tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20780197
Lý luận phê bình văn học
15.03.2017
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học (38)



1.       Cuộc đấu tranh giữa các vị thần cổ xưa và các vị thần mới.


 


Giai đoạn thứ hai, cao hơn chứng minh vai trò của động vật đã bị hạ thấp; tóm lại là các vị thần thực sự của nghệ thuật trong khi lấy tinh thần tự giác, tự do làm nội dung của mình, xem như ý thức của cái quyền lực của cá tính tinh thần mình, chỉ có thể được nhận thức là có được tư duy và ý chí, tức là xem như những sức mạnh có tính tinh thần. Do đó, hình tượng nhân tính mà người ta dùng để miêu tả các thần không phải chỉ là một sản phẩm của trí tưởng tượng từ bên ngoài được cấp cho nội dung, mà nó nằm ở trong ý nghĩa, trong nội dung, trong bản thân nội cảm. Nhưng về thực chất, nói chung, cần phải quan niệm yếu tố thần linh như là một sự thống nhất của yếu tố tự nhiên với yếu tố tinh thần. Cả hai mặt đều thuộc về cái Tuyệt đối và chỉ có sự khác nhau giữa những cách mà sự hài hòa này được biểu hiện mới qui định tôn ti của các hình thức nghệ thuật và các tôn giáo. Theo quan niệm Thiên Chúa giáo của chúng ta thì Thượng đế là người sáng tạo và là vị chúa tể của thế giới. Thượng đế đứng cao hơn sự tồn tại trực tiếp trong tự nhiên bởi vì chỉ có việc quay trở lại bản thân với tính cách “cái tồn tại cho nó” tuyệt đối có tính chất tinh thần thì mới là Thượng đế thực sự. Con người hữu hạn đối lập với tự nhiên với tính cách một giới hạn nào đấy và một hạn chế nào đấy. Trong sự tồn tại của nó, tinh thần con người khắc phục nó và vươn lên đến tính vô hạn ở trong bản thân bằng cách đạt đến tự nhiên ở trong tư tưởng một cách lý thuyết và thực hiện ở trong thực tiễn sự hài hòa giữa ý niệm tinh thần, lí trí, cái thiện với tự nhiên. Hoạt động vô hạn này chính là Thượng đế bởi vì Thượng đế có quyền thống trị tự nhiên. Thượng đế là hoạt động vô hạn này vì chính Người là hiểu biết và ý chí của nó.


Trái lại, trong những tôn giáo nào tượng trưng, thì tính thống nhất của cái bên trong và của lí tưởng với tự nhiên, như chúng ta đã thấy, là một liên hệ trực tiếp, và đặc trưng chủ yếu của nó vì vậy làm thành một yếu tố tự nhiên cả về hình thức cũng như về nội dung. Chính vì vậy mà mặt trời, sông Nin, biển cả, mặt đất, quá trình tự nhiên của sự xuất hiện, tiêu vong, ra đời và hồi sinh, sự thay thế nhau của các hiện tượng của đời sống tự nhiên đều được xem là những sự vật, những quá trình, những hiện tượng có tính thần linh. Song các sức mạnh này của tự nhiên cũng đã được nhân cách hóa ngay ở trong nghệ thuật tượng trưng và, do đó, đã được nâng lên tới tính chất tinh thần. Nhưng nếu như thần linh, như nghệ thuật cổ điển đòi hỏi, cần phải là những cá nhân có tính tinh thần. Và ở trong sự hài hòa với tự nhiên thì sự nhân cách hóa đơn thuần ở đây vẫn chưa đủ. Bởi vì sự nhân cách hóa – nếu như nội dung của nó chỉ là một sức mạnh phổ biến và là một hoạt động của tự nhiên thì vẫn là hoàn toàn hình thức, không mớ rộng đến nội dung, vẫn không thể đưa vào nội dung yếu tố tinh thần cũng như cá tính của nó.


Vì vậy, chúng ta thấy ở trong nghệ thuật cổ điển không những tính chất súc vật mà cả các sức mạnh tinh thần lại được đề cao. Nhưng lúc bấy giờ, đặc trưng chủ yếu không phải là sự nhân cách hóa mà là tính chủ thể. Song mặt khác, các thần linh của nghệ thuật cổ điển vẫn cứ phải là những sức mạnh tự nhiên bởi vì nghệ thuật này vẫn còn chưa có thể biểu hiện Thượng đế xem như một yếu tố tinh thần tự do và tuyệt đối.


Song tự nhiên chỉ đóng vai một sự sáng tạo được tạo ra và nhằm phục vụ một đấng sáng tạo cô lập thống trị nó trong trường hợp Thượng đế được quan niệm là một bản chất duy nhất thống trị một cách trừu tượng và có tính ý niệm như trong nghệ thuật của cái trác tuyệt, hay như trong Thiên Chúa giáo, ở đấy Thượng đế là một tinh thần cụ thể được hưởng quyền tự do hoàn toàn trong một tồn tại thuần túy tinh thần và trong một tồn tại cá nhân vì bản thân mình. Hai cách quan niệm này về thần linh đều không có tro người các quan niệm của nghệ thuật cổ điển. Thượng đế của nghệ thuật cổ điển vẫn chưa phải là vị chúa tể của tự nhiên, bởi vì nó vẫn chưa có tinh thần tuyệt đối về nội dung và về hình thức. Nó cũng không còn là vị chúa tể của tự nhiên nữa bởi vì các quan hệ giữa cái tự nhiên đã bị tước bỏ yếu tố thần linh với cá nhân con người đã chấm dứt và đã chết đi sau khi đã biến thành cái đẹp, ở đấy cả hai mặt, mặt phổ biến và mặt cá biệt, mặt tinh thần và mặt tự nhiên đều nhận được cái phần dành cho mình và giữ một địa vị như nhau ở trong sự biểu hiện nghệ thuật. Như vậy, Thượng đế trong nghệ thuật cổ điển vẫn còn là một sức mạnh tự nhiên phổ biến biểu lộ khắp nơi nhưng sắc mạnh này không phải như là một hoạt động xác định và do đó hạn chế của mặt trời, biển v.v… nói chung với tính cách một sức mạnh đặc biệt của tự nhiên xuất hiện với tính cách một cá tính tinh thần và bản chất thực sự của nó chính là cái cá tính tinh thần ấy.


