tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20757059
Lý luận phê bình văn học
30.04.2017
Thanh Thảo
Những cuộc trở về của thơ Việt hải ngoại

 Trần Quang Long với 'Thưa mẹ, trái tim'


Đúng vào dịp kỷ niệm 60 năm thành lập (1957-2017), Hội Nhà văn Việt Nam đã quyết định truy tặng Giải thưởng Hội Nhà văn cho một số nhà văn, nhà thơ nổi tiếng hi sinh hoặc đã mất từ hai cuộc kháng chiến chống Pháp chống Mỹ và sau hòa bình. Báo Thanh Niên trân trọng giới thiệu với bạn đọc chân dung 3 nhà thơ tiêu biểu trong phong trào đấu tranh vì độc lập, tự do trong các đô thị miền Nam trước năm 1975, qua các bài viết của nhà thơ Thanh Thảo.


Cách đây đúng 45 năm, khi đang ở chiến trường Nam bộ và đang viết cho Đài tiếng nói Việt Nam và Đài phát thanh Giải phóng, tôi đã có bài viết về bài thơ bất tử Thưa mẹ, trái tim của cố thi sĩ Trần Quang Long. Sau giải phóng, tôi ra Hà Nội và gặp nhà thơ Nguyễn Hữu Ngô - một chiến hữu và người bạn của Trần Quang Long trong phong trào sinh viên Huế và Sài Gòn. Anh Ngô mời tôi đi uống cà phê và đưa lại cho tôi… bài viết của tôi về bài thơ của Trần Quang Long. Anh Ngô nói: “Mình làm biên tập ở Đài Giải phóng nên có bản thảo này. Đây là bài viết rất hay, chứng tỏ tác giả đồng cảm với thơ Trần Quang Long. Bọn mình hồi ấy đều máu lửa nhiệt huyết như vậy”.


Không phải tới lúc ấy tôi mới thấu hiểu giá trị xuyên thời gian của bài thơ Thưa mẹ, trái tim, nhưng qua nhận xét của anh Nguyễn Hữu Ngô, tôi thêm một lần khẳng định sự bất tử của bài thơ này.


Nhân kỷ niệm 60 năm Hội Nhà văn Việt Nam, tôi muốn một lần nữa cùng bạn đọc trở lại với bài thơ này, trở lại với không khí những tháng năm tranh đấu vì độc lập tự do ngay trong lòng các đô thị lớn miền Nam.


Thưa mẹ, trái tim


Thưa mẹ


năm nay con hai mươi lăm tuổi đầu


công danh gì chẳng có


cuộc sống lại cơ cầu


 


bữa đói bữa no cậy nhờ bè bạn


lây lất chẳng ra sao


mai mốt trát đòi con vào Thủ Đức


chắc gì mẹ gặp con đâu


anh Cả, anh Hai, chú Cường, chú Phúc


người chết triền đồi, người chết lũng sâu


chỉ còn tờ điện tín xanh lạnh lùng để lại


Bây giờ con sống đây


bên những người đã chết


bên những người đang chết


cuộc sống mù lòa giữa mặt trời đen


con mang máng thấy mình còn sống


khi ngồi âm thầm đếm nhịp trái tim


Và con đếm nhịp trái tim


trong cơn hấp hối


những nhịp im lìm như móng chân rắn mối


bước vào trong nỗi ăn năn


những nhịp băn khoăn


như những lá rơi tình đầu chờ đợi


những nhịp giận dỗi


thuở con thơ đòi mẹ bế bồng


những nhịp ngoan hiền như gió thoảng bờ sông


căn nhà mình, mẹ con cơm cá


và con rùng mình những âm thanh lạ


xoáy tròn trong mỗi thớ tim


Con nghe tiếng kêu la của bà mẹ đi tìm


quờ quạng xác con trong căn nhà gạch vụn


oanh tạc vùng tình nghi


Con nghe tiếng quay cuồng của vũ điệu về khuya


từng tràng cười ré lên như địa ngục


những tiếng cười xen vào tiếng nấc


thằng bé con lượm mẩu bánh mì rơi


Con nghe tiếng người quằn quại kêu la


những tràng súng vô nhân giữa lòng đô thị


bắn chết trẻ em, ông lão, bà già


rồi “bồi thường xứng đáng”


câu chuyện sẽ dần qua


Con nghe giữa phố phường


lựu đạn cay và đá, chai độc thoại


máu đổ rồi sẽ thấy mặt anh em


Con đang nghe trái tim


nổ tung từng mảnh vụn


máu từng dòng im lìm


máu từng dòng phẫn nộ


Trên bàn tay con đó


trên dải đất khô cằn


trên mặt mày khốn khổ


trên cuộc sống lầm than


Mẹ ơi, con của mẹ


chỉ còn có trái tim


sẽ sống nhờ trái tim


sẽ chết nhờ trái tim


Là tâm hồn con đó


là vần thơ con đây


bài học i tờ ngày xưa mẹ dạy


con viết thành lời đắng cay


dòng máu anh hùng cha con kháng Pháp


con luyện thành lời hăng say


Con sẽ vót nhọn thơ thành chông


xuyên vào gan lũ giặc


con sẽ mài thơ như kiếm sắc


chặt đầu văn nghệ tay sai


trả thù cho cha, rửa hờn cho nước


cho con ngẩng đầu nhìn thẳng tương lai


Nếu thơ con bất lực


con xin nguyện trọn đời


dùng chính quả tim mình làm trái phá


sống chết một lần thôi


Con sẽ chết như những người đã chết


và những người đang chết


nhưng trái tim con


sẽ đời đời bất diệt


dẫu đã nổ tan tành


dẫu đã khô máu hết


Vì mẹ ơi, con biết


trái tim con là thơ


trái tim con là rừng là núi


là lúa là ngô là cam là bưởi


là quá khứ, là tương lai


là khổ đau, là hạnh phúc


là đấu tranh, là bất khuất


Trái tim là của con người


viết lịch sử mình trên mặt đất


bằng từng nét máu thắm tươi.


