tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20251151
Lý luận phê bình văn học
15.03.2017
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học (39)



3.       Sự duy trì tích cực những yếu tố tích cực được quan niệm một cách phủ định.


 


Mặc dầu ở trong hình thức nghệ thuật cổ điển các vị thần mới đã chiến thắng, cái cũ vẫn còn và được tôn sùng – một phần dưới hình thức nguyên sơ chúng tôi đã khảo sát, một phần dưới một hình thức đã hoán cải. Chỉ có vị chúa chật hẹp của những người Do Thái là không thể chịu đựng có những vị thần khác ở bên cạnh bởi vì Chúa muốn là đấng Duy nhất ở trong tất cả, mặc dầu về thuộc tính Chúa vẫn là một vị thần hạn chế, vị thần của riêng dân tộc của Chúa, vị Chúa tể của bầu trời và mặt đất chỉ chứng minh phổ biến của mình bằng cách tạo nên tự nhiên. Ngoài ra, Chúa là Thượng đế của Abraham, Chúa đã dẫn những đứa con của Ixraen ra khỏi Ai Cập, đã ban hành những đạo luật từ đỉnh núi Xinai và đã cấp cho người Do Thái xứ sở Canaan. Do chỗ Chúa được đồng nhất hóa chặt chẽ với dân tộc Do Thái, cho nên Chúa là một vị Thượng đế hoàn toàn riêng biệt, vị Thượng đế chỉ của dân tộc mình mà thôi. Kết quả là, với tính cách tinh thần, Chúa không ở trong tình trạng hài hòa tích cực với tự nhiên,  và không phải là cái tinh thần tuyệt đối đã thoát ly khỏi đặc trưng và tính khách thể của mình để quay về tính phổ biến. Vì vậy cái Thượng đế tàn nhẫn có tính chất dân tộc này là rất nghiêm khắc và ra lệnh chỉ được nhìn thấy trong các vị thần khác là những tượng giả dối mà thôi. Trái lại người Hy Lạp tìn thấy những vị thần của họ ở các dân tộc khác và dễ dàng tiếp thu những vị thần xa lạ. Vì vị thần của nghệ thuật cổ điển có một cá tính về mặt tinh thần và về mặt cơ thể cho nên ông ta không phải là vị thần duy nhất và độc nhất, mà là một vị thần đặc thù. Cũng như mọi cái gì đặc thù, vị thần đặc thù này có xung quanh mình những điều đặc thù khác đối lập với những đặc thù khác trong đó ông ta nảy sinh và vẫn giữ được giá trị và ý nghĩa của nó. Đối với các vị thần này vấn đề cũng xẩy ra như với các phạm vi riêng biệt của tự nhiên. Mặc dầu giới thảo mộc là sự thực của những cấu tạo tự nhiên có tính chất địa chất, và động vật là một sự thực cao hơn giới thực vật, nhưng núi non và đất nổi vẫn là cái đất của những cái cây, những bụi cỏ và những bông hoa, và những cái này vẫn cứ tiếp tục tồn tại bên cạnh giới động vật.


 


a. Những điều huyền bí.


 


Hình thức gần nhất trong đó những người Hy Lạp đã giữ lại cái truyền thống cổ đó là những điều huyền bí. Những điều huyền bí Hy Lạp không phải là một cái gì bí ẩn theo cái nghĩa tất cả nhân dân Hy Lạp không hiểu được nội dung của nó. Trái lại, đa số những người Aten và nhiều người ngoại quốc là thuộc vào số những người am hiểu các bí ẩn Elơxit; song họ không có quyền nói về điều đó, người ta đã dạy cho họ như vậy khi họ thụ giáo. Ngày nay người ta đã mất nhiều công sức để tìm hiểu chính xác hơn cái biểu tượng nằm trong các điều huyền bí và trong những hành động thờ cúng đã được thực hiện trong những cuộc lễ như vậy. Song nói chung hình như ta có thể khẳng định rằng các điều huyền bí không chứa đựng một sự khôn ngoan to lớn cũng như một hiểu biết sâu sắc, chúng chỉ duy trì những truyền thống cũ làm thành cơ sở các biểu hiện sau này đã được cái nghệ thuật chân chính hoán cải. Vì vậy người ta có thể nói rằng nội dung của chúng không phải là cái chân thực, cái cao quí hơn, cái ưu tú hơn mà trái lại cái không quan trọng và thấp hèn.