Bởi vì, như chúng ta đã thấy ở trên, lí tưởng cổ điển không tồn tại trực tiếp, mà chỉ có thể xuất hiện nhờ cái quá trình vượt bỏ yếu tố phủ định dưới hình thức người ta biểu lộ tinh thần, cho nên sự hoán cải và sự biến đổi cái mặt thô lỗ, xấu xí, dã man kì quặc thuần túy tự nhiên hay tính chất quái đản cần phải làm thành hứng thú chủ yếu trong thần thoại Hy Lạp và vì vậy nó cần phải làm thành điểm xuất phát để phát hiện những ý nghĩa mới.


Bây giờ, khi bước sang khảo sát điểm chủ yếu này chi tiết hơn, chúng tôi cần phải báo trước điều nhận xét sau đây, đó là việc khảo sát lịch sử những biểu tượng sặc sở và đa dạng của thần thoại Hy Lạp không thuộc nhiệm vụ chúng tôi. Điều chúng tôi muốn chú ý ở đây đó là những yếu tố chủ yếu của sự chuyển hóa mà chúng tôi đã nói, trong chừng mực chúng làm thành những yếu tố chung của sự xây dựng hình thức nghệ thuật cũng như của nội dung của nó. Trái lại, số lượng vô hạn các thần thoại, các chuyện kể, các lịch sử, về tất cả những cái gì liên quan tới nơi chốn, các tượng trưng mà chúng ta còn bắt gặp cả trong những vị thần linh mới và cũng xuất hiện trong những hình tượng nghệ thuật nhưng không đề cập tới cái chủ đề chính mà chúng tôi bàn đến ở đây, ở đây chúng tôi cần phải gác lại cái tài liệu rộng lớn này và sẽ chỉ nói đến với tính cách minh họa mà thôi.


Nói chung, chúng ta có thể so sánh con đường mà ở đây chúng ta theo với con đường phát triển của lịch sử điêu khắc. Bời vì điêu khắc, trong khi cấp một biểu tượng có thể tri giác được của các vị thần bằng cách khoác cho họ một hình thức chính xác, đã làm thành cá trung tâm thực sự của nghệ thuật cổ điển. Mặc dầu nó biểu hiện các thần linh trong cái vẻ khách quan thản nhiên và trong sáng, có thể nói nên thơ làm thành phần bổ sung cho nó bằng cách làm chúng ta chứng kiến cái thế giới thần linh và cái thế giới người đời đang hoạt động và đang vận động. Cũng như điêu khắc đã bắt đầu bằng sự chuyển hóa cái khối đá hay cái khúc gỗ không có hình thù từ trên trời rơi xuống (nữ thần Petxinôt (ở Tiểu Á) mà những người La Mã đã chuyển về La Mã một cách long trọng), cũng vậy, chúng ta cần phải bắt đầu bằng những sức mạnh tự nhiên hãy còn không có hình thù, thô bạo, nguyên thủy và chỉ nêu lên những giai đoạn phát triển trong quá trình ấy các sức mạnh này vươn lên tới tính chất tinh thần cá biệt và mang những hình thức cố định.


Về mặt này chúng ta có thể phân biệt ba điểm quan trọng nhất sau đây.


Điều thứ nhất mà chúng ta chú ý tới, đó là những lời tiên tri qua đó sự hiểu biết và ý chí của thần linh bộc lộ một cách hãy còn không có hình thù và bằng những phương tiện tự nhiên.


Điểm thứ hai chúng ta phải xét đến, đó là những sức mạnh tự nhiên phổ biến như là những khái niệm trừu tượng về quyền lợi v.v… vốn là nguồn gốc của những cá tính thần linh thực sự có tính chất tinh thần và làm thành tiền đề cần thiết của sự xuất hiện và hoạt động của họ: các vị thần cổ xưa khác các vị thần mới.


Cuối cùng thứ ba, sự vận động tiến lên tự nó là tất yếu tiến tới lí tưởng biểu hiện ở chỗ những sự nhân cách hóa lúc đầu còn hời hợt của những hiện tượng tự nhiên và của những khái niệm trừu tượng có tính tinh thần đều bị bác bỏ và chống đối, xem như là có tính phụ thuộc và phủ định. Những sự nhân cách hóa này và những quan hệ này bị gạt bỏ. Kết quả là, cái cá tính tinh thần độc lập của chúng bị hạ thấp, và diện mạo và hành vi của con người của chúng có khả năng đạt tới sự thống trị không thể chối cãi. Sự chuyển hóa này vốn làm thành trung tâm của điêu khắc cổ điển và là điểm xuất phát của sự diễn biến của nó đã tìm thấy ở trong thần thoại Hy Lạp một biểu hiện vừa ngây thơ lại vừa hấp dẫn trong câu chuyện kể lại cuộc đấu tranh giữa các vị thần cũ và những vị thần mới, chuyện các Titan bị lật đổ và cuộc chiến thắng mà những vị thần mới do Dớt cầm đầu đã dành được.