Trần Quang Long


Theo hồi ký của anh Lê Hiếu Đằng - một người bạn thân, bạn tranh đấu của Trần Quang Long, thì bài thơ Thưa mẹ, trái tim được sáng tác trong khoảng thời gian 1966-1967. Theo anh Lê Hiếu Đằng, đó là bài thơ “có sức lay động dữ dội mà sinh viên học sinh Sài Gòn cũng như ở các thành thị miền Nam đã trích một số câu để sử dụng như là khẩu hiệu hành động, thúc giục sinh viên học sinh vượt qua mọi khó khăn, trở ngại mà tiến lên...”.


Như thế, năm nay 2017 bài thơ Thưa mẹ, trái tim đã ở vào tuổi 50, cái tuổi “tri thiên mệnh” của đời người. Theo một định nghĩa về thơ từ thi hào Pháp Louis Aragon, thì bài thơ của Trần Quang Long thuộc dạng thơ “nói thẳng, nói hết, nói một lần cho tất cả”. Năm 1972, khi viết bài báo về bài thơ này của Trần Quang Long, tôi ở vào tuổi 26, đúng cái tuổi của Trần Quang Long khi công bố bài thơ. Đó là cái tuổi đầy nhiệt huyết, không một chút toan tính cho riêng mình, cái tuổi mà người ta có thể “xuống đường” như Trần Quang Long, hay xuống chiến trường đồng bằng như tôi. Vì sau khi viết bài báo về bài thơ Trần Quang Long cho chương trình binh vận của Đài phát thanh, tôi đã hăng hái đi xuống chiến trường Mỹ Tho. Hình ảnh người sinh viên-nhà thơ yêu nước Trần Quang Long luôn cổ vũ tôi trong những bước đường gian khổ nhất. Đó là bài thơ dành cho cả một thế hệ, và dành cho từng người trong thế hệ đó. Anh Lê Hiếu Đằng viết về giây phút cuối đời của Trần Quang Long: “Thật kỳ lạ, đêm trước buổi sáng oan nghiệt đó, Long nhận được thư của Quỳnh Như (vợ Trần Quang Long-con gái của GS Tôn Thất Dương Kỵ) và hình của đứa con trai đầu lòng mới được mấy tháng tuổi. Long vui như mở hội đem khoe với chúng tôi. Quỳnh Như đã đặt tên cho con là Xuân Thắng, như là một thông điệp gửi cho Long và bạn bè trong chiến khu niềm tin về một mùa xuân thắng lợi. Nhưng đau đớn và xót xa biết bao khi Long đã cùng Trần Triệu Luật ngã xuống vào buổi sáng 11-10-1968 sau một trận đánh bom ác liệt của máy bay Mỹ vào căn cứ của Ban tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam (B9). Quả bom 500kg của máy bay phản lực F105 của Mỹ đã rơi trúng ngay căn hầm của Long và Luật, đào thành một hố sâu hoắm, chỉ cách căn hầm tôi núp 15m. Trần Quang Long, Trần Triệu Luật đã hi sinh như thế đó...”.


49 năm sau ngày Trần Quang Long hi sinh, tôi lại muốn trở về với bài thơ đã 50 tuổi của anh. Một bài thơ trong trẻo suốt từ câu đầu tới câu cuối. Một bài thơ hừng hực lửa mà người ta chỉ viết ra một lần, xuất ra một lần, rồi ngắt. Bây giờ, sau bao nhiêu năm, tôi vẫn còn nhớ từng đoạn thơ trong bài thơ ấy.


Người ta chỉ có thể đi lên từ chính số phận của mình. Trần Quang Long với số phận hiện lên ở phần đầu bài thơ, đã đi tới một quyết định dấn thân gần như không thể khác: “Nếu thơ con bất lực/con xin nguyện trọn đời/dùng chính quả tim mình làm trái phá/sống chết một lần thôi”. Đó là trái tim một người thanh niên yêu nước có một số phận cụ thể, một nỗi uất hận và một khát khao cụ thể, chứ không hề là kết quả của tuyên truyền. Đã có một thời như thế với những con người như thế, ngay tại các đô thị miền Nam. Với những thanh niên sinh viên học sinh yêu nước trong các vùng Mỹ và chính quyền Sài Gòn kiểm soát, bài thơ Thưa mẹ, trái tim là sáng rõ từ đầu chí cuối, không cần phải bình giảng hay phân tích gì thêm. Họ đồng cảm với bài thơ không chỉ từ lời chữ trong bài thơ, mà từ trái tim từ dòng máu đỏ bật sáng trong từng câu thơ. Không phải nhà thơ nào cũng có thể viết được một bài thơ như thế. Thơ Trần Quang Long gợi tôi nhớ đến thơ của các nhà thơ Tây Ban Nha trong cuộc nội chiến chống phát xít Franco, khi những nhà thơ quyết không lùi, và cũng không có đường lùi.


