Trãi” của Khúc Hà Linh. Bên cạnh nhiều tư liệu tin cậy và bổ ích, mà tác giả dẫn ra từ trong sách sử, có 3 điều liên quan đến 2 văn bản quan trọng của vua Lê đối với Nguyễn Trãi, mà tôi đã nói trên, tác giả có dẫn ra nhưng không được tường tận, có chỗ còn nhầm. Tôi nghĩ là nên nói thêm cho rõ, để tác giả và các bạn đọc tham khảo thêm.


1- Thánh Tông là MIẾU HIỆU, của vị hoàng đế thứ tư của nhà Lê, chứ không phải là “niên hiệu” của vua như Khúc Hà Linh đã viết trong bài trên. Miếu hiệu là tên, quần thần căn cứ vào công đức của nhà vua mà dâng lên, sau khi nhà vua đã chết, thường là sau 1 năm. Trong trường hợp này là 11 tháng, vì các quần thần dễ thống nhất (Vua mất tháng 1, miếu hiệu dâng tháng 12 cùng năm). Khi sống và làm việc, vua có 2 niên hiệu là Quang Thuận (1460 – 1469) và Hồng Đức (1470 – 1497). Nghĩa là cho đến lúc chết, vua Quang Thuận – Hồng Đức nhà Lê, không hề biết mình sẽ có tên là Lê Thánh Tông, như 11 tháng sau khi chết, các quần thần mới đặt tên cho ông, để các thế hệ sau gọi Người cho đến tận ngày hôm nay. Hầu hết các bài viết về lịch sử hiện nay đều lấy MIẾU hiệu thay cho NIÊN hiệu (chỉ riêng về nhà Nguyễn thì các sách đều dùng niên hiệu đúng với niên hiệu của nhà vua, không dùng Miếu hiệu, không hiểu vì sao, điều ấy lại không xảy ra với các triều đại trước như Lê, Lí, Trần chẳng hạn?), điều ấy không hẳn là sai, nhưng về mặt khoa học, tôi nghĩ là không chuẩn. Một, hai tác giả khi tôi hỏi về điều đó, đều cho hay là họ lấy nguồn từ cuốn Các triều đại Việt Nam của Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng, được coi như một cuốn sử phổ thông, có tính đại chúng cao, đã được tái bản nhiều lần.


2- Năm Quang Thuận thứ 5 (1464), tức là sau 22 năm Nguyễn Trãi đã chết vì án tru di (1442 – 1464), vua Quang Thuận mới ban một đạo CHẾ (mà các tác giả về sau đều gọi là CHIỀU hay SẮC, gọi thế hay viết thế, đều là sai, vì CHIẾU, CHẾ, SẮC, là 3 loại văn bản hành chính của nhà nước phong kiến, với chức năng, nội dung và tầm quan trọng khác nhau. Trong trường hợp này là CHẾ. Nguyên văn bản CHẾ do văn thần soạn, vua cho công bố, bản dịch như sau:


“BÀI CHẾ PHONG TẶNG TƯỚC TẾ VĂN HẦU CHO LÊ TRÃI


Thuận mệnh trời, theo vận nước, Hoàng thượng nói rằng: Ta vì muốn bắt chước phép nhà Ân mà trị nước, để mở rộng cơ nghiệp của tổ tông, muốn dựa theo lệ nhà Chu mà ghi công để thực hiện trị an cho đất nước, cho nên cần làm việc ban cấp sắc phong, sửa sang phần mộ.


Xét vị công thần khai quốc trước kia, được phong tước Trụ quốc Tân trù bá, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu là Lê Trãi, đem đạo học chân chính mà giúp việc nước nhà, vạch kế hoạch rộng lớn mà sửa nền chính trị. Trong buổi Tổ phụ ta khởi nghĩa ở Lam Sơn, để gây dựng lại cơ đồ nước Việt, ông đã vào Lỗi Giang theo quân lập được nhiều thành tích tốt, trong việc bình Ngô, danh vọng của ông vang lừng trong bốn bể, mưu lược của ông rõ rệt dưới hai triều. Dẫu rằng thời mệnh không đi đôi với nhau, khó biết được lẽ huyền bí, nhưng công lao của ông được ghi chép lâu ngày, hiện còn thấy trong sổ sách. Trước kia ông đã được ban ân rất hậu, ngày nay càng nên tặng thưởng thêm. Vì lẽ đó, nay đổi tước bá, thăng tước hầu, vừa để biểu dương công lao cống hiến cho nước, vừa để nêu rõ đạo học bổ ích cho đời.


Than ôi! Rồng hổ gió mây hội trước, tưởng lại tiền nhân. Văn chương sự nghiệp dấu xưa truyền cho hậu thế.


Vậy gia tặng Trụ quốc Tế văn hầu, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu”


(Phần Văn tuyển, trong “Hoàng Việt thi văn tuyển” của Tồn Am Bùi Huy Bích, do Lê Thước, Trịnh Đình Rư, Nguyễn Sĩ Lâm, Trần Lê Hữu, Vũ Đình Liên dịch, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1957).