 


a.       Các lời tiên tri.


 


Trước hết, các lời về tiên tri, thì về điểm này chúng tả không cần dừng lại lâu. Yếu tố chủ yếu cần phải nêu lên ở đây đó là trong nghệ thuật cổ điển, người ta không thờ phụng những hiện tượng tự nhiên với tính cách tự nhiên nữa. Người Pacxơ chẳng hạn đã tôn thờ lửa và cho rằng những nguồn ở đấy chất liệu thạch não xuất hiện đều là thiêng liêng, hay người Ai Cập cho Thượng đế là những câu đố bí ẩn không giải quyết được, câm lặng và huyền bí. Trái lại, bây giờ những vị thần nhận thức được mìnhvà biểu lộ ý chí của mình, nêu rõ cho người đời thấy sự sáng suốt của họ thông qua những hiện tượng của tự nhiên. Chẳng hạn khi các người Henlen cổ (Hêrôđôt II, 52) hỏi vị tiên tri ở Đônđôn xem có nên chấp nhận tên những vị thần mà những người dị tộc đưa đến hay không thì vị tiên tri trả lời: cứ sử dụng.


(a)      Các dấu hiệu qua đó các thần linh tự bộ lộ mình phần lớn hết sức đơn giản: ở Đôđôn đó là tiếng xào xạc của những chiếc lá của cây sồi thiêng liêng, tiếng róc rách của suối, tiếng động gây nên bởi một cái vại bằng thanh đồng bị gió đập. Ở Đêlôt, tiếng rì rào của cây nguyệt quế và ở Đenphơ, tiếng gió thổi trên một cái bàn chân bằng đồng đều là những dấu hiệu quyết định. Ngoài những âm thanh trực tiếp này của tự nhiên, bản thân con người cũng nói lên những lời tiên tri khi nó bị kích thích, tê mê, bỏ mất lí trí và vùi mình vào trạng thái cảm hứng, cũng như vào tình trạng say sưa hòa mình với tự nhiên. Chẳng hạn tiên tri Phithi ở Đenphơ bị hơi nước làm mê mẩn, nói ra những lời tiên tri, hay ở trong hang đá Tơnôphôniut,người nào hỏi vị tiên tri thì có những giấc mơ mà người ta phải giải thích để có được câu trả lời.


(b)      Nhưng còn có một điều khác nữa trong những dấu hiệu bên ngoài. Trong các tiên tri thực vậy, thần linh đóng vai một người biết tất cả vì vậy vị tiên tri quan trọng nhất là được dành cho Apôlông, vị thần biết tất cả. Song hình thức qua đó vị thần biểu lộ ý muốn của mình vẫn có tính chất mơ hồ. Lời khuyên và mệnh lệnh của thần mà vị tiên tri bộc lộ cho người đời phải là như vậy. Nó là những lời của tự nhiên hay là những âm thanh của những từ không liên hệ gì với nhau. Dưới hình thức mơ hồ và không chính xác như vậy, bản thân nội dung tinh thần cũng trở thành tối tăm vì vậy cần phải được giải thích và cắt nghĩa.


(c)      Lời giải thích này mặc dầu làm cho điều báo hiệu của vị thần có tính tinh thần (lời báo hiệu này lúc đầu chỉ tồn tại dưới hình thức tự nhiên mà thôi) nhưng vẫn tối tăm và có hai nghĩa. Bởi vì Thượng đế về mặt hiểu biếtvà mặt ý chí là một thể phổ biến cụ thể; cho nên các lời khuyên và các mệnh lệnh của thần được vị tiên tri giải thích cũng có tính chất như vậy. Nhưng cái phổ biến không phải là cái phiến diện và trừu tượng. Trái lại, nó bao gồm với tính chất cụ thể cả hai nghĩa có thể có. Bởi vì con người đối lập với vị thần toàn trí, là một kẻ không biết gì hết, chấp nhận những lời tiên tri không hiểu nó nói gì, nghĩa là tính phổ biến cụ thể của lời tiên tri này không bộc lộ ra với anh ta. Nếu như anh ta quyết định hành động phù hợp với với lời tiên tri này thì anh ta có thể chọn chỉ một trong hai nghĩa của lời nói của thần bởi vì mỗi hành động trong những hoàn cảnh cá biệt bao giờ cũng phải cụ thể, bao giờ cũng chỉ được thừa nhận một mặt còn phải loại trừ mặt kia. Nhưng khi anh ta hành động và, do đó, hành động trở thành hành động của anh ta, nghĩa là một hành động mà anh ta chịu trách nhiệm, thì lúc đó anh ta rơi vào một sự va chạm: anh ta thấy xuất hiện trước mắt mình cái nghĩa thứ hai của lời tiên tri cũng nằm ở đấy ở trạng thái ẩn ngầm và lúc bấy giờ trước hành động cái anh ta vừa mới làm anh ta cảm thấy rằng không phải anh ta làm và muốn hành động này, mà đó là các thần linh đã muốn như vậy. Và ngược lại, bởi vì thần linh là những sức mạnh cụ thể, và những lời nói của thần nếu như cũng mang tính chất cụ thể như chẳng hạn mệnh lệnh của Apôlông thúc đẩy Orextơ trả thù, thì mệnh lệnh ấy, do tính chất cụ thể này, cũng dẫn tới một sự va chạm.