“Trái tim là của con người/viết lịch sử mình trên mặt đất/bằng từng nét máu thắm tươi”. Trần Quang Long đã thành người phát ngôn của cả một thế hệ thanh niên yêu nước. Anh sẽ sống mãi cùng bài thơ Thưa mẹ, trái tim của anh.


'Nỗi sợ' của Du Tử Lê


Dù không đủ thời gian và điều kiện để đọc hết thơ của những nhà thơ Việt định cư ở nước ngoài, nhưng với những gì mình đã đọc, tôi có thể nói rằng hầu hết thơ của những nhà thơ xa quê hương đều đáng quý, đáng trân trọng. Đó là thơ của những thân phận người Việt, là thế giới nội tâm của người Việt luôn cảm thấy trong vô thức nỗi cô đơn của con người khi bị bật gốc, khi phải tha hương, thậm chí lưu vong. Đó là thơ của nỗi hoài nhớ, của những day dứt, những buồn vui đau khổ không thoát ngoài cái “danh tính” người Việt. Khi được hòa nhập vào thơ Việt hiện đại, thơ những người Việt định cư ở nước ngoài sẽ làm phong phú, làm giàu có thêm cho thơ Việt.


Còn nhớ có lần, nhà thơ Du Tử Lê - một nhà thơ Sài Gòn cũ từng có thời khoác áo lính Cộng hòa, nay định cư ở Mỹ - về Quảng Ngãi làm đám cưới cho con trai, đã đến thăm tôi. Dù chưa gặp nhau lần nào, trong chiến tranh lại từng ở hai chiến tuyến đối địch, nhưng chúng tôi đã hồ hởi chuyện trò với nhau như những người bạn. Khi tôi hỏi vì sao lâu nay anh không về thăm quê, anh Du Tử Lê thú nhận là anh... sợ. Sợ và ngại, chẳng biết những anh em văn nghệ, những nhà thơ đồng nghiệp trong nước sẽ đối xử với mình thế nào?


Sau cuộc chuyện trò và mời tôi tham dự đám cưới con trai lấy vợ Quảng Ngãi, anh Lê nói: “Nếu tôi biết gặp các anh mà vui và cởi mở thế này, tôi đã xin về thăm quê từ lâu. Nếu một lúc nào đó trong tương lai tôi xin về định cư tại... Quảng Ngãi, anh nghĩ sao?”. Còn nghĩ sao nữa, dĩ nhiên là một nhà thơ, tôi rất vui vì quyết định ấy của anh.


Nhà thơ Du Tử Lê cũng vui mừng báo tôi biết là NXB Văn nghệ TP.HCM đã đồng ý in lại một tập Thơ tình Du Tử Lê gồm những bài thơ tình yêu thời chiến tranh của anh. Tôi nói với Du Tử Lê là nếu anh in lại tại Việt Nam trường ca Mẹ về Biển Đông của anh, tôi tin tác phẩm này sẽ có tiếng vang. Theo tôi, đó là một trong những trường ca hiện đại viết bằng Việt ngữ hay nhất trong 30 năm qua. Năm 2003, khi có dịp ghé Paris, tôi đã được đọc trường ca này ở nhà một người bạn và tôi đã khóc.


Dù đi đâu về đâu thì người Việt vẫn là người Việt thôi. Và mẹ ta thì muôn đời vẫn là mẹ ta thôi! Tôi nghĩ, Hội Nhà văn nên có hẳn một kế hoạch dài hơi để tạm gọi là “Đưa thơ người Việt ở nước ngoài về quê hương”. Dĩ nhiên, đây chẳng dính dáng gì tới cái gọi là “Chuyển lửa về quê nhà” cả. Các nhà xuất bản cũng nên rộng rãi hơn trong chuyện cấp phép cho tác giả người Việt định cư ở nước ngoài có thể in thơ mình ở trong nước. Thơ, thật là thơ, bao giờ cũng mang tính nhân văn sâu sắc, vì nó là tiếng nói trực tiếp của tâm hồn con người. Nó phải tuyệt đối chân thành nếu muốn được đón nhận, nếu muốn tồn tại. Không có gì phải sợ thơ cả, nếu thực sự là những con người bình thường, những người đọc bình thường. Và đã là thơ thứ thiệt thì dù được sáng tác ở đâu, trong hoàn cảnh nào, cũng sẽ được đón nhận được đồng cảm nếu nó thực sự gây được một “từ trường đồng cảm”. Những nhà thơ, nhất là nhà thơ người Việt với nhau, cũng rất cần được giao lưu, được đọc nhau nhiều hơn nữa trong một thế giới hiện đại mà không phải bao giờ và ở đâu thơ cũng được quan tâm đúng như nó đáng được như thế.


Mấy năm gần đây, tôi có cơ hội đọc nhiều hơn những nhà thơ Việt ở hải ngoại. Với những bài thơ hay (dĩ nhiên theo cảm nhận của tôi) thì tôi đều đồng cảm. Khi đọc thơ người khác, tôi cũng chỉ là người đọc bình thường, và nếu thơ ấy hay (theo tôi) thì tôi nói là thơ ấy hay. Thế thôi. Và tôi nghĩ, đó cũng là cách đọc thơ trên toàn thế giới, không có bất cứ sự khác biệt nào.


