tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20780144
Lý luận phê bình văn học
16.03.2017
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học (40)



Chương thứ hai


LÝ TƯỞNG CỦA HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT CỔ ĐIỂN


Ở trên, khi khảo sát cái đẹp nói chung ở trong nghệ thuật, chúng ta đã thấy bản chất thực sự của lí tưởng là ở đâu. Ở đây chúng ta phải xét lí tưởng theo cái nghĩa chuyên môn là lí tưởng cổ điển, một khái niệm mà chúng ta bây giờ phải nói tới chỉ tóm lại ở chỗ nghệ thuật cổ điển thực tế đạt được và nêu bật được cái làm thành khái niệm sâu xa nhất của nó. Nghệ thuật cổ điển tự cấp cho mình một nội dung bằng cách sắp nhập tự nhiên và các sức mạnh của tự nhiên vào lĩnh vực của mình và, do đó, thể hiện mình không phải như là một cái gì thuần túy nội cảm và thống trị yếu tố tự nhiên. Nó lấy diện mạo con người, việc làm và những hành động của con người làm hình thức, qua những điều đó nó bộc lộ rõ rệt yếu tố tinh thần bằng cách duy trì quyền tự do hoàn toàn của mình, và bằng cách thể hiện ở trong cái mặt cảm quancủa diện mạo không chỉ với tính cách một cái bên ngoài chỉ nhắc đến tinh thần một cách tượng trưng, mà còn với tính cách một sự tồn tại ăn khớp của tinh thần. Bây giờ ta có thể đưa ra một sự phân chia sau đây cụ thể hơn của chương này.


Thứ nhất, chúng ta chỉ khảo sát tính chất chung của lí tưởng cổ điển trong đó nội dung cũng như hình thức của nó đều thuộc về cái thế giới nhân tính, và tìm cách thực hiện một sự tương ứng và một sự dung hợp giữa hai mặt.


Thứ hai, bởi vì đây, mặt nhân tính biểu lộ hoàn toàn ở trong hình dáng con người cũng trong hình tượng bên ngoài nên nó trở thành một diện mạo bên ngoài nhất định chỉ ăn khớp với một nội dung nhất định. Vì vậy lí tưởng xuất hiện trước mắt ta đồng thời dưới hình thức cái đặc thù và làm nảy sinh một sự tập hợp những vị thần cá biệt và những sức mạnh của sự tồn tại con người.


Thứ ba, cái cá biệt không chỉ dừng lại ở trạng thái một đặc trưng trừu tượng duy nhất, mà tính chất chủ yếu của nó sẽ làm thành tất cả nội dung và cái nguyên lí phiến diện của sự miêu tả. Nhưng đồng thời, nó lại làm thành một tổng thể ở bản thân mình cũng như làm thành sự thống nhất và sự nhất trí cá biệt của tổng thể này. Nếu không có một nội dung phong phú như vậy thì cái cá biệt sẽ trở thành nghèo nàn và trống rỗng và sẽ không có sức sống mà nếu thế thì sẽ không thể có lí tưởng.


Bây giờ chúng ta phải khảo sát lí tưởng nghệ thuật cổ điển chi tiết hơn ở ba phương diện tính khái quát, tính đặc thù và tính đơn nhất cá biệt.


 


      i.           Lý tưởng của nghệ thuật cổ điển nói chung


 


Ở trên, chúng ta đã đề cập tới vấn đề nguồn gốc các vị thần Hy Lạp trong chừng mực họ làm thành cái trung tâm thực sự của sự miêu tả có tính chất lí tưởng và chúng ta đã thấy rằng những vị thần này là lấy ở trong lĩnh vực của cái truyền thống đã được nghệ thuật hoán cải. Sự hoán cải này chỉ có thể thực hiện bằng cách hạ thấp về hai mặt: một mặt, hạ thấp những sức mạnh phổ biến của tự nhiên cũng như nhân cách hóa chúng, và mặt khác hạ thấp động vật, có nghĩa tượng trưng và hình thức của chúng, để nhờ vậy có được một nội dung thực sự tinh thần và có được diện mạo con người với tính cách hình thức thực sự.


 


a.       Lí tưởng với tính cách sản phẩm của hoạt động nghệ thuật tự do.