Bởi vì hình thức ở trong lời tiên tri mang sự hiểu biết thâm trầm của thần linh, có tính chất bên ngoài hoàn toàn mơ hồ, hay nói khác đi, có tính chất bên trong trừu tượng của từ, và bản thân nội dung do chỗ có hai nghĩa và chứa đựng khả năng có sự xung đột cho nên ở trong nghệ thuật cổ điển không phải kiến trúc mà đó là thơ và nhất là kịch đã dành cho những lời tiên tri một phương diện quan trọng của nội dung. Về thực chất, sở dĩ những lời tiên tri là hợp chỗ vì  ở đấy tính cá biệt của con người vẫn chưa đạt tới trình độ nội cảm cao nhất, ở đấy chủ thể tìm thấy ở mình quyết định về phương thức hành động bằng cách chỉ dựa vào mình mà thôi. các điều mà theo cách hiểu chúng ta về danh từ này, chúng ta gọi là lương tâm, ở đây vẫn chưa tồn tại. Kể ra, con người Hy Lạp thường hành động  vâng theo dục vọng tốt đẹp hay xấu xa của mình, song cái khát vọng thực sự phải làm cho người hoạt động, và trong thực tế đã làm như vậy, là bắt nguồn từ cái thần linh và nội dung cũng như quyền lực của thần linh làm thành cái phổ biến của khát vọng này. Các anh hùng hoặc là trực tiếp cảm thấy hoặc là hỏi ý kiến của những vị tiên tri trừ phi các vị thần xuất hiện trước mắt họ để ra lệnh cho họ làm thành những hành động nhất định.


 


b.       Các vị thần cũ khác các vị thần mới ở chỗ nào


 


Nếu như trong các lời nói của các tiên tri, nội dung là do các thần linh (là những kẻ biết biết và biểu lộ ý chí của mình) nói ra, thì trái lại hình thức của hiện tượng bên ngoài một cách trừu tượng và tự nhiên; cũng vậy, mặt khác yếu tố tự nhiên ở trong các sức mạnh khái quát và các biểu hiện tích cực của chúng đã trở thành một nội dung từ đó cái cá tính độc lập sẽ phải xuất hiện. hình thức gần nhất của nó chỉ là một sự nhân cách hóa hình thức và hời hợt. Sự gạt bỏ các sức mạnh thuần túy tự nhiên này, tình trạng đối lập và cuộc đấu tranh qua đó các sức mạnh này bị đánh bại, làm thành cái điểm quan trọng mà nghệ thuật cổ điển đã đem đến cho ta, và chính vì vậy chúng ta phải khảo sát nó một cách kĩ lưỡng hơn.


(a)      Điều đầu tiên mà chúng ta phải chú ý đó là trường hợp sau đây: giờ đây chúng ta không phải bàn tới một vị thần mất hẳn mọi tính cảm quan với tính cách yếu tố mọi sự vật (như điều xảy ra ở trong cái thế giới quan có đối tượng là cái trác tuyệt hay một phần ngay cả trong thế giới quan Ấn Độ). Trong nghệ thuật cổ điển, điểm xuất phát đó là các vị thần của tự nhiên, trước hết là những lực lượng phổ biến của tự nhiên, như Hỗn mang cổ xưa, Tacta, Eret, tất cả những tồn tại dã man ở dưới đất; rồi sau đến Uranôt, Gaia, Erôt, Crônôt v.v… có tính chất Titan. Từ những vị thần này nảy sinh những sức mạnh cụ thể hơn, thí dụ Hêliôt, Oxêanôt v.v… Những vị thần này, trở thành cái cơ sở tự nhiên cho sự xuất hiện những vị thần sau này, được cá tính hóa một cách tinh thần. Do đó đã xuất hiện một vũ trụ luận và một thần phổ do trí tưởng tượng sáng tạo ra, và được nghệ thuật phát triển, trong đó những vị thần đầu tiên hãy còn chưa được quy định đối với sự chiêm ngưỡng, hoặc là được mở rộng đến vô hạn, và mặt khác hãy còn nhiều nét tượng trưng.


(b)      Còn về những sự khác nhau cụ thể hơn trong phạm vi những sức mạnh khổng lồ này thì chúng tóm lại như sau:


(aa) Trước hết, đó là những sức mạnh của địa cầu, của tinh tú không có nội dung tinh thần và đạo đức. Chúng là thô lỗ, hung hãn, mã rợ, không có hình thù, đồ sộ như những điều mà trí tưởng tượng Ấn Độ hay Ai Cập đã sáng tạo nên. Lúc đầu, họ đều phục tùng quyền lực của Uranôt cùng với các quái vật khác của tự nhiên chẳng hạn Pôntơ, Xtêrôp cũng như những con quỉ trăm tay Crôtôt, Briarê và Giget, những người Khổng lồ v.v… sau đó họ phục tùng Krônôt là người khổng lồ chính. Crônôt hiển nhiên đại diện cho thời gian, ông ta nuốt tất cả các con chẳng khác gì thời gian tiêu hủy tất cả những cái gì nó sản sinh ra. Thần thoại này không có ý nghĩa tượng trưng, bởi vì sự sống tự nhiên thực ra là phục tùng thời gian và chỉ tạo ra những cái chốc lát, cũng như trong thời gian tiền sử của nó, một dân tộc chỉ mới là một bộ tộc, một bộ lạc nhưng chưa làm thành cái nhà nước và chưa theo đuổi những mục đích nhất định, trong khi vẫn chịu sức mạnh của thời gian là cái diễn ra ở ngoài lịch sử. Chỉ có pháp luật, đạo đức, nhà nước là chứa đựng một cái gì vững chắc, tồn tại qua các thế hệ qua nhanh; cũng vậy các nữ thần văn nghệ cấp tính chất lâu dài và vững chắc cho tất cả những cái gì với tính cách đời sống tự nhiên và hành động thực tiễn chỉ là nhất thời và chịu đựng số phận của mọi cái nhất thời.