Cách đây mấy năm, tôi có in bài thơ Một người lính nói về thế hệ mình trong một tuyển tập thơ Việt được dịch ra tiếng Anh và xuất bản tại Mỹ. Qua phản hồi, tôi biết nhiều người Mỹ, trong đó có những cựu binh Mỹ, rất thích bài thơ này. Đó là bài thơ viết trong chiến tranh, viết bởi một “Việt Cộng” là tôi, ở một chiến tuyến đối địch, nhưng khi thơ ấy chân thành, trong trẻo, nhân bản, nó vẫn được đón nhận bởi những người đọc ở quốc gia khác, thậm chí là ở những người vốn ở trong đội quân thù địch, gọi trắng phớ ra là đội quân xâm lược.


Khi những nhân vật chính trị hàng đầu ở “phía bên kia” thuở nào như ông Nguyễn Cao Kỳ (bây giờ ông Kỳ đã thành người thiên cổ) vẫn vui vẻ về nước và được đón tiếp rất ân cần trọng thị, thường xuyên xuất hiện trên VTV ở những chương trình Nhớ lại 30 năm chiến tranh Việt Nam, lại còn tham gia vào những dự án liên doanh kinh tế và du lịch hoành tráng, thì không vì lẽ gì mà những nhà thơ người Việt, những người đã ra đi trong những thời điểm khác nhau và nói chung cũng chẳng có tội tình gì, lại không được “trở về” cùng với thơ của mình?


Phá Tam Giang (Huế), nguồn cảm hứng cho bài thơ 'Chiều trên Phá Tam Giang' được nhiều người yêu thích của nhà thơ Tô Thùy Yên


Tôi là người đọc rất yêu mến thơ Tô Thùy Yên, yêu mến cả nhân cách của nhà thơ này thể hiện qua thơ anh.


Tô Thùy Yên từng là sĩ quan trong quân đội Sài Gòn, từng bị đi cải tạo nhiều năm sau 1975. Nhưng đọc thơ anh, chỉ thấy đau đớn, chỉ thấy xót xa và chỉ thấy một tâm hồn Việt không bao giờ muốn tách rời khỏi đất Mẹ của mình.


Cách đây chừng 25 năm, cũng vào độ cuối xuân, tôi có viết một bài thơ theo dạng cũ. Tôi vốn ít khi viết dạng thơ này, nhưng khi nhìn bông hoa hồng trồng trong chậu trên gác nhà mình, tự nhiên những câu thơ có vần chợt đến:


“Cuối xuân cây lá rung dìu dịu


Mình anh đối diện với hoa hồng


Con đường chợt khuất mưa rào níu


Vệt bánh xe buồn tới nẻo không


Bao người đã sống bao người sống


Nghe tiếng kêu chi khắc khoải lòng” (Không đề)


25 năm sau, tôi muốn mượn lại câu thơ mình để viết về thơ của nhà thơ Việt hải ngoại Tô Thùy Yên: “Nghe tiếng kêu chi khắc khoải lòng”.


'Khắc khoải lòng' thơ Tô Thùy Yên


Đúng là ở đời, dù ta muốn cách mấy, thì buồn vẫn nhiều hơn vui. “Cha mẹ sinh con trời sinh tính” nhưng tính buồn vẫn nhiều hơn tính vui. Chỉ có điều khi ta buồn, có lẽ chất người của ta lại nhiều hơn khi ta vui. Tôi chợt nhớ bài thơ Uống rượu với bạn đồng hương - một bài thơ thật cảm động của nhà thơ Yến Lan - nhớ nhất đoạn thơ này:


“Rồi năm tháng cách xa


Thành công chen thất bại


Có nỗi buồn khỏe ra


Có niềm vui chạnh mãi”


Nếu có niềm vui, khi nghĩ lại, khiến ta chạnh lòng, thì nhiều phen một nỗi buồn thanh sạch lại khiến lòng ta như “khỏe ra”. Cái khỏe ra của tâm hồn, không phải dễ để nhận thấy, nhưng nó hoàn toàn có thật.


Tôi nghe danh Tô Thùy Yên đã lâu, nhưng đọc thơ anh chậm hơn. Cũng một dịp may, khi tôi sang Paris dự Liên hoan Thơ quốc tế năm 2003, một tập thơ của Tô Thùy Yên đã đến với tôi tại quán Foyer Viet Nam của người bạn chủ quán - nhà thơ Võ Văn Thận.


“Ta về cúi mái đầu sương điểm


Nghe nặng từ tâm lượng đất trời


Cảm ơn hoa đã vì ta nở


Thế giới vui từ mỗi lẻ loi” (Ta về)


Những niềm vui nho nhỏ, “vui lẻ loi” ấy nhiều khi lại sống trong ta, giúp ta năng lượng sống nhiều hơn những “trận cười thâu đêm” mà chẳng biết có vui thật không. Bài thơ Ta về được Tô Thùy Yên viết sau hơn mười năm phải sống trong một trại cải tạo hậu chiến tranh. Đó có thể là thời gian dài nhất trong đời anh, nhưng cũng là thời gian khiến thơ anh đằm xuống một sức nặng khó tả. Đó là điều có lẽ không nhà thơ nào muốn, nhưng khi số phận đã “gõ cửa” đời ta, thì sự nhẫn nại chịu đựng lại làm nên một nhân cách thơ trầm tĩnh. Tôi chợt nhớ đến Josef Brodski và những vần thơ trong khổ nạn của ông. Những vần thơ hết sức trầm tĩnh, hết sức nhẫn nại:


“anh lại nghe tiếng hát những người tù


và tiếng bước chân người cai tù câm lặng


anh lại tự hát, hát trong im lìm:


Thôi từ giã nhé, tháng giêng” (Son-nê)


Năm 1961, tạp chí Sáng tạo (Sài Gòn) đã in bài thơ Lễ tấn phong tình yêu của Tô Thùy Yên. Năm ấy anh mới 23 tuổi, nhưng bài thơ dài đã xác lập trên thi đàn chiều kích của một nhà thơ lớn sắp sửa. 34 năm sau, vào 1995, tập Thơ tuyển của Tô Thùy Yên ra đời, khẳng định thi tâm và thi tài của nhà thơ Việt này. Nguyễn Du viết “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, nhưng tôi nghĩ, trong thơ, thì tâm và tài là 50-50. Phải có đủ cả 100% đó nhà thơ mới yên lòng, và thơ họ mới tự khẳng định. Xuất từ tâm, nhưng qua tài, thơ Tô Thùy Yên như muốn nói, nói mãi, nói hết nỗi lòng mình. Khi một bài thơ dài kết thúc, ta vẫn còn muốn đọc nữa, đọc nữa, và hình như còn gì nữa mà nhà thơ muốn nói tiếp.


Thơ Tô Thùy Yên lặng lẽ. Dù anh viết dài hay viết ngắn, thì thơ ấy vẫn lặng lẽ. Người đọc đồng cảm với thơ ấy, cũng trong lặng lẽ. Đó là thơ của Chim kêu bãi quạnh, hắt hiu và đau đớn:


“Cởi đôi giày vẹt, tấm áo tả


Xót xa như lột một lần da” (Chim kêu bãi quạnh)


Thơ ấy nhiều khi như bâng quơ, mà găm vào ta thật sâu:


“Mai có ai về ngang quãng sông này,


Xin ném cho hòn đất hỏi thăm” (Viễn Tây)


Khi người ta đã thấu lẽ tử sinh, đã thấu suốt phận người, thì:


“Nhớ, như cỏ, xô tràn…


Mơ, như mây, tản mạn…” (Đại Bình Nguyên)


Một nhà thơ như thế, có thể gọi là đạt đạo. Thì là đạo làm người, vậy thôi:


“Ở những mối đường tẽ ba tẽ bảy phân vân


Muốn xuống xe, làm như kẻ lang thang xưa,


Tung cao may rủi một đồng tiền hay một cành cây,


Nhờ tình cờ định hướng hộ” (Đại Bình Nguyên)


Không ai muốn rơi vào tâm trạng ấy để có thơ hay, nhưng khi đã lâm vào, thì chính những giọt thơ buồn như rượu mạnh sẽ giải thoát mình khỏi mọi trầm cảm. Tôi đọc bài thơ Đại Bình Nguyên của Tô Thùy Yên và chợt thoát ra với đúng cảm giác này của tác giả khi kết thúc bài thơ:


“Nước Mỹ này quá rộng và quá buồn


Anh không còn muốn tự định liệu”


Bởi tâm trạng của nhà thơ Việt nhập cư hôm nay không giống với tâm trạng của những người thuở xưa đi khai phá nước Mỹ, những chàng trai miền Viễn Tây cưỡi ngựa ngang tàng trên đồng cỏ. Rồi ngay trong lúc đó, chợt hiện về hình ảnh một kinh thành xa lắc:


“Nắng mưa đâu chẳng là mưa nắng


Sao nắng mưa này da diết hơn?”


Tô Thùy Yên sinh ở Nam bộ, hai câu thơ ấy lại viết về Huế, và tôi hiểu, với một nhà thơ Việt xa xứ, thì đất Việt đâu cũng quê nhà, đâu cũng đầy những nhớ thương day dứt. Nhà thơ Nam bộ ấy vừa nhớ Huế, thì bỗng nhớ ngay đến vùng sông nước quê mình:


“Mùa nước nổi qua mùa nước giựt,


Đốt tay nào Thân Dậu niên lai?


Em về giồng dưới, qua bưng gió,


Dạ bời bời nỗi sậy, niềm mây…” (Nhớ có lần, trên bến bắc khuya, nghe một ông lão đàn hát)


Người ta nói thơ Tô Thùy Yên vừa dân tộc vừa hiện đại, rồi có thể phân tích thi pháp thơ anh thế này thế khác. Tôi chỉ nói đơn giản: Thơ ấy hay. Khi thơ đã hay thì có thể nó gồm cả những gì người ta đã nói, hoặc nó chỉ là… thơ hay. Vậy thôi. Sao biết là thơ hay? Khi thơ ấy đi vào lòng người, thấm sâu vào tâm cảm ta, làm ta mỗi một buồn buồn nào cũng có thể nhớ vài câu thơ ấy, thế thì nó hay rồi. Và tôi muốn nói thêm: Tô Thùy Yên có thể rất giỏi tiếng Anh, nhưng anh chỉ có thể làm thơ bằng tiếng Việt. Điều này cũng không cần phân tích. Tôi chỉ cảm về thơ Tô Thùy Yên khi “Nghe tiếng kêu chi khắc khoải lòng”. Đó có thể là tiếng kêu buồn buồn xa vọng của con bìm bịp trên miền sông nước Cửu Long. Chỉ thế thôi.