 


Bởi vì lí tưởng cổ điển chỉ có thể tồn tại bằng cách hoán cải cái cũ, cho nên cái mặt gần nhất của lí tưởng mà chúng ta phải nêu lên đó là lí tưởng nảy sinh từ tinh thần và, do đó, xuất hiện từ những cảm nghĩ thâm trầm nhất và độc đáo nhất của các nhà thơ và các nghệ sĩ. Họ đã sáng tác điều đó trong khi nhận thức mục đích của sự sáng tạo nghệ thuật với một năng lực xét đoán rõ ràng và tự do. Hiện tượng thần thoại Hy Lạp xây dựng trên những truyền thống cổ xưa hơn và có những yếu tố vay mượn ở bên ngoài, ở phương Đông, có vẻ chống lại sự kiện này. Hêrôđôt chẳng hạn, mặc dầu trong đoạn chúng tôi đã dẫn, nói rằng Hômerơ và Hêxiôt đã sáng tạo các vị thần cho người Hy Lạp, nhưng trong những đoạn khác của quyển Sử ký thì lại nối liền chặt chẽ những vị thần Hy Lạp này với các vị thần Ai Cập và các vị thần khác. Bởi vì trong quyển sách thứ hai (chương 49) ông nói trực tiếp rằng Mêlămpơ đã mang đến cho những người Hêlen tên gọi Điônixôt, ông ta đã đưa việc thờ sinh thực khí vào trong tất cả các lễ hiến tế, song với một vài điều sửa đổi bởi vì Mêlămpơ chắc hẳn đã biết được việc thờ Điônixôt nhờ người thành Tia là Catmut. Những lời nói mâu thuẫn nhau như vậy gần đây đã gây nên một hứng thú to lớn nhất là nhờ những khảo sát của Kroixơ. Kroixơ muốn tìm ở Hômerơ những điều huyền bí cổ xưa cũng như tất cả các yếu tố đã nhập vào Hy Lạp: tất cả những yếu tố Á châu, Pêlagiơ, Đôđôn, Traxơ, Xamôtraxơ, Frigi, Ấn Độ , Phật giáo, Phênixi, Ai Cập, Ocphê, đó là không nói đến vô số những việc thờ phụng có tính chất địa phương và các ảnh hưởng riêng biệt khác.


Điều mới nhìn có vẻ mâu thuẫn với quan điểm xuất phát cho rằng người Hy Lạp đã thừa kế nhiều nguồn gốc như vậy đó là lời khẳng định cho rằng Hômerơ và Hêxiôt đã cấp tên gọi và diện mạo cho các vị thần. Song truyền thống và sự sáng tạo độc lập hoàn toàn có thể hợp nhất với nhau. Truyền thống làm thành điểm xuất phát; nó truyền lạin yếu tố tạo thành nhưng không truyền lại nội dung thực sự và hình thức chân thực của các vị thần này. Nội dung này các nhà thơ nói trên đã lấy từ tinh thần của họ, và bằng một công trình hoán cải tự do, họ đã tìm thấy cái hình thức tương ứng với nội dung này, và nhờ vậy, họ đã trở thành những người sáng tạo cí thần thoại trong nghệ thuật Hy Lạp làm chúng ta thán phục. Song các thần của Hômerơ không phải vì thế mà trở thành những sáng tạo thuần túy chủ quan, hay trở thành một sự xây dựng giả tạo. Họ bắt rễ từ trong tinh thần và tín ngưỡng của nhân dân Hy Lạp và từ những cơ sở tôn giáo dân tộc của họ. Họ làm thành những quyền lực và những sức mạnh tuyệt đối, làm thành cái cao nhất trong biểu tượng Hy Lạp, điểm tập trung của cái đẹp nói chung, một cái mà chính nữ thần văn nghệ đã đem đến cho nhà thơ.


Trong sự sáng tạo tự do này, nghệ sĩ giữ một địa vị khác hẳn địa vị của nhà nghệ sĩ phương Đông. Các nhà thơ và các triết nhân Ấn Độ cũng xuất phát từ truyền thống: các yếu tố tự nhiên, bầu trời, động vật, sông ngòi v.v… hay cái khái niệm trừu tượng thuần túy của một Braman không có nội dung cũng khong có hình thức. Song cảm hứng của họ là sự phá hủy mặt nội cảm của tính chủ thể, mặt này nhận được một nhiệm vụ vất vả và thay đổi các đối tượng bên ngoài nó. Do chỗ hư cấu của họ không có mức độ, không có một xu hướng vững chắc và tuyệt đối, cho nên một cảm hứng như vậy không thể thực sự tự do và đẹp đẽ trong những sáng tác của nó mà là một sự sáng tạo lộn xộn và một sự lầm lạc ở trong tài liệu. Họ cũng giống như một nhà kiến trúc không có được một miếng đất tự do. Những di tích cổ để lại, những bức tường, những ngọn đồi, những tảng đá nhô ra không hài hòa với những mục đích riêng mà họ phải căn cứ vào đấy để dựng lên những kiến trúc của họ, những điều đó đã cản trở họ bắt buộc phải sáng tạo ra một tác phẩm dã man, thiếu hài hòa, quái đản. Điều họ sáng tạo ra không phải là một sáng tạo của trí tưởng tượng tự do tinh thần làm chủ.