(bb) Trong phạm vi những vị thần cổ xưa này, không những có những sức mạnh của tự nhiên mà còn có những sức mạnh thống trị và làm chủ các yếu tố. Đặc biệt quan trọng là việc biến đổi kim khí bởi vì các sức mạnh của tự nhiên vẫn còn đơn giản, thô bạo: không khí, nước, lửa. Ở đây chúng ta có thể nói đến các Côribantơ, các Tenkhin, những con quỉ vừa làm việc tốt lại làm việc ác, các Pêtắc, các Pichmê, các  người lùn là những thợ mỏ khéo léo, bụng to.


Nhưng chúng ta phải nhắc đến Prômêtê với tính cách hình tượng quá độ nổi bật. Prômêtê là một chàng khổng lồ độc đáo và lịch sử của chàng đáng được chú ý đặc biệt. Cùng với người anh của chàng là Epimêtê, lúc đầu chàng gần với các vị thần mới. Sau đó, chàng đóng vai một ân nhân của loài người là những kẻ ngoài chuyện này thì đóng vai một vai trò nào trong những quan hệ giữa các vị thần mới và các Titan. Chàng đem lửa đến cho người đời và, do đó, làm cho người đời có thể quan tâm tới việc thỏa mãn các đòi hỏi của họ, có thể phát triển những nghệ thuật có tính chất kĩ thuật song những nghệ thuật này không có cái gì là tự nhiên cả và vì vậy không có liên hệ rõ rệt với tính chất Titan. Dớt trừng phạt Prômêtê vì hành động này cho đến khi cuối cùng Hêraklet giải phóng chàng khỏi mọi đau khổ. Mới thoạt nhìn, hình như trong tất cả những điều đó chẳng có điều gì có tính chất Titan cả, và thậm chí người ta có thể cho câu chuyện này không nhất quán bởi vì một mặt chàng là một kẻ làm ơn cho người đời chẳng khác gì Xêret. Nhưng mặt khác, chàng vẫn bị xếp vào những sức mạnh cổ xưa có tính chất Titan. Song nếu chúng ta nhìn kỹ hơn, thì chúng ta sẽ thấy rằng tính chất không nhất quán này biến mất. Một vai đoạn của Platông đã cấp cho ta một lời giải thích đầy đủ. Một người khách kể lại cho Xôkrat trẻ tuổi chuyện thần thoại rằng ở đời Krônôt trị vì thì con người là do đất sinh ra và chính vị thần đã săn sóc tới tất cả. Nhưng sự vận động đã diễn ra sau đó theo chiều ngược lại: mặt đất bị phó mặc cho bản thân nó, thành ra thú vật quay trở lại trạng thái hoang dã và con người từ trước đến nay vẫn tìm thấy thức ăn và tất cả những cái gì nó cần đến ở dưới tầm tay của mình thì bây giờ lại bị phó thác cho tình trạng võ đoán của số phận. Người kể chuyện nói tiếp (“Chính trị” II, 2) rằng chính vì thế mà Prômêtê đã đem lửa đến cho người đời. Nhưng những ký thuật trong các ngành thủ công thì lại do thần Hêphaixtôt và người bạn của thần về mặt nghệ thuật là Athêna đem đến.


Người ta tìm thấy ở đây một sự phân biệt rành rọt giữa lửa và cái do sự khéo léo trong việc chế tác các nguyên liệu, Prômêtê chỉ tặng lửa cho người đời, Platông nói kỹ hơn về thần thoại Prômêtê trong Prôtagôrat, ở đấy (“Prôtagôrat” I, 1) nói: “Ngày xưa có một thời có các thần nhưng không có người trần. Nhưng đến thời kỳ đã định là người trần sẽ xuất hiện, thì các thần linh đã tạo ra người ở trong lòng đất bằng cách lẫn lộn đất lửa với các vật do đất và lửa sinh ra. Sau đó, khi các thần muốn đưa người trần từ trong lòng đất ra ánh sáng, họ sai  Prômêtê và Epimêtê phân phối và cấp những sức mạnh cho từng tạo vật. Nhưng Epimêtê yêu cầu Prômêtê để mặc cho một mình anh ta phân phát “Nếu như tôi làm điều thiếu sót thì anh ta sẽ kiểm tra lại”. Nhưng Epimêtê đã phân bố một cách không hợp lí, cấp tất cả mọi khả năng cho súc vật, thành ra con người chẳng còn gì nữa. Khi Prômêtê kiểm tra lại, chàng nhận thấy rằng tất cả các sinh vật khác đều được cung cấp một cách khôn ngoan mọi điều quí báu, trái lại con người thì trần truồng, không biết lấy gì che chở, tự vệ, và không có vũ khí. Nhưng cái này đã được qui định từ trước rằng con người sẽ phải xuất hiện từ lòng đất ra ánh sáng đã đến. Ở trong tình trạng khó khăn này, vì không biết giúp đỡ người trần như thế nào, Prômêtê đã ăn trộm sự khôn ngoan của Hêphaixtôt và Athêna cùng với lửa (bởi vì nếu không có lửa thì không thể nào có được sự khôn ngoan này hay không thể làm cho sự khôn ngoan thành hữu ích) và tặng những cái ấy cho con người. Nhờ vậy con người nhận được sự khôn ngoan cần thiết cho đời sống, nhưng vẫn không có được sự khôn ngoan về mặt chính trị bởi vì cái đó vẫn còn bị Dớt giữ, và Prômêtê không còn được phép vào nhà của Dơt nữa, xung quanh nhà có những người canh giữ dữ tợn. Song Prômêtê lén lút lọt vào nhà chung của Hêphaixtôt và Ahêna,  ở đây hai vị thần đang thực hiện cái nghệ thuật của họ, và sau khi đã ăn trộm được cái nghệ thuật dùng lửa của Hêphaixtôt và nghệ thuật dệt của Athêna, chàng đem tặng cho người đời. Nhờ vậy, con người có khả năng thỏa mãn những yêu cầu sinh hoạt của mình. Nhưng người ta kể lại, sau đó Prômêtê, do lỗi Epimêtê đã bị trừng phạt về tội ăn trộm.