Cái điều huyền bí được xem là thiêng liêng không được bộc lộ ở trong các điều huyền bí một cách rõ ràng, trái lại chỉ được biểu hiện với những nét đặc trưng. Thực vậy, những điều cổ xưa thuộc trái đất, thuộc các ngôi sao, thuộc các Titan mang tính chất những điều không bộc lộ, không được nói ra, bởi vì tinh thần là sự tự bộc lộ mình, tự phát hiện mình. Trong mối quan hệ này, phương thức tượng trưng biểu hiện ý nghĩa vẫn là tối tăm và chứa đựng ở nó một cái gì khác so với cái hình thức bên ngoài trong đó nó phải được thể hiện. Chẳng hạn, mặc dầu cái huyền bí của Đêmêtê và Baccut đã được giải thích một cách tinh thần, và vì vậy có được một ý nghĩa sâu sắc hơn, song đối với nội dung thì hình thức này vẫn là không thích hợp bởi vì nó không thể toát ra rõ ràng từ cái hình thức ấy. Các điều huyền bí ít có ảnh hưởng tới nghệ thuật và mặc dầu người ta nói về Etsilơ rằng nhà thơ đã cố ý để lộ những bí ẩn huyền bí của Đêmêtê song những điều nhà thơ kể lại chỉ thu hẹp vào chỗ nói rằng Actêmit là con gái của Xêret và điều đó không phải là một sự sáng suốt to lớn gì.


 


b. Sự duy trì các vị thần cũ trong các biểu hiện nghệ thuật.


 


Thứ hai, sự sùng bái và duy trì các vị thần cũ bộc lộ rõ rệt hơn ở trong những thể hiện nghệ thuật. Trong khi khảo sát các giai đoạn trước đây, chúng tôi đã nói về Prômêtê với tính cách nói về một Titan bị trừng phạt. Nhưng chúng ta lại thấy chàng được giải phóng. Bởi vì cũng giống như quả đất và mặt trời, lửa, màn Prômêtê đem đến cho người đời, việc sử dụng thịt để ăn mà chàng dạy cho họ đều là những yếu tố quan trọng của sự tồn tại của con người, những điều kiện cần thiết để thỏa mãn các đòi hỏi. Như vậy, người ta đã sùng bái Prômêtê trong một thời gian dài. Trong bi kịch của Xôphôklơ “Ơđip ở Côlôn” chúng ta đọc (câu 54-56): “Nơi này là những nơi thiêng liêng. Pôxâyđôn vị Chúa tể là người chủ ở đây và Titan Prômêtê vị thần mang lửa đến”. Và người chú giải nói thêm rằng Prômêtê cũng giống Hêphaixtôt, cùng với Athêna được thờ phụng ở Du viên (Academia), và bây giờ người ta vẫn còn thấy điện thờ ở trong cái rừng cây thiêng liêng của nữ thần, và một điện thờ đã cổ xưa ở chỗ ra vào ở đấy có những hình ảnh của Prômêtê cũng như của Hêphaixtôt. Song, như Liximakhit kể lại, Prômêtê được miêu tả là người thứ nhất già hơn, tay cầm quyền trượng, còn Hêphaixtôt trẻ hơn và đứng hàng thứ hai. Điện thờ ở trên đài là chung cho cả hai.