Ngô Kha - người đãng trí can trường


Nếu Paul Eluard và Louis Aragon đã giã từ thơ siêu thực để đến với thơ yêu nước, thì ngược lại, Ngô Kha hòa trộn thơ yêu nước và thơ siêu thực, thơ về chiến tranh và thơ khao khát hòa bình, thơ siêu thực phương Tây và thơ đậm sắc màu dân tộc Việt. Đó là nhà thơ rất hiếm hoi trong tiến trình thơ Việt hiện đại, vừa tranh đấu với những mục tiêu cụ thể, vừa xuống đường đương đầu can trường với bạo lực đàn áp, vừa làm thơ lãng đãng như một người đãng trí - một người đãng trí hiền hậu thương con người, yêu cuộc sống và thiết tha với những hình ảnh bất chợt, những giấc mơ không bình yên và những thông điệp không phải lúc nào cũng sáng rõ. Nếu chúng ta đọc tiểu sử vắn tắt của Ngô Kha, rồi đọc từng đoạn trong Ngụ ngôn của người đãng trí của anh, chúng ta sẽ có được những mảnh ghép phối kỳ lạ giữa hình ảnh một nhà trí thức tranh đấu và hình ảnh một nhà thơ siêu thực đúng nghĩa.


 “Nhà thơ Ngô Kha, sinh năm 1935 tại làng Thế Lại, TP.Huế. Tốt nghiệp thủ khoa khóa 1, Đại học Sư phạm Huế (1958-1959), cử nhân Luật (1962). Dạy văn ở các trường Quốc Học, Hàm Nghi, Nguyễn Du, Trần Hưng Đạo, Huế từ năm 1960-1973. Tham gia "chiến đoàn Nguyễn Đại Thức", chiến đoàn quân đội chế độ cũ ly khai chống Mỹ - Thiệu - Kỳ, 1966. Chủ trương nhóm Trí thức đấu tranh Tự Quyết, 1970 và làm Chủ tịch Mặt trận Văn hóa Dân tộc miền Trung, 1972. Bị chính quyền chế độ cũ bắt 3 lần, vào các năm 1966, 1971, 1972 và bị thủ tiêu bí mật sau Hiệp định Paris, 1973. Được nhà nước truy phong liệt sĩ sau năm 1975”.


Và đây, một đoạn thơ trong trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí:


trong khu vườn tiền sử


dòng sông đen bắc cầu qua núi


với con voi ngà thời thượng cổ


hai chiếc sừng tráng lệ


mạch đất quê hương giờ lạnh rồi


sao mắt mẹ còn mở


sách trên án thư cũng ngủ khuây


nhưng hồn mẹ vẫn thao thức


con đã đi bao năm


mẹ không rời ngưỡng cửa


và nay


gió cũng tang bồng


nhưng thi sĩ vẫn nằm yên trong nhà tù vĩnh cửu.


Đây có lẽ là đoạn thơ sáng rõ nhất trong bản trường ca hơn 700 câu thơ này, bản trường ca Ngô Kha viết chính trong thời điểm khốc liệt nhất của cuộc đời anh, khi anh dấn thân tranh đấu và bị tù đày, khi anh vừa dạy học vừa tham gia các tổ chức đối lập với chính quyền Sài Gòn, vừa chống cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ vừa nêu cao những bài giảng về lòng yêu nước cho học sinh của mình. Nhiều bạn hữu, nhiều đàn em, nhiều học sinh của Ngô Kha đã không bao giờ quên được dáng vẻ hiền hậu và tinh thần trí thức của anh, sự độc lập trong suy nghĩ và sự quyết liệt trong hành động yêu nước của anh. Vậy mà nhà thơ ấy, khi làm thơ, lại làm thơ… siêu thực. Như dòng sông Hương chảy qua trước nhà Ngô Kha ở 42 Bạch Đằng, Huế, vừa phẳng lặng hiền hòa vừa chất chứa những sóng ngầm những linh hồn những cổ vật những câu chuyện cổ tích từ bao đời, thơ Ngô Kha cũng giống hệt dòng sông Hương thương thiết của anh.


Trong sáng tạo thơ ca và trong số phận Ngô Kha có gì cứ khiến tôi nhớ đến Federico Garcia Lorca - nhà thơ siêu thực và yêu nước vĩ đại của Tây Ban Nha. Lorca cũng làm thơ siêu thực, và cũng đấu tranh chống chế độ độc tài của phát xít Franco, và cuối cùng, cũng bị bọn phát xít thủ tiêu vào năm 1936, đúng như cái cách Ngô Kha đã bị thủ tiêu sau đó 37 năm, vào năm 1973. Hài cốt Lorca và Ngô Kha đều vĩnh viễn không được tìm thấy, vĩnh viễn hài hòa trong Đất Mẹ. Lorca (1898-1936) và Ngô Kha (1935-1973) đều bị thủ tiêu ở tuổi 38. Cả Lorca và Ngô Kha đều có những bài thơ như nhìn thấy trước cái chết của chính mình.


người say rượu lẩm nhẩm một mình


mùa hè có tuyết đen tuyệt đẹp


tôi vụt chạy bỏ linh hồn ở đó


không có đứa con gái, đứa con trai, người say rượu


chỉ có quả gấc hồng hào rực ánh lửa chiến tranh


người con gái đứng nhìn cánh sao lạc loài


trên nét mặt hiền hòa bất động của em


tôi thấy nốt ruồi son chói lọi


tiếng chim sành hót trong tiềm thức người say rượu


vỏ cây nứt một loài hoa vô sắc


tôi lạc vào miền vô vi


bài diễn văn cuốn theo lớp lá khô


người say rượu uống nhựa thông nằm chết tình cờ


đêm sửa soạn bài ngụ ngôn của người đãng trí


lá từ giã cành cây làm lễ đọc kinh


người con gái lặng yên xem chúc thư


bó hoa tôi mang đến dòng sông bây giờ đã héo.