Ở đoạn sau đó của quyển sách, Platông kể lại rằng muốn bảo vệ dòng giống của mình con người vẫn còn thiếu nghệ thuật chiến đấu chống lại súc vật, nghệ thuật này chỉ là một bộ phận của nghệ thuật chính trị, vì vậy họ tập trung ở các thành phố. Nhưng bởi vì họ vẫn chưa có tổ chức nhà nước cho nên họ lại đánh lẫn nhau, rồi lại phân tán đi bốn phương thành ra Dơt bắt buộc phải nhờ Hecmet đưa đến cho họ sự xấu hổ và công lí.


Trong những đoạn đã trình bày ở đây lấy ở “Prôtagôrat” sự khác nhau giữa các mục đích trực tiếp của đời sống liên quan tới những tiện nghi về mặt cơ thể, với việc thỏa mãn những đòi hỏi gần nhất, và tổ chức nhà nước có nhiệm vụ thực hiện những đòi hỏi có tính chất tinh thần, đạo đức, quyền sở hữu, tự do đời sống xã hội. Prômêtê không đem đến cho con người đạo đức, quyền lợi và chỉ dạy cho họ sự ranh mãnh cần thiết để chinh phục các đối tượng của tự nhiên và sử dụng chúng như là những phương tiện để thỏa mãn những đòi hỏi của con người. Lửa và thói quen sử dụng lửa, tự bản thân nó vẫn là một cái gì không có tính đạo đức và nghề dệt cũng không có gì là đạo đức hết mà chỉ phục vụ tính ích kỷ và ích lợi cá nhân, chẳng liên quan gì tới những hứng thú chung quanh của sự tồn tại con người cũng như chẳng liên quan tới đời sống xã hội. Bởi vì Prômêtê không dạy cho con người cái gì có tính tinh thần và đạo đức cho nên chàng không được xếp vào loại thần mới, mà được xếp vào loại Titan. Mặc dù cơ sở các hoạt động của Hêphaixtôt là lửa và các ngành thủ công gắn liền với nó nhưng Hêphaixtôt là một vị thần mới. Dơt ném Hêphaixtôt từ Olempơ xuống và Hêphaixtôt trở thành một vị thần thọt chân. Không có điều gì không nhất quán cả về chỗ Xêret được xếp vào loại những vị thần mới, mặc dầu Xêret cũng là một ân nhân của loài người như Prôtêmê, bởi vì nữ thần đã dạy cho loài người nông nghiệp nhưng cùng với nông nghiệp gắn liền trực tiếp, hôn nhân, tài sản và pháp luật.


(cc) Phạm vi thứ ba những vị thần này, kể ra, không bao gồm những sức mạnh tự nhiên đã được nhân cách hóa với tính chất dã man của họ hay với tính chất ranh mãnh của họ cũng như cái quyền lực gần nhất đối với các yếu tố tự nhiên phục vụ những nhu cầu thứ yếu của tinh thần. Nó liên quan tới những thần tự bản thân đã có tính chất lí tưởng, phổ biến và tinh thần. Nhưng mặc dầu thế, những sức mạnh cần được xếp vào đấy vẫn không có cái cá tính tinh thần cũng như một diện mạo và một biểu hiện ăn khớp với nó, thành ra ở trong hoạt động ít nhiều họ cũng giữ một quan hệ gần gũi với cái tất yếu, cái cần thiết và cái cốt tử ở trong tự nhiên. Thuộc vào loại này có thể nêu lên những biểu tượng về Nêmêđit, Đikê, các Enrini, các Ômênit và các Moarơ. Kể ra, ở đây đã tồn tại những đặc trưng liên quan tới quyền lợi và công lí. Song cái quyền lợi ấy không được quan niệm và không được thể hiện xem như một nội dung có tính tinh thần và có tính bản chất của đạo đức, trái lại hoặc là vẫn dừng lại ở những khái niệm trừu tượng phổ biến nhất, hoặc chỉ là cái quyền lợi đen tối của yếu tố tự nhiên trong lĩnh vực những quan hệ tinh thần. Chẳng hạn, thuộc về loại này là tình yêu đối với những người cùng máu mủ và quyền lợi của nó, quyền lợi này không thuộc vào lĩnh vực  của một tinh thần tự nhận thức mình trong tình trạng tự do rõ ràng và vì vậy không xuất hiện dưới hình thức một quyền lợi được pháp luật với tính cách quyền trả thù một cách khốc liệt.


Còn về những chi tiết khác thì tôi chỉ muốn nhắc tới một vài biểu tượng. Nêmêđit chẳng hạn là cái sức mạnh nhằm hạ thấp những kẻ được nâng cao, lật nhào những kẻ hưởng một hạnh phúc quá đáng để phục hồi lại quyền bình đẳng. Nhưng quyền bình đẳng là một quyền hoàn toàn trừu tượng và ở bên ngoài, mặc dầu nó tỏ ra có hiệu lực trong lĩnh vực những hoàn cảnh và những quan hệ tinh thần song vẫn không làm cho cái thể hữu cơ có tính chất đạo đức của chúng thành nội dung của công lí.