Theo thần thoại, Prômêtê không phải bị kết án vĩnh viễn phải chịu hình phạt: chàng được Hêraklet giải phóng khỏi các xiềng xích. Trong chuyện kể này về sự giải phóng, chúng ta lại bắt gặp một vài chi tiết đáng chú ý bởi vì Prômêtê không phải chịu hình phạt nữa bởi vì chàng đã báo cho Dơt biết cái nguy cơ đe dọa vương quốc của Dơt do đứa cháu mười ba của Dơt. Đứa cháu ấy là Hêraklet, Pôxâyđôn trong “Những con chim” của Arixtôphan (câu 1645-1648) nói rằng Hêraklet đã làm cho mình bị thiệt hại nếu như chàng đồng ý ký kết một giao ước với Dơt về việc từ chối không thống trị các thần linh bởi vì tất cả những cái gì mà Dơt để lại sau khi dùng quyền lực đều sẽ thuộc về Hêraklet. Và thực thế Hêraklet là con người duy nhất đã bước vào Olempơ và từ chỗ người trần chàng đã trở thành một vị thần. Chàng đứng cao hơn Prômêtê vì Prômêtê vẫn còn là một Titan. Bước ngoặt trong sự đảo lộn các dòng giống cai trị cổ xưa gắn liền với tên của Hêraklet và của các Hêraklit. Con cháu của Hêraklet đã lật đổ quyền thống trị của các triều đại cổ và của những vương triều chỉ lo chạy theo những mục đích cá nhân, tha hồ phó mặc thái độ võ đoán và không thừa nhận một pháp luật nào hết trong các quan hệ đối với các thần dân và vì vậy đã phạm những hành động khủng khiếp. Hêraklet, mặc dầu không phải tự do, mà phải phục vụ một trong những ông vua như vậy, đã chiến thắng tính chất dã man của cái ý chí hung bạo này. Ở đây nữa, chúng ta có thể bó hẹp vào cái thí dụ chúng tôi đã dẫn trên đây, bằng cách nhắc lại một lần nữa “Các Ơmênit” của Etsilơ. Cuộc đấu tranh giữa Apôlông và các Ơmênit cần phải được quyết định bởi tòa án cao nhất. Một tòa án của con người với tính cách một tổng thể do Athêna cầm đầu, biểu hiện cụ thể của tinh thần toàn dân cần phải giải quyết sự va chạm này. Số các quan tòa kết án và tha bổng đều ngang nhau bởi vì họ đều tôn trọng các Ơmênit cũng như Apôlông, nhưng hòn sỏi trắng của Athêna giải quyết sự tranh cãi có lợi cho Apôlông. Các Ơmênit tức tối trước lời phán xử này của Athêna bắt đầu cất tiếng, nhưng Athêna làm cho họ nguôi giận bằng cách hứa với họ rằng người ta sẽ dựng điện thờ và thờ họ trong khu rừng nổi tiếng ở Côlôn. Để thưởng điều đó, các Ơmênit phải bảo vệ nhân dân (câu 901 và tiếp theo) chống lại những tai họa do các yếu tố tự nhiên gây nên (đất đai, bầu trời, biển cả và gió), làm cho đồng ruộng tránh được tình trạng khô cằn, giữ cho các hạt giống, các trái cây khỏi bị hư hỏng và chống lại mọi bất hạnh. Về phía mình, Athêna chú ý tới những cuộc xung đột quân sự và tôn giáo ở Aten. Cũng vậy trong “Antigôn” Xôphôklơ không chỉ bắt Antigôn phải đau khổ và phải chết. Trái lại, ta thấy rằng Krêôn bị trừng phạt: ông ta đau khổ vì vợ và Hêmôn đều chết, hai người chết vì cái chết của Antigôn.


 


c.       Cơ sở tự nhiên của những vị thần mới.