Ngô Kha đã nhìn thấy trước cái chết của mình như vậy đó. Nhưng anh không lùi bước, không trốn chạy. Anh bình thản đón nhận cái chết từ những kẻ giết người hèn nhát và giấu mặt. Đúng như cách Lorca đón nhận cái chết của mình từ lũ sát nhân phát xít.


Vì sao lại là thơ siêu thực?


Có lẽ vì thơ siêu thực “đột nhập” được vào những khoảng bất chợt trong tâm hồn sâu thẳm con người, với những hình ảnh mờ chồng tự động và nhiều khi sẫm tối, nó phát hiện cho ta thấy sự phong phú nhiều khi đáng kinh ngạc của đời sống nội tâm một con người, ở đây là một thi sĩ. Thơ siêu thực không dễ làm, và dĩ nhiên, khó hay, nhưng khi đã thành công, thì nó vụt sáng. Đó cũng là phần không thể thiếu được trong thơ ca hiện đại. Khi chọn hình thức thơ siêu thực, một trí thức tranh đấu can trường như Ngô Kha đã chọn cho mình một phương thức biểu đạt không trực tiếp. Thơ Ngô Kha không làm khẩu hiệu xuống đường như thơ Trần Quang Long, nhưng nó cần thiết biết bao cho tâm hồn con người đương đại. Ngay trong cuộc chiến đấu, con người vẫn là một sinh thể vô cùng phức hợp, và thơ siêu thực cũng là một trong những nhu cầu tinh thần của con người. Trong cuộc kháng chiến vì Độc lập Tự do của dân tộc ta, đã xuất hiện nhiều dạng thơ yêu nước, và mỗi dạng thơ đều có đóng góp riêng của mình vào cuộc tranh đấu ấy. Vui mừng biết bao, khi trong dòng thơ lớn ấy, có thơ siêu thực của nhà thơ-liệt sĩ Ngô Kha. Anh chính là một F.G.Lorca của Việt Nam, với cây đàn lya và bài ca lãng đãng trên con đường đơn độc về một miền xa thẳm nào.


Tôi yêu Lorca. Tôi yêu Ngô Kha. Những nhà thơ quý hiếm như luôn sống mãi trong tâm hồn dân tộc mình, trong hành trình về tương lai của đất nước mình. Những kẻ sát nhân luôn bị quên lãng, bị lịch sử bỏ qua. Còn những nhà thơ-liệt sĩ thì luôn được tưởng nhớ bởi nhiều thế hệ.


'Mẹ về biển Đông' - một khát mong day dứt


Lặp lại như một leitmotiv trong âm nhạc. Lặp lại như tiếng khóc hời cất sâu trong tâm tưởng của đứa con khi vĩnh biệt mẹ mình. Ở một nhà quàn sạch sẽ và lạnh lẽo trên đất Mỹ. Sạch sẽ, lạnh lẽo và xa lạ. Tất cả những cảm giác đó luôn được nhắc đi nhắc lại trong suốt bản trường ca.


Lạnh và đau. Đó là cảm giác xuyên suốt bản trường ca:


“ai? thân xác tám mươi lăm năm lầm lũi


tám mươi lăm năm chưa trọn tiếng cười?


đời vay trả ngày nào tôi mới chết?


những chân về có gọi bước đi lui


chiều cuối mộ, liệu ai ngồi nhớ lại


những chia lìa, đứt một sớm mai”


Lạnh và đau. Đó là cảm giác của đứa con trai - nhà thơ Du Tử Lê - khi từ biệt mẹ mình trên đất Mỹ.


Thơ Du Tử Lê rất nặng tình. Mẹ về biển Đông là điển hình cho phong cách thơ nặng tình ấy. Dù nhân vật “tôi” trong trường ca luôn cố ra tỉnh táo khi ngồi một mình trong nhà tang lễ và suy nghĩ, nhớ lại biết bao điều cùng mẹ mình.


Đó là những vân vi kể lể đi giữa tỉnh và tỉnh, đi giữa tỉnh và mê. Đó là lúc tác giả ngồi nhớ lại suốt đời mình, suốt đời mẹ mình, một người mẹ bình sinh chỉ biết lo áo cơm cho gia đình, lo mồ mả cho ông bà, cuối đời sang Mỹ sum họp với con cháu, thì chỉ mấy năm sau, mấy năm ngắn ngủi, bà đã nằm xuống.


Đây là một số phận, số phận bà mẹ của nhà thơ Du Tử Lê. Nhưng vì sao đọc những đoạn thơ với tâm trạng khác nhau, ta chợt nhận ra bà mẹ đó cũng là mẹ mình, cũng là bà mẹ Việt Nam không lam lũ thì cũng khổ nghèo, không khổ nghèo thì cũng khổ tâm, không khổ tâm thì cũng khổ hạnh. Có mấy khi những bà mẹ của chúng ta được sung sướng, được thanh thản. Suốt đời lo cho con, hết con rồi tới cháu, và còn tới đâu nữa.