Một mặt chủ yếu khác tóm lại là ở chỗ người ta gán cho các thần cổ xưa việc tuân thủ quyền lợi của những quan hệ gia đình bởi vì các quan hệ này là dựa trên một cơ sở tự nhiên và, do đó, đối lập lại cái quyền lợi công khai và pháp luật của thể cộng đồng. Với tính cách một thí dụ nổi bật chúng ta có thể dẫn “Các Ơmênit” của Etsilơ. Những vị thần trinh bạch khủng khiếp đã đuổi theo Orextơ về tội giết mẹ, nhưng hành động này là do Apôlông, vị thần mới ra lệnh cho chàng để cho Agamemnôn là người chồng và vị vua đã bị giết được trả thù. Tất cả tấn kịch do đó mang tính chất một cuộc đấu tranh giữa hai sức mạnh thần linh trực tiếp can thiệp, chống đối nhau. Một mặt, các Ơmênit là các nữ thần trả thù, nhưng mặt khác người ta gọi họ là những thần xét đoán đúng đắn. Quan niệm thông thường của chúng ta về các nữ thần căm giận trong số đó chúng ta xếp các Ơmênit là một quan niệm thô bạo và dã man. Bởi vì các Ơmênit, về thực chất, có quyền trừng phạt và vì vậy họ không phải chỉ là đáng ghét, dã man và tàn nhẫn trong những sự dày vò mà họ gây nên. Nhưng cái quyền mà họ nêu lên chống lại Orextơ chỉ là cái quyền lợi gia đình mà thôi, bởi vì quyền lợi này xây dựng trên những liên hệ về huyết thống. Vì Orextơ đã phá vỡ mối liên hệ chặt chẽ nhất giữa mẹ và con, cho nên họ can thiệp để bảo vệ cái yếu tố cốt tử ấy. Apôlông dùng cái quyền lợi sâu xa hơn, quyền lợi của người chồng và của vị vua đã bị giết, để chống lại cái đạo đức tự nhiên dựa trên những liên hệ về huyết thống và được cảm thấy một cách tự nhiên.


Mới thoạt nhìn, sự khác nhau này có vẻ là ở bên ngoài, bởi vì cả hai bên đều bảo vệ quyền lợi trong phạm vi một lĩnh vực duy nhất tức là lĩnh vực gia đình. Song cái hư cấu có tư tưởng sâu sắc của Etsilơ (và đây là một lí do khiến cho ta phải đánh giá cao cái hư cấu ấy) đã nhìn thấy ở đây một sự đối lập hết sức cơ bản, chứ không phải là hời hợt. Quan hệ của con cái đối với cha mẹ là dựa trên một sự thống nhất tự nhiên; trái lại, mối liên hệ giữa vợ chồng là do hôn nhân qui định, cái này không phải bị qui định bởi một tình yêu thuần túy tự nhiên, bởi vì sự gần nhau về máu mủ theo tự nhiên, trái lại xuất phát từ một thiên hướng tự giác và, do đó, thuộc về cái đạo đức tự do của cái ý chí tự nhận thức được mình. Trong khi hôn nhân gắn liền với tình yêu và tình cảm, nó vẫn khác cái tình yêu tự nhiên bởi vì độc lập đối với tình cảm này, nó thừa nhận những nhiệm vụ được qui định một cách cụ thể mặc dầu tình yêu đã mất đi.


Quan niệm về sự nhận thức tính bản chất của đời sống vợ chồng là một quan niệm xuất hiện sau này mà nó là sâu sắc hơn mối liên hệ tự nhiên giữa mẹ và con và làm thành giai đoạn đầu của nhà nước với tính cách sự thể hiện cái ý chí tự do và hợp lí. Cũng vậy, các quan hệ giữa nhà vua với các công dân cũng chứa đựng những mối liên hệ chính trị: mọi người đều có quyền lợi như nhau, pháp luật là chung cho mọi người, các mục đích tinh thần được mọi người chấp nhận một cách tự do và tự giác. Chính đó là cơ sở khiến cho các Ơmênit (các nữ thần cũ) muốn trừng trị Orextơ, trong lúc đó thì Apôlông (vị thần của sự minh bạch rõ ràng của hiểu biết, và của cái đạo đức tự nhận thức mình) lại bênh vực quyền lợi của người chồng và của ông vua. Apôlông đã nói rất đúng khi trả lời các Ơmênit (“Các Ơmênit “ câu 213 – 216): “Nếu như tội ác của Klitemnet không được trả thù thì thực ra tôi mất hết cả vinh dự vì đã cho rằng những liên hệ mà Hêra và Dơt đã xác lập là không có giá trị gì hết”.


Sự đối lập này (mặc dầu đã hoàn toàn chuyển sang lĩnh vực tình camr con người và những hành động của con người) còn biểu lộ thú vị hơn nữa ở “Antigôn”, một tác phẩm trác tuyệt về tất cả mọi mặt, hoàn mĩ nhất trong mọi thời đại. Trong bi kịch này có đủ tất cả: cái pháp luật chung của quốc gia đối lập với tình yêu gia đình có tính chất nội tâm và có nhiệm vụ đối với người anh; quyền lợi gia đình mà người bảo vệ là một người đàn bà, nàng Antigôn đối lập lại Krêôn, người bảo vệ quyền lợi của thể cộng đồng. Pôlinic kẻ đánh lại thành bang quê hương của mình đã ngã gục trước cổng thành Thebơ, và Krêôn người trị vì thành bang ban hành đạo luật dọa xử tử bất kì ai chôn cất kẻ thù này của đô thị. Nhưng Antigôn không hề chú ý tới mệnh lệnh, chỉ nghĩ đến phúc lợi chung của quốc gia. Với tính cách một người em gái, nàng thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng là chôn cất anh, và chỉ vâng theo tình yêu cao quí đối với người anh. Khi làm thế, nàng dựa vào pháp luật của thần linh, nhưng những thần linh mà nàng tôn quí đó là những thần linh dưới đất của Hađet (Xôphôklơ “Antigôn” câu 451: “Đạo luật chung của những vị thần dưới đất”), đó là những vị thần của tình cảm nội tâm, của tình yêu, của quan hệ máu mủ, chứ không phải là những vị thần ban ngày của đời sống tự giác của nhân dân và quốc gia.