 


Cuối cùng, thứ ba, các vị thần cũ không giữ địa vị của họ bên cạnh các vị thần mới, mà còn một điều này quan trọng hơn, đó là cái cơ sở tự nhiên vẫn còn lại ở trong chính những vị thần mới. Tương ứng với cá tính tinh thần của lí tưởng cổ điển, cơ sở này được phản ánh ở họ và được hưởng một sự phụng thờ lâu dài.


(a)      Hoàn cảnh này thường thường gây nên điều sai lầm khiến người ta cho các vị thần Hy Lạp chỉ là những phúng dụ thuần túy của những yếu tố tự nhiên tương tự bởi vì họ mang hình dáng và hình thức con người. Song họ không phải như vậy. Chẳng hạn ta thường nghe nói rằng Hêliôt là vị thần mặt trời, Đian là vị thần mặt trăng, và Neptun là vị thần biển. Những ở trong các biểu tượng Hy Lạp, chúng tôi không nên tách rời yếu tố tự nhiên làm thành nội dung và cái hình thức nhân cách hóa giống như con người làm thành hình thức, rồi hợp nhất cả hai yếu tố ở bên ngoài này làn thành sự thống trị đơn thuần của Thượng đế đối với các đối tượng của tự nhiên, như điều chúng ta vẫn quen hình dung theo Cựu ước bởi vì không có ở nơi nào chúng ta tìm thấy ở người Hy Lạp một cách nói như “vị thần mặt trời và biển” v.v… mà thế nào họ cũng sẽ dùng nếu như những quan niệm này là quen thuộc đối với họ. Hêliôt là mặt trời với tính cách một vị thần.


(b)      Đồng thời, chúng ta cần phải nhớ rằng người Hy Lạp không thấy yếu tố thần linh ở trong yếu tố tự nhiên với tính cách yếu tố tự nhiên. Trái lại, họ có một quan niệm nhất định cho rằng tự nhiên không phải là thần linh, điều này một pan toát ra ở trong cách họ quan niệm các vị thần, một phần được người Hy Lạp khẳng định một cách rõ ràng. Plutac chẳng hạn trong tác phẩm “Bàn về Ixit và Oxirit” nói về các phương thức khác nhau để giải thích các thần thoại và các thần. Ixit và Oxirit là thuộc phạm vi những thế giới quan Ai Cập và nội dung của họ được tạo nên bởi những yếu tố tự nhiên với một tỉ lệ lớn hơn nhiều so với các vị thần Hy Lạp tương ứng, bởi vì họ chỉ biểu hiện cái khao khát muốn vượt ra khỏi lĩnh vực tự nhiên để vươn lên đến tính chất tinh thần. Sau này ở La Mã họ được người ta phụng thờ rất tôn kính và làm thành một trong những điều huyền bí chủ yếu. Song, như Plutac giả thiết, nếu giải thích họ là mặt trời, đất, và nước thì sẽ là sai. Tất cả những cái gì ở trong mặt trời, đất v.v… mà hỗn độn và quá mức, tất cả những gì ở trạng thái không đầy đủ hay thừa thải quá đáng đều phải dành cho những yếu tố của tự nhiên, chỉ có cái gì tốt đẹp và trật tự thì mới là tác phẩm của Ixit, còn trí tuệ, cái logos là tác phẩm của Oxirit. Như vậy với tính cách yếu tố bản chất của các vị thần này ta thấy không phải yếu tố tự nhiên với tính cách tự nhiên làm thành bản chất mà trái lại yếu tố tinh thần, cái phổ biến, cái logos, trí tuệ, cái hợp quy luật mới là bản chất của các vị thần này.


Do họ quan niệm về bản chất tinh thần của thần linh như vậy cho nên người Hy Lạp thực tế đã vạch được giới hạn phân biệt giữa các yếu tố tự nhiên cụ thể và các vị thần mới. Kể ra, chúng ta vẫn quen lẫn lộn Hêliôt và Xêlênê với Apôlông và Đian. Song ở Homerơ chúng ta bắt gặp họ với tính cách những vị thần khác hẳn nhau. Điều này cũng đúng cả đối với Oxêanôt, Pôxâyđôn và các vị thần khác.