Mặt khác, các nhà thơ Do Thái cổ cho ta biết những khải phát mà họ đã nhận được của Chúa, thành ra ở đây nữa, nguồn gốc sáng tạo là một cảm hứng không tự giác, cô lập, tách rời khỏi cá nhân và tinh thần sáng tạo của nghệ sĩ. Nói chung, ở giai đoạn cái trác tuyệt, thì yếu tố trừu tượng và vĩnh viễn được trực giác và được nhận thức như một cái gì gắn liền với những cái khác và ở bên ngoài nó.


Trong nghệ thuật cổ điển, các nghệ sĩ và các nhà thơ cố nhiên cũng là những người tiên tri, những thầy giáo dạy dỗ và phát hiện cho loài người thấy cái Tuyệt đối và cái thần linh. Nhưng họ khác ở những điểm sau đây:


(aa) Thứ nhất, nội dung các vị thần của họ không chỉ gồm những yếu tố vay mượn ở tự nhiên ở ngoài tinh thần con người hay những khái niệm trừu tượng của một Thượng đế duy nhất, trong lúc đó công việc của nghệ sĩ chỉ là một sự sáng tạo hời hợt hay một cảm nghĩ bên trong không có hình thù. Trái lại, nội dung của họ là vay mượn ở tinh thần của con người và ở những điều kiện tồn tại của nó; nhờ đó, nó là một sáng tạo của trái tim con người, một nội dung gắn liền với con người, làm thành một bộ phận của con người, thành ra cái con người sáng tạo là biểu hiện đẹp đẽ nhất của chính y.


(b)      Thứ hai, các nghệ sĩ đồng thời lại là những sáng tạo, những người xây dựng cái chất liệu và cái nội dung để cấp cho nó một hình thức tự do chr dựa vào bản thân. Về mặt này các nghệ sĩ Hy Lạp đã tỏ ra là những nhà thơ thực sự sáng tạo. Họ đã đúc lại vào một lò tất cả những bộ phận tạo thành từ những nguồn gốc xa lạ, song họ không tạo thành một sự pha trộn như trong cái nồi của những mụ phù thủy. Trái lại, họ đã tiêu hủy trong ngọn lửa tinh khiết của một tinh thần cao quí tất cả những gì mơ hồ, tự nhiên, vẩn đục, xa lạ, quá kích thước. Trong khi đúc tất cả những cái này với nhau, họ đã làm nổi bật cái hình thức thuần túy bằng cách chỉ giữ lại những điều nhắc gợi yếu ớt tới cái chất liệu đã được sử dụng để tạo nên. Về mặt này, công việc của họ một phần là nhằm loại trừ cái xấu xí, cái không có hình thù, và cái mơ hồ mà họ bắt gặp ở trong tài liệu của truyền thống, một phần là nhằm nêu bật cái yếu tố thực sự tinh thần mà họ phải cá tính hóavà tìm kiếm hay sáng tạo cho nó một hiện tượng bên ngoài ăn khớp với nó. Ở đây, diện mạo con người và hình thức những hành vi và những biến cố của con người (cái này không còn làm thành một sự nhân cách hóa đơn thuần) lần đầu tiên cần phải xuất hiện, như chúng ta đã thấy, với tính cách hiện thực duy nhất thích hợp. Kể ra, những hình thức này đã được nghệ sĩ tìm thấy trước ở trong hiện thực. Song nghệ sĩ cần phải loại trừ ở đấy tất cả những yếu tố ngẫu nhiên và không thích hợp; chỉ sau khi làm như vậy chúng mới có thể tỏ ra ăn khớp với cái nội dung có tính chất tinh thần của bản chất con người, bản chất này vì được biểu hiện đúng với thực chất của nó cho nên trở thành một biểu tượng về những sức mạnh vĩnh viễn và về những thần linh.


Đó là sự sáng tạo tự do, có tính chất tinh thần, không phải là một sáng tạo võ đoán của nghệ sĩ.


(c)      Thứ ba, bởi vì các vị thần không phải tồn tại một mình mà họ hoạt động ở trong cái hiện thực cụ thể của tự nhiên và của những biến cố của con người, cho nên nhiệm vụ của nhà thơ lại còn là cốt nhận ra được sự có mặt và hoạt động của các thần trong những công việc của con người, giải thích những nét độc đáo trong các biến cố của tự nhiên, trong các hành động và các số phận của con người trong đó các sức mạnh của thần linh hình như can thiệp vào và, do đó, làm một phần nhiệm vụ của người tăng lữ, nhiệm vụ của một mantis. Theo quan niệm của sự suy nghĩ nôm na của chúng ta ngày nay, chúng ta giải thích các hiện tượng của tự nhiên bằng những qui luật chung và những sức mạnh chung và giải thích các hành động của con người bằng những ý định bên trong và những mục đích được nhận thức. Còn các nhà thơ Hy Lạp tìm ở khắp nơi sự can thiệp của thần. Trong khi biến đổi các hành động của con người thành những hành vi của thần, đồng thời họ đã tạo nên những lĩnh vực khác nhau trong đó bộc lộ ý muốn của thần linh. Từ một số lớn những giải thích như vậy, ta có nhiều hành vi trong đó bộc lộ một vị thần nào đó là gì.