“không bao giờ nữa, tôi, buổi sáng, và lộ trình tử biệt kia


người ta sẽ đưa mẹ tôi tới một nơi chốn khác


nơi chốn không hề thuộc về bà


quê hương bà ở một nơi nào khác


một nơi nào


khác hơn ngôi nhà quàn này


(biển Đông tiễn mẹ tôi đi


liệu có đón bà về, cửa cũ?


cửa nghìn năm xanh một lũy tre)


tôi nghĩ


không một bà mẹ Việt Nam nào


muốn chết ngoài đất nước”


 “tôi nghĩ


không một bà mẹ Việt Nam nào


muốn chết ngoài đất nước”


Mẹ về biển Đông - Du Tử Lê


Vâng, không một bà mẹ Việt Nam nào muốn chết ngoài đất nước, dù cái chết thì không ai tránh khỏi. Khi viết hẳn một trường ca về mẹ mình, Du Tử Lê đã đột nhiên có một bứt phá trong thi pháp. Anh có thể viết như một nhà thơ Mỹ viết về mẹ mình, rồi đột nhiên, lại trở về những dòng thơ cổ điển Việt Nam của một nhà thơ Việt, và giữa những đoạn thơ hiện đại, những đoạn thơ cổ điển Việt như tà áo tứ thân của người mẹ chợt bay lên, rung lên trong ta một nỗi gì sâu thẳm. Yêu mẹ mình cũng là yêu nước. Hãy viết những câu thơ thật lòng nhất về mẹ mình, và tự nhiên, anh sẽ tìm ra một thi pháp của riêng mình. Vì mỗi chúng ta đều có một người mẹ, và tình yêu phải bắt đầu từ những gì riêng tư nhất nhỏ bé nhất.


Tôi đọc những câu thơ kể lể buồn bã của Du Tử Lê như đọc những đoạn kinh cầu, dù có thể tác giả không nghĩ mình đang viết một requiem (khúc nguyện cầu) vì nó có vẻ to tát quá. Anh, đơn giản, chỉ là đang kể lể, đang than khóc một mình, về cái chết và cuộc đời của mẹ mình. Trong tận cùng của nỗi đau riêng ấy, nhà thơ nhớ lại quê nhà mình, những tháng năm mình lớn lên ở một làng quê Việt. Những người bị bật gốc, những người phải sống lưu vong đều có chung một nỗi đau, một nỗi buồn, và mỗi khi hồi tưởng, họ đều hồi nhớ về quê hương mình. Hiện thực khi đã được lọc qua hồi ức, qua tâm trạng, qua những giằng xé, sẽ hiện lên da diết hơn, đau đớn hơn và thấu suốt hơn.


Với trường ca Mẹ về biển Đông của Du Tử Lê, người ta chỉ có thể đọc từng đoạn, đọc từng chương. Những khoảng nghỉ, những cú ngắt, những nhịp hẫng trong trường ca này lại cho ta một khoảng lặng để ngẫm ngợi. Đời sống thật hữu hạn, nhưng tình thương yêu thì vô hạn. Dù mẹ ta có sống tới trăm tuổi, rồi cũng tới lúc phải bỏ ta mà đi về cõi khác. Nhưng tình thương yêu với mẹ, tình mẹ với con thì còn lại với cuộc đời qua hết thế hệ này tới thế hệ khác.


“Tôi tìm ra nhà quàn dễ dàng hơn mình tưởng”


Nhưng tìm lại gương mặt nhiều khổ đau vất vả của một đời mẹ mình thì không dễ.


Tôi là người đọc rất yêu mến thơ Tô Thùy Yên (Ủa! Thanh Thảo đang viết về Du Tử Lê mà? Lẫn rồi!-TX), yêu mến cả nhân cách của nhà thơ này thể hiện qua thơ anh.


Thơ giúp chúng ta làm điều đó, vì mỗi nhà thơ đều có mẹ của mình. Và đều có những cuộc trở về với mẹ mình. Trở về với mẹ, cũng là trở về với quê cha đất tổ. Trở về với Tổ quốc mình. Mỗi người có một số phận. Nhưng còn số phận chung của đất nước. Mỗi người đều có mẹ của riêng mình. Nhưng còn có Mẹ-Việt-Nam cho mỗi người con Việt. Dù ở đâu, với ai, thì cũng có lúc nhớ về, tìm về. Có khi vui tươi thì tìm về. Có khi đau khổ lại càng tìm về.


Mẹ về biển Đông là một tượng trưng, nhưng không hề siêu thực.


Du Tử Lê là một nhà thơ giàu cảm xúc, một nhà thơ đa cảm. Nhưng vượt lên, anh còn là nhà thơ Việt hiếm hoi viết cả một trường ca về mẹ mình. Chúng ta đọc, và nhớ nghĩ về mẹ chúng ta. Chỉ như thế, chúng ta đã có cơ hội trở thành những người con có hiếu. Tôi mong một ngày không xa, trường ca Mẹ về biển Đông sẽ có ấn bản in tại Việt Nam, như một ước nguyện thầm lặng của mẹ nhà thơ khi qua đời tại xứ người. Và khi đó, linh hồn người mẹ nhiều vất vả của Du Tử Lê mới thực sự về yên nghỉ giữa quê hương mình.


Thơ kết nối tất cả chúng ta.


Thanh Thảo


 


thanhnien.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Nghe Tô Hoài, đọc lại Vũ Bằng - Đỗ Trung Lai 02.10.2017
xem thêm »