(c)      Thứ ba, trong các vị thần mới vẫn còn một tàn dư nào đó của những sức mạnh tự nhiên mà hoạt động của nó nhập vào tính tinh thần của bản thân các thần linh. Ở trên, chúng tôi đã nêu bật cơ sở của sự kết hợp tích cực yếu tố tinh thần và yếu tố tự nhiên ở trong lí tưởng của nghệ thuật cổ điển. Ở đây chúng tôi chỉ bó hẹp vào việc đưa ra một vài thí dụ.


(aa) Trong Pôxâyđôn, cũng như trong Pôntut và Oxêanôt, chứa đựng sức mạnh của cái biển cả bao quanh mặt đất, nhưng quyền lực và hoạt động ở ông ta mở rộng nhiều hơn. Pôxâyđôn đã xây dựng nên thành Iliôn và là vị thần che chở thành Aten. Nói chung, người ta tôn thờ ông với tính cách kẻ xây dựng những thành phố bởi vì biển cả là nơi người ta đi lại bằng tàu bè buôn bán và là cái nối liền loài người. Cũng vậy Apôlông – vị thần mới – là ánh sáng của hiểu biết, là kẻ đưa ra những lời với tính cách ánh sáng tự nhiên của mặt trời. Kể ra, những nhà bác học, chẳng hạn Phôtxơ và Kroixơ đã tranh cãi về chỗ có nên giải thích Apôlông là mặt trời hay không, nhưng chúng tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng Apôlông vừa là mặt trời lại vừa không phải là mặt trời, bởi vì vị thần này không chỉ bó hẹp vào yếu tố tự nhiên mà thôi mà còn được nâng lên đến ý nghĩa của một yếu tố tinh thần.


Hiện tượng sự hiểu biết và ánh sáng, ánh sáng tự nhiên và ánh sáng tinh thần là ở chỗ trong một liên hệ bản chất theo đặc trưng của nó, tự thân nó phải đập vào mắt chúng ta. Ánh sáng với tính cách yếu tố tự nhiên, đó là một cái biểu lộ ra ngoài; mặc dầu chúng ta không nhìn thấy nó, nó làm những vật được chiếu sáng thành rõ ràng. Nhờ ánh sáng, mọi vật đều trở thành đối tượng của trực giác, đều trở thành khác về mặt lí thuyết. Tinh thần, ánh sáng tự do của ý thức, hiểu biết và nhận thức cũng có tính chất được biểu hiện như vậy. Ngoài sự khác nhau giữa những lĩnh vực trong đó hoạt động của hai loại biểu hiện này là khác nhau, sự khác nhau giữa chúng còn là ở chỗ tinh thần tự bộc lộ mình, và mặc dầu những điều đó nó cấp cho chúng ta và những điều đó cho nó, trước sau nó vẫn là một; trái lại ánh sáng của tự nhiên làm cho ta trí giác không phải bản thân nó, mà tri giác một cái ở bên ngoài nó; kể ra trong quan hệ này ánh sáng xuất phát từ chính mình, nhưng không quay trở về bản thân như điều vẫn làm và vì vậy không có được sự thống nhất cao hơn: vừa là mình lại vừa ở trong một cái khác.


Bởi vì ánh sáng và hiểu biết là gắn liền chặt chẽ với nhau, cho nên chúng ta lại bắt gặp ở Apôlông, vị thần có tính chất tinh thần, những nét nhắc tới ánh sáng mặt trời. Chẳng hạn Hômerơ chao rằng bệnh dịch xảy ra trong doanh trại người Hy Lạp là do Apôlông gây nên, ở Apôlông là hiện than hoạt động của mặt trời ở trong sự nóng nực của mùa hạ. Những mũi tên giết người của Apôlông hiển nhiên là có một mối liên hệ có tính chất tượng trưng với ánh sáng của mặt trời. Trong khi phục hồi lại bức tranh, ta nên qui định cái ý nghĩa cần phải cấp cho vị thần căn cứ vào những dấu hiệu bên ngoài.