Chẳng hạn, khi đọc qua các trường ca của Hômerơ chúng ta không tìm thấy ở đấy có thể nói một biến cố nào quan trọng mà không được cắt nghĩa bằng ý muốn hay bằng sự giúp đỡ thực sự của thần. Nhưng cách giải thích này biểu hiện cách nhìn các nhà thơ, niềm tin tưởng họ tạo nên, thế giới quan của họ dưới cái hình thức mà Hômerơ thường nêu lên nhân danh tác giả hay một phần đưa vào miệng các nhân vật của mình, tức là các tăng lữ hay các anh hùng. Chẳng hạn ngay từ đầu tác phẩm “Iliat” (I, câu 9 – 12), ông đã giải thích bệnh dịch hoành hành ở trong doanh trại Hy Lạp bằng lòng giận dữ của Apôlông và chỗ Agamemnôn không muốn trả con gái của Kridet cho Kridet, và sau đó Hômerơ khiến Concat giải thích điều đó cho những người Hy Lạp (I, câu 94 -100)


Hômerơ trong ca khúc cuối cùng của “Ođixê” ở chỗ Hecmet đi theo những người cầu hôn đã bị giết chết tới cách đồng hoa nhật quang lan. Ở đấy họ bắt gặp Asin và các vị anh hùng khác đã từng chiến đấu dưới chân thành Troa và cuối cùng, (Agamemnôn cũng đến đây) nói rằng Agamemnôn miêu tả cái chết của Asin như sau (“Ođixê” XXIV, câu 41-63):


“Những người Hy Lạp đã chiến đấu suốt ngày và chỉ sau khi Dơt đã tách các chiến sĩ, họ mới mang cái thi hài cao quí tới các chiến thuyền, tắm cho nó, vừa tắm vừa chảy nước mắt và lấy mỡ xức cho nó. Đột nhiên ở trên mặt biển nổi lên một tiếng động thần linh, và những người Akêen hoảng hốt đáng lí đã nhảy lên những chiếc tàu nếu như Nexto một ông già biết nhiều điều và trước đây những lời khuyên đã tỏ ra là những lời quí báu nhất, không giữ họ lại”. Nexto giải thích cho họ hiện tượng này và nói: “Đó là bà mẹ Asin đã xuất hiện từ đáy biển với các tiên nữ bất tử ở ngoài biển để nhìn đứa con trai đã chết”. Bây giờ, họ hiểu tại sao lại như vậy. Họ đoán biết một điều có tính chất con người: bà mẹ trong tình trạng tang tóc đến đón Asin là con trai của bà, bà khóc thương; chính mắt họ thấy và chính tai họ nghe bản thân họ là cái gì. Và Agamemnôn tiếp tục câu chuyện, quay về phía Asin, miêu tả nỗi buồn của mọi người: “Xung quanh anh, là những cô gái của ông già dưới biển khóc than mặc những quần áo thấm nhuần thần tửu. Các nữ thần văn nghe, tất cả chín người thay thế nhau than thở và ca hát và tiếng hát của họ hay và cảm động đến nỗi không một người Akêen nào có thể cầm được nước mắt. Nhưng trong “Ođixê” có một sự xuất hiện khác của thần linh đã làm tôi chú ý nhất. Chàng Ođixê đi lưu lạc đến với những người Phêaxi (“Ođixê” VIII, câu 159 – 200), dự những trò chơi của họ và khi Ơrialôt mắng nhiếc chàng về chỗ chàng không tham dự về trò chơi ném đĩa, Ođixê trả lời bằng những lời nhát gừng bực bội, đôi mắt sa sầm ủ dột. Đoạn chàng nắm lấy cái đĩa lớn nhất và nặng nhất và ném nó đi xa hơn mục tiêu rất nhiều. Một người Phêaxi đánh dấu chỗ rơivà bảo chàng: “Ngay một người mù cũng có thể thấy hòn đá; nó nằm xa vượt quá những hòn khác; trong cuộc đọ tài này anh không còn phải sự gì nữa: không một người Phêaxi nào ném được xa như anh và không ai có thể thắng anh”. Anh ta nói như vậy và chàng Ođixê thần linh đã đau khổ nhiều mừng rỡ về chỗ nhìn thấy một người bạn ân cần trong số những người có mặt ở cuộc chơi.