Nguyễn Trãi được ban quốc tính (họ vua) là Lê Trãi. Văn bản gốc theo đúng nghĩa của nó, hiện không còn. Các nhà nghiên cứu về sau thường lấy văn bản này, với độ tin cậy rất cao của nó, được coi như bản gốc. Soạn giả là nhà văn hóa lớn đời Lê là Bùi Huy Bích (1744 – 1818) từng làm Nhập thị Bồi tụng (người đứng thứ 2, sau Bồi tụng, chức Bồi tụng tương đương như Phó thủ tướng của ta hiện nay) thời vua Lê chúa Trịnh.


Như vậy, không phải là vua “xuống chiếu giải oan” như Khúc Hà Linh viết, dù ông viết điều này, tôi đoán là căn cứ vào chú thích của sử quan nhà Nguyễn khi dịch và viết thêm chú thích cho bộ “Đại Việt Sử kí toàn thư” của thời Lê. Cũng có không ít chú thích, các sử quan triều Nguyễn viết sai, gây rất nhiều phiền toái cho hậu thế (trong khi chính “Đại Việt sử kí toàn thư ” cũng sai những điều rất hệ trọng). Chính lời chú thích “đại khái” này của sử quan triều Nguyễn làm cho nhiều người thường nhầm lẫn. Tôi cũng nghe nhiều người nói vua Lê Thánh Tông “xuống chiếu giải oan” cho Nguyễn Trãi, nhưng đọc văn bản thì lại thấy rõ là không phải CHIẾU và cũng không có câu nào nói Nguyễn Trãi bị oan, cần được “giải oan”. Trong CHẾ mà chúng ta đọc toàn văn ở trên, không hề có câu nào nói về nỗi oan, cũng không hề có câu thơ “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” như Khúc Hà Linh viết. Vậy câu thơ ấy ở đâu?


3- Câu thơ: “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” là câu thứ 3 trong bài thơ luật 8 câu. Bài thơ nguyên văn như sau:


“Dư tĩnh tọa pháp cung hà tư kim tích quân minh thần lương dữ đương kim cơ nghiệp chi thịnh ngẫu thành nhất luật


(Xuất “Quỳnh uyển cửu ca” tập, Hồng Đức nhị thập ngũ niên)


Cao đế anh hùng cái thế danh


Văn hoàng dũng trí phủ doanh thành


Ức Trai tâm thượng quan Khuê tảo


Võ Mục hưng trung liệt giáp binh


Thập Trịnh đệ huynh liên quí hiển


Nhị Thân phụ tử bội ân vinh


Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi tự


Bát bách Cơ Chu lạc trị bình


Dịch nghĩa:


Ta ngồi trong chính điện hồi tưởng xưa nay vua sáng tôi lành và cơ nghiệp thịnh vượng của nước nhà ngày nay, ngẫu thành bài thơ


(Trong tập “Quỳnh uyển cửu ca”, năm Hồng Đức thứ 25)


Cao đế nổi tiếng anh hùng,


trên đời xưa nay không ai sánh kịp


Văn hoàng trí dũng, kế thừa nghiệp lớn


Ức Trai trong lòng rạng vẻ Khuê tảo


Võ Mục trong bụng chứa chất giáp binh


Mười anh em họ Trịnh vẻ vang phú quí


Hai cha con họ Thân cùng hưởng ân vinh


Cháu hiếu tôn Hồng Đức kế thừa nghiệp lớn


Vui hưởng cuộc trị bình


tám trăm năm như đời Cơ Chu ”


(Phần Thơ tuyển, trong bộ sách trên)


Như vậy bài thơ ca ngợi vua sáng, tôi lành. Chính vua ghi chú thích (đại lược) rằng: Hai vua là Cao Đế (Thái Tổ – Lê Lợi) và Văn Hoàng (Thái Tông – Lê Nguyên Long). Hai bề tôi văn võ là Ức Trai (Nguyễn Trãi – văn thần) và Võ Mục (Lê Khôi – tướng lĩnh). Sau đó là các bề tôi: 10 anh em (cha con) họ Trịnh, đứng đầu là Trịnh Khả và hai cha con Thân Nhân Trung. Hai câu sau nhà vua tự viết về mình. Bài thơ được viết năm “Hồng Đức thứ 25” (1494), tác giả đã ghi rõ như vậy, không phải viết năm 1464 và không có trong CHẾ năm 1464, mà Khúc Hà Linh viết là CHIẾU, chỗ này Khúc Hà Linh không có tư liệu, nên suy đoán như vậy là sai.


Nhân có bài viết của Khúc Hà Linh, một tác giả có nhiều đóng góp đáng quí trong lĩnh vực nghiên cứu, dù có chút nhầm lẫn như trên, cũng là lẽ thường, tất nhiên, nếu không có vẫn hay hơn, tôi góp thêm tư liệu để chúng ta cùng tham khảo. Vì Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của các thế hệ, nên các tư liệu về ông càng chính xác thì càng tốt hơn.


Trần Nhuận Minh


Văn Nghệ TP.HCM số 385


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trở lại với Thạch Lam - Khuất Bình Nguyên 10.08.2017
Có một tâm hồn thức trở với thi ca - Quang Hoài 04.08.2017
Giải huyền thoại hay phỉ báng Tổ tiên, xúc phạm dân tộc? - Hà Văn Thùy 02.08.2017
Về hai văn bản của vua Lê Thánh Tông đối với Nguyễn Trãi - Trần Nhuận Minh 27.07.2017
Tào Tùng: Nhất tướng công thành vạn cốt khô - Hà Phạm Phú 25.07.2017
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
xem thêm »