Đặc biệt, khi chúng ta khảo sát lịch sử xuất hiện của những vị thần mới, ta có thể nhận ra yếu tố tự nhiên mà các vị thần của lí tưởng cổ điển chứa đựng ở trong bản thân như điều Kroixơ nhấn mạnh. Chẳng hạn, chúng ta tìm thấy ở Giupite những lời bóng gió về mặt trời; mười hai công trình của Hêraklet là liên quan tới mặt trời cũng như tới mười hai tháng. Đặc trưng chủ yếu của Đian là đặc trưng làm cho nàng thành bà mẹ phổ biến của tự nhiên, thần Đian ở Êphdơ băn khoăn giữa những vị thần mới và những vị thần cũ có nội dung cơ bản ở trong tự nhiên nói chung, với khả năng sản sinh và nuôi dưỡng; hình dáng bên ngoài của nàng cũng nói lên cái ý nghĩa này, nàng có nhiều vú v.v… Trái lại ở trong nàng Actêmit Hy Lạp, một nàng săn bắn súc vật, thì cái mặt tự nhiên đã bị xóa nhòa, đã bị đẩy về phía sau, mặt chủ yếu ở đây là dành cho vẻ đẹp của một nàng trinh nữ mang tính chất con người và tính độc lập của nàng, mặc dầu với vành trăng lưỡi liềm và những mũi tên vẫn còn nhắc tới Xêlênê. Trường hợp Aphơrôđit cũng vậy, ta càng theo dõi sâu sự xuất hiện của nữ thần từ châu Á thì ta cảm thấy nữ thần trở thành một sức mạnh của tự nhiên; nhưng khi biểu tượng này đến đất Hy Lạp thì nó mang một hình thức cá nhân có tính chất tinh thần, đầy hấp dẫn, thành sự nhân cách hóa của tình yêu tuy vẫn không phải không có một cơ sở tự nhiên.


Ngay cả biểu tượng về Xêret cũng bắt nguồn từ sức sản xuất của tự nhiên, nhưng sau đó cái này có được một nội dung có tính chất tinh thần, nhờ đó nàng trở thành vị thần của nông nghiệp, tài sản v.v… Các nữ thần văn nghệ về cơ sở tự nhiên là gắn liền với tiếng suối róc rách. Chúng ta cũng phải quan niệm Dơt với tính cách vị thần sấm. Ở Hômerơ sấm đã là dấu hiệu của thái độ bất bình hay tán thành, là một cái điềm và do đó tiếng sấm có được một quan hệ nào đó với tinh thần và với con người. Trong biểu tượng về Giuno vẫn còn có một dấu vết nào của tự nhiên, một nhắc gợi tới vòm trời và cái bầu không khí trong đó các thần linh bay lượn. Chẳng hạn người ta nói rằng Dơt đã áp Hêraklet vào ngực Giunô và sữa tung tóe ra làm thành sông Ngân hà.


(bb) Cũng như các yếu tố phổ biến của tự nhiên một mặt đã bị hạ thấp ở trong các vị thần mới và mặt khác vẫn được giữ ở đấy; hiện tượng này cũng xẩy ra cả với yếu tố động vật mà chúng ta đã khảo sát quá trình hạ thấp trên. Bây giờ chúng ta phải nhấn mạnh tới vai trò tích cực mà thế giới động vật đóng. Song bởi vì các vị thần cổ điển đã vứt bỏ phương thức biểu hiện tượng trưng và đã nhận được với tính cách nội dung của họ, cái tinh thần có ý thức về bản thân, cho nên ý nghĩa tượng trưng của động vật bây giờ phải biến mất trong chừng mực người ta chấp nhận cho diện mạo của động vật có quyền tạo nên những kết hợp khá ký quặc với diện mạo con người.