Hômerơ giải thích những lời nói ân cần cổ vũ này của người Phêaxi là một sự biểu hiện thân mật của Athêna.


 


b.       Những vị thần mới của lí tưởng cổ điển.


 


Chúng ta còn có thể hỏi những sản phẩm của phương thức hoạt động này của nghệ thuật cổ điển là những gì và bản chất các vị thần mới của nghệ thuật Hy Lạp là gì.


(a)      Biểu tượng khái quát nhất, đồng thời hoàn mĩ nhất về bản chất của họ là cái cá tính tập trung của họ, trong chừng mực cá tính này là gồm nhiều hiện tượng thứ yếu, nhiều hành vi và biến cố cá biệt tập trung vào một tiêu điểm làm thành một thể thống nhất đơn giản với chính mình.


(aa) Trong các vị thần này, trước hết chúng ta chú ý tới cá tính tinh thần cốt tử của họ, cái này sau khi quay trở về bản thân từ cái ngoại hiện đa dạng của những nhu cầu riêng biệt và sự theo đuổi nhiều mục đích, đã yên ổn dựa trên một cơ sở sáng rõ và vĩnh viễn, là cơ sở được tạo nên bởi tính phổ biến của họ. Chỉ có nhờ các vị thần mới xuất hiện trước mắt ta thành những sức mạnh vĩnh viễn, cái quyền lực không thể phá vỡ được của họ trở thành hiển nhiên không phải trong cái lĩnh vực đặc thù bên ngoài đan chéo với họ mà ở trong tính bất biến và tính vững chắc của chính họ.


(bb) Nhưng mặt khác các vị thần này không phải là một điều trừu tượng đơn thuần của tính phổ biến có tính tinh thần và, do đó, không làm thành cái gọi là những lí tưởng phổ biến. Bởi vì các vị thần là những cá nhân nên họ đóng vai một lí tưởng có sự tồn tại ở bản thân và vì vậy có một đặc tính cụ thể tức là có tính cách tinh thần. Nếu không có tính cách thì không xuất hiện một cá tính nào hết. Về mặt này, cơ sở những vị thần có tinh thần, như đã nhìn thấy ở trên, là một sức mạnh nào đó của tự nhiên và tinh thần hòa hợp với nó để tạo nên một bản chất đạo đức rồi bản chất này cấp cho mỗi vị thần một phạm vi hoạt động cụ thể làm thành lĩnh vực riêng của mình. Những mặt và những nét đa dạng xuất hiện với những đặc điểm này, vì được qui về thể thống nhất giản đơn với bản thân, làm thành tính cách của các vị thần.


(cc) Song ở trong lí tưởng chân chính, sự qui định này không được bó hẹp gắt gao và chuyển thành tính phiến diện của tính cách, trái lại cần phải xuất hiện một cách đều đặn, bằng cách quay trở về tính phổ biến của yếu tố thần linh. Như vậy, mỗi vị thần trong khi mang ở mình một đặc trưng có tính thần linh, đồng thời lại là một cá tính phổ biến, một phần đây là một tính cách nhất định, và một phần đây là một toàn thể ở trong cái toàn thể và chiếm địa vị trung gian giữa cái phổ biến thuần túy với cái đặc thù cũng trừu tượng như vậy. Điều này cấp cho cái lí tưởng chân thực của nghệ thuật cổ điển một tình trạng vô cùng yên ổn và tình trạng nghỉ ngơi vô hạn, vẻ hạnh phúc tuyệt vời, và tính chất tự do không bị cái gì cản trở.


(b)      Với tính cách cái đẹp của nghệ thuật cổ điển, tính cách của thần linh, tự bản thân nó là chính xác và cụ thể không những là có tính tinh thần: nó còn xuất hiện với con mắt và với tinh thần dưới một hình thức bên ngoài có thể nhìn thấy ở trong cơ thể.


(aa) Cái đẹp này mà nội dung không những là cái yếu tố vay mượn ở tự nhiên và ở thế giới động vật đã được cá tính hóa một cách tinh thần, mà là bản thân yếu tố tinh thần, trong sự tồn tại ăn khớp của nó, chỉ có thể chấp nhận tính tượng trưng và chỉ liên qua tới yếu tố tự nhiên với tính cách một điều phụ thuộc. Sự biểu hiện thực sự của nó được đại diện bởi cái hình thức bên ngoài tiêu biểu đối với tinh thần và chỉ đối với tinh thần mà thôi, còn cái hình thức bên ngoài tự nó biểu hiện sự tồn tại trong nội dung và khi đạt đến tính toàn vẹn thì hòa nhập với nội dung.


(bb) Mặt khác, cái đẹp cổ điển không được tự thỏa mãn bằng việc biểu hiện cái trác tuyệt. Bởi vì chỉ có cái tự bản thân phổ biến trừu tượng không có gì chính xác, chỉ có quan hệ phủ định với cái cá biệt nói chung và, do đó, với sự thể hiện thì mới cấp cho ta một ấn tượng của nghệ thuật trác tuyệt. Cái đẹp cổ điển trái lại đưa cái cá biệt có tính chất tinh thần vào trung tâm của sự tồn tại tự nhiên của nó và dùng yếu tố của hiện tượng bên ngoài để bộc lộ nội cảm.


(cc) Song hình thức bên ngoài (cũng như nội dung tinh thần có được sự tồn tại ở trong hình thức) cần phải được giải phóng khỏi mọi đặc trưng ngẫu nhiên bên ngoài, khỏi mọi lệ thuộc vào tự nhiên, khỏi mọi tính hữu hạn, khỏi cái nhất thời, khỏi mọi điều lo lắng về cái cảm quan thuần túy. Nó cần phải làm cho đặc trưng của nó (vốn là họ hàng với tính tinh thần nhất dịnh của thần linh) được trong sáng và nâng nó lên tới sự hòa hợp tự do với những hình thức phổ biến của diện mạo con người. Chỉ có cái tài liệu bên ngoài đã được gạn lọc, trong đó mọi dấu vết về sự yếu đuối và về tính tương đối đều được xóa bỏ, trong đó mọi nét cá biệt võ đoán đều bị loại trừ thì mới tương ứng với cái nội dung bên trong có tính chất tinh thần là cái phải vùi mình vào hình thức và nhập thân ở đó.


(c)      Nhưng bởi vì các thần linh trong khi có một tính cách chính xác, đồng thời lại được nâng lên tính phổ biến, cho nên, ở họ, hiện tượng cần phải đồng thời thể hiện một tinh thần dựa vào bản thân mình ở trong hình thức bên ngoài của nó, với tính cách một tinh thần thanh thản tự tin vào mình.


(aa) Vì vậy, khi chúng ta đề cập tới lí tưởng cổ điển thực sự, chúng ta nhìn thấy cái cá tính cụ thể của các vị thần mang tính chất cao thượng và một tâm hồn cao quí, chứng tỏ rằng nó đã thoát khỏi mọi hạn chế và mọi thiếu sót của một tồn tại hữu hạn, mặc dầu nó đã nhập thân hoàn toàn vào cái hình thức cơ thể và cảm quan. Sự tồn tại thuần túy ở bản thân và sự tồn tại và sự giải phóng trừu tượng khỏi mọi đặc tính, đáng lí ra sẽ dẫn tới cái trác tuyệt. Nhưng bởi vì lí tưởng cổ điển chỉ tồn tại vì bản thân mình, chỉ biểu hiện phương thức tồn tại của tinh thần, cho nên tính trác tuyệt của nó tỏ ra dung hợp làm một với cái đẹp và trực tiếp chuyển hóa thành cái đẹp. Điều này tất yếu làm cho hình tượng của các vị thần mang tính cao cả, tính trác tuyệt của cái đẹp cổ điển. Một cái vẻ nghiêm trang vĩnh viễn, một vẻ bình thản bất tuyệt in lên trán các vị thần là bừng sáng trong tất cả diện mạo của họ.


(bb) Nhờ cái đẹp ấy, họ hình như làm chủ được mặt thể xác và điều đó dẫn tới một sự phân hóa dưới cái vẻ cao cả hạnh phúc với tính cách một tồn tại tinh thần ở bản thân mình và cái đẹp thể xác, bên ngoài của họ. Tinh thần dường như hoàn toàn vùi mình vào hình thức bên ngoài của mình, đồng thời lại vượt khỏi hình thức ấy chỉ để vùi mình vào bản thân mà thôi. Điều đó làm cho dường như họ là một vị thần bất tử bước vào giữa những con người trần tục. Về mặt này, các vị thần Hy Lạp gây cho ta một ấn tượng mặc dầu mọi sự khác nhau, vẫn giống ấn tượng mà tôi bắt gặp khi đứng trước bức tượng bán thân của Gơtơ do Raokhơ tạc khi tôi nhìn nó lần đầu. Các bạn cũng đã nhìn thấy nó: một cái trán cao, một cái mũi oai nghiêm, mạnh mẽ, cái nhìn mở rộng, cái cằm tròn, đôi môi của một con người có học thức và hùng biện, cái đầu quay nghiêng đầy tính tinh thần, cái nhìn hướng về một bên đồng thời ngước lên; đồng thời tất cả đầy vẻ trầm tư, vẻ nhân tính ân cần. Thêm vào đấy, là những cái cơ phát triển mạnh mẽ ở trán gương mặt chứng tỏ những tình cảm, những dục vọng và bên cạnh toàn bộ một cuộc sống trọn vẹn là thái độ bình thản, thái bình, cái vẻ cao cả trong tuổi già, và sau đó bên cạnh là đôi môi lõm che đậy cái miệng không có răng, cái cổ mềm, đôi má làm cho cái mũi càng có vẻ là một cái tháp mạnh mẽ và cái trán là một bức tường cao.