Bây giờ ta chỉ bắt gặp những nét của động vật với tính cách những thuộc tính khu biệt được thêm vào bên cạnh diện mạo con người của các thần, chẳng hạn chúng ta thấy con chim ưng bên cạnh Giupite, con sông bên cạnh Giunô, con bồ câu đi theo Vênut, và con chó Anubit làm kẻ canh cổng cho vương quốc âm ty.


Vì vậy, mặc dầu ở trong các lí tưởng của những thần linh có tính chất tinh thần, vẫn còn giữ lại cái gì có tính chất tượng trưng song về mặt ý nghĩa đầu tiên của nó, nó đã trở thành một cái gì không nhận thấy được. Y nghĩa tự nhiên thực sự trước đây làm thành nội dung cốt tử, bây giờ chỉ còn được giữ lại với tính cách tàn dư và một nét cá biệt bên ngoài, nét này bây giờ có vẻ kỳ quặc bởi vì nó là ngẫu nhiên vì nó không còn có cái ý nghĩa trước đây của nó. Bởi vì nội dung bên trong của các vị thần này là yếu tố tinh thần và yếu tố con người, cho nên cái bên ngoài ở họ trở thành tính chất ngẫu nhiên và sự yếu đuối của con người.


Ở đây chúng tôi một lần nữa có thể nhắc tới những chuyện yêu đương rất đa dạng của Giupite. Về ý nghĩa tượng trưng nguyên thủy của chúng, như chúng ta thấy, chúng liên quan tới những khả năng sản sinh phổ biến, sức sống của tự nhiên. Nhưng với tính cách những chuyện yêu đương của Giupite bởi vì ta phải xem cuộc hôn nhân của Giupite và Hêra là một quan hệ bản chất vững chắc cho nên chúng là những hành vi phụ tình đối với vợ, chúng mang tính chất những cuộc phiêu lưu ngẫu nhiên một khi đã bỏ mất cái ý nghĩa tượng trưng của nó và có được ý nghĩa của những chuyện kể tự do, sáng tạo một cách võ đoán.


Sự hạ thấp các sức mạnh thuần túy tự nhiên và yếu tố động vật cũng như tính chất phổ biến trừu tượng của những quan hệ tinh thần và việc chấp nhận các yếu tố này vào cái cá tính tinh thần, có tính độc lập cao hơn thấm nhuần tự nhiên và thâm nhập vào tự nhiên – đó là lịch sử tất yếu của sự xuất hiện của bản chất của lí tưởng cổ điển với tính cách tiền đề thực sự của nó, bởi vì đó là con đường lí tưởng trở thành lí tưởng theo đúng quan niệm của nó. Tính hiện thực này của các thần linh có tính chất tinh thần tương ứng với khái niệm của nó đưa chúng ta tới những lý tưởng thực sự của hình thức cổ điển của nghệ thuật, những lí tưởng này – đối lập lại cái cũ đã bị đánh bại – biểu hiện cái vĩnh viễn bởi vì tính chất nhất thời nói chung là do tình trạng không ăn khớp giữa khái niệm và sự thực hiện của nó mà ra.


(còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Tác giả: G. Hegel. Phan Ngọc dịch & giới thiệu. NXB Văn học, 1999.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trở lại với Thạch Lam - Khuất Bình Nguyên 10.08.2017
Có một tâm hồn thức trở với thi ca - Quang Hoài 04.08.2017
Giải huyền thoại hay phỉ báng Tổ tiên, xúc phạm dân tộc? - Hà Văn Thùy 02.08.2017
Về hai văn bản của vua Lê Thánh Tông đối với Nguyễn Trãi - Trần Nhuận Minh 27.07.2017
Tào Tùng: Nhất tướng công thành vạn cốt khô - Hà Phạm Phú 25.07.2017
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
xem thêm »