Sức mạnh của cái diện mạo không lay chuyển này chủ yếu là qui về cái cơ sở bất biến của nó, ở chỗ hình ảnh được đóng khung bởi một cái đầu oai nghiêm như ta thấy ở những người phương Đông chít khăn lớn, nhưng lại mặc áo khoác dài và đi giầy. Ở đây trước mắt ta là một tinh thần vững chắc, hùng mạnh, ở ngoài thời gian mặc dầu mang mặt nạ của một người trần che đậy nó, đã có ý định vức bỏ cái vỏ ấy nhưng bây giờ còn cho phép nó tự vận động.


Các vị thần mà chúng ta khảo sát xuất hiện trước mắt ta với cá vẻ tự do cao quí bình thản vượt lên khỏi thể xác của họ. Vì vậy mặc dầu tất cả vẻ đẹp và vẻ hoàn mĩ của diện mạo; tay chân của các thần có vẻ là một cái gì thừa ra. Song toàn bộ diện mạo cơ thể của họ là tràn đầy sự sống, tinh thần, đồng nhất hóa với sự tồn tại có tính tinh thần, gắn liền khăng khít với nó. Cái cơ sở bản thân vững chắc không bị phân tán ra thanh những bộ phận mềm yếu hơn – cả tinh thần lẫn cơ thể – làm thành một toàn thể duy nhất vững chắc từ đó cái tinh thần tồn tại ở bản thân mình toát ra với thái độ tự tin kì diệu.


(cc) Nhưng bởi vì mâu thuẫn nói trên không đóng vai một sự khác nhau và một sự phân chia giữa tinh thần bên trong với biểu hiện bên ngoài của nó, cho nên mặt phủ định mà nó chứa đựng chính vì vậy mà nằm trong cái toàn thể không thể phân chia và biểu lộ trong cái toàn thể ấy – nó biểu lộ bởi cái sắc thái buồn bã ở trong cái vẻ cao cả có tính tinh thần mà những con người thông minh đã cảm thấy trong những hình tượng cổ xưa bên cạnh tất cả cái vẻ hoàn mĩ của nó.


Cái vẻ bình thản rạng rỡ không nên thu hẹp thành trạng thái vui vẻ, thích thú hài lòng, và trạng thái hòa bình của cái vĩnh viễn không được hạ thấp xuống thành nụ cười tự đắc và thích chí về mặt tinh thần. Trạng thái hài lòng là tình cảm ở đấy tình trạng chủ thể cá nhân của chúng ta hòa hợp với cái tình trạng chủ thể cá nhân của chúng ta hòa hợp với cái tình trạng chủ thể được cấp cho chúng ta hay do chúng ta tạo ra. Napôlêông, chẳng hạn, không bao giờ biểu lộ sự hài lòng của mình một cách mạnh mẽ bằng khi ông ta thực hiện được một điều làm cho tất cả thế giới bất bình. Bởi vì sự hài lòng chẳng qua chỉ là tán thành sự tồn tại của chính mình, trình độ cực đoan của nó biểu lộ ở một tình cảm có tính chất Philitxtanh mà mọi người chật hẹp bao giờ cũng đạt tới. Nhưng tình cảm này và sự biểu hiện không phải là biểu hiện của những thần linh vĩnh viễn có tính chất tạo hình. Cái đẹp tự do hoàn mĩ không thể tự hài lòng với một tồn tại hữu hạn nhất định, cá tính của nó cả về mặt tinh thần cũng như về mặt hình thức mặc dầu là tiêu biểu và được qui định ở bản thân, nhưng về mặt tinh thần và hình thức vẫn chỉ dung hợp với bản thân cả về tính phổ biến tự do cũng như về tính tinh thần dựa vào bản thân.


Vì tính phổ biến này mà một vài người đã trách các thần Hy Lạp có vẻ lạnh lùng. Song họ chỉ lạnh lùng so với chúng ta, bởi vì đời sống nội tâm của chúng ta bị giam hãm vào lĩnh vực của sự tồn tại hữu hạn. Còn nếu như ta khảo sát họ ở bản thân thì ta sẽ thấy ở đấy có sự sống và nhiệt tình. Cái thế giới rạn rỡ được phản ánh ở hình thức cơ thể của họ về thực chất là thoát li khỏi cái đặc thù, thái độ bàng quan đối với mọi cái nhất thời, thía độ từ bỏ cái vẻ bên ngoài, một thái độ từ bỏ những không chứa đựng tình cảm thất vọng hay buồn bã mà chỉ là từ bỏ những điều bóng chớp và trần thế cũng như sự sáng rõ có tính chất tinh thần sẽ vượt lên khỏi cái chết, nấm mộ, sự tổn thất của những người thân cũng như mọi điều nhất thời và vì vậy mà thành sâu sắc và chứa đựng yếu tố phủ định này ở trong bản thân mình. Nhưng tính nghiêm túc và tự do tinh thần càng biểu lộ trong các hình ảnh của thần linh thì càng nổi bật sự tương phản giữa một bên là tính chính xác và tính cơ thể của họ. Dường như các vị thần hạnh phúc bất tuyệt cảm thấy buồn về hạnh phúc của họ hay về chỗ họ có một thần hình. Ta nhìn thấy ở trong những hiện tượng của họ cái số phận đang chờ đợi trong tương lai. Sự phát triển cái số phận này nhằm nêu bật thực tế mâu thuẫn đã nói giữa cái vĩ đại với cái đặc thù, giữa tính tinh thần với tồn tại cảm quan dẫn đến cái chết của bản thân nghệ thuật cổ điển.


c) Thứ ba, nếu như chúng ta nêu lên câu hỏi sự biểu hiện ra ngoài tương ứng với cái khái niệm lí tưởng cổ điển vừa nêu lên như thế nào thì về mặt này chúng tôi đã nói những điều chủ yếu một cách chi tiết hơn ở trên khi khảo sát lí tưởng nói chung. Ở đây, chúng tôi chỉ nên bó hẹp vào việc nói rằng trong lí tưởng cổ điển thực sự cá tính tinh thần các vị thần  không phải được quan niệm ở trong quan hệ của nó với một cách khác. Do tính đặc thù của mình nó không bị thu hút vào xung đột và đấu tranh mà bộc lộ ở trong cái vẻ an nhàn vĩnh viễn, trong nỗi buồn của thế giới thần linh. Vì vậy tính chính xác không phải bộc lộ ở chỗ nó thúc đẩy các thần đi tới những tình cảm và những dục vọng cá biệt hay bắt buộc họ phải thực hiện những mục tiêu nhất định. Trái lại họ đều vượt ra khỏi mọi va chạm và rắc rối, ra khỏi mọi quan hệ với các hữu hạn và cái chia tách ở bản thân mình để quay trở về tình trạng tập trung đơn thuần vào bản thân mình.


Cái vẻ nghĩ ngơi nghiêm mật nhất, nhưng không phải là im lìm bất động, lạnh lùng, chết cứng, mà là trầm tư, bất biến, làm thành phương thức thể hiện cao nhất và thích hợp nhất đối với nghệ thuật cổ điển. Nếu như các thần rơi vào những tình huống nhất định, thì những hoàn cảnh hay những hành động như vậy không phải thuộc loại gây nên những xung đột, và bởi vì bản thân các thần không bị xúc phạm cho nên nó khiến cho các vị thần luôn luôn bình thản.


Chính vì vậy trong tất cả các nghệ thuật thì điêu khắc là thích hợp nhất với việc thể hiện lí tưởng trong sự tồn tại đơn thuần ở bản thân ở đấy phải bộc lộ tính thần linh nói chung hơn là tính cá biệt cụ thể của một vị thần nào đấy. Mặt này của lí tưởng biểu lộ chủ yếu ở trong điêu khắc cổ xưa, nghiêm khắc; trái lại, trong điêu khắc của thời kỳ sau bắt đầu chuyển sang tính chất sinh động đầy kịch tính của những tình huống và những tính cách. Trái lại, thơ bắt các thần linh hành động, tức là có thái độ phủ định đối với cái tồn tại và do đó đưa họ tới đấu tranh và xung đột. Vẻ bình thản của các tác phẩm tạo hình trong đó các thần dừng lại trong lĩnh vực thích hợp nhất đối với họ, có thể nói lên yếu tố phủ định của tinh thần chống lại những điều cá biệt chỉ ở trong một nỗi buồn nghiêm nghị mang tính chất như chúng tôi đã nói.


(còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Tác giả: Georg Wihelm Hegel. Phan Ngọc dịch & giới thiệu. NXB Văn học, 1999.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Nghe Tô Hoài, đọc lại Vũ Bằng - Đỗ Trung Lai 02.10.2017
xem thêm »