(c)      Điểm thứ ba mà chúng ta có thể nhấn mạnh đó là sự phân biệt ở trong thần phổ về quan niệm nghệ thuật cổ điển giữa các vị thần cổ với các vị thần mới về quyền lực và thời gian thống trị của họ.


(aa) Trước hết về các vị thần cổ, sự xuất hiện của họ là lần lượt. Theo Hêxiôt, từ cõi hỗn mang nảy sinh Giai, Uranôt, rồi sau đó Krônôt và dòng dõi của thần và cuối cùng Dơt và dòng dõi của mình. Sự kế tiếp nhau này một mặt làm thành sự vươn lên từ những sức mạnh trừu tượng và không có hình thù của tự nhiên tới những sức mạnh cụ thể hơn và đã có một hình thức rõ ràng hơn, và mặt khác yếu tố tinh thần bắt buộc vượt lên khỏi yếu tố tự nhiên. Chẳng hạn trong “Các Ơmênit”, Etsilơ bắt người tăng lữ trong điện thờ thành Đenphơ mở đầu bằng những lời sau đây: “với lời cầu nguyện này tôi tỏ ra thái độ tôn kính trước hết đối với Gaia là người đầu tiên đưa ra những lời tiên tri, rồi sau đó đối với Thêmit là người thứ hai sau mẹ mình đã nói những lời tiên tri ở chỗ này”. Pauxaniat trái lại, tuy nói rằng nhà tiên tri đầu tiên là thần Đất (Gaia) nhưng lại nói thêm rằng thần Đất đã trao nhiệm vụ này cho Đapnê. Còn Pinđarơ thì lại theo một thứ tự khác, ông cho nhà tiên tri đầu tiên là Đêm tối, sau đó Thêmit kế tiếp, sau đó là Phêbê và cuối cùng là Phêbut. Khảo sát chi tiết thêm những lí do của sự khác nhau này giữa ba tác giả sẽ thú vị nhưng không phải ở chỗ làm ở đây.


(bb) Ngoài ra, bởi vì cái thứ tự kế tiếp nhau phải có ý nghĩa là một sự vận động tuần tự tiến tới những vị thần sâu hơn và phong phú hơn về mặt nội dung, cho nên thứ tự kế tiếp nhau cũng là thứ tự loại trừ dần dần tất cả những gì là cổ lỗ và trừu tượng ở trong cái thế hệ những vị thần cũ, những vị chúa tể đầu tiên, cổ xưa hơn đã bị tước mất quyền thống trị và bị thay thế bởi những vị thần sau này hơn: Krônôt lật đổ Uranôt.


(cc) Vì vậy cái tính chất phủ định của sự biến đổi, mà như ta thấy là cố hữu ngay từ đầu ở trong bản chất giai đoạn đầu của hình thức cổ điển của nghệ thuật, bây giờ đã trở thành một trung tâm thực sự của giai đoạn này. Bởi vì ở đây sự nhân cách hóa là hình thức khái quát trong đó các vị thần trở thành một đối tượng biểu hiện và sự vận động diễn ra hướng về cái cá tính nhân tính có tính chất tinh thần (mặc dầu cá tính này ngay từ đầu hãy còn mang diện mạo mơ hồ và không chính xác) cho nên sự phủ định này ở trong trí tưởng tượng lại mang hình thức cuộc đấu tranh giữa các vị thần mới với các vị thần cũ. Nhưng sự tiến triển chủ yếu là sự vận động đi từ tự nhiên tới tinh thần cả với tính cách nội dung thực sự cũng như với tính cách hình thức chân chính của nghệ thuật cổ điển. Sự tiến triển này, và cuộc đấu tranh nhờ đó nó được thực hiện, không còn chỉ dành riêng cho các vị thần cổ mà là một bộ phận của cuộc đấu tranh qua đó các vị thần mới xác lập sự thống trị lâu dài của họ đối với các vị thần cũ.


 


c.       Sự thất bại của các vị thần cũ.


 


Sự đối lập giữa tự nhiên và tinh thần là một sự đối lập cần thiết. Bởi vì, như chúng ta đã thấy, khái niệm tinh thần trong khi là một toàn thể thực sự, vẫn bao hàm một sự phân chia nội tại giữa tính khách quan ở bản thân nó và tính chủ thể ở bản thâ nó, hoặc một sự đối lập cho phép nó vượt ra khỏi tự nhiên để sau đó đối lập lại tự nhiên và trở thành ke chiến thắng tự nhiên một cách tự do và oanh liệt và thành kẻ thống trị tự nhiên. Yếu tố chủ yếu này của bản chất tinh thần vì vậy cũng là một trong những yếu tố chủ yếu ở trong biểu tượng mà tinh thần cấp cho mình. Thực vậy, trong lịch sử, bước chuyển này là một sự chuyển hóa tiến lên của con người từ trạng thái tự nhiên được nâng lên tới một tình trạng dựa trên công lí, tài sản, pháp luật, sự tổ chức nhà nước, đời sống chính trị. Trong lịch sử, các thần, dưới những hình tượng vĩnh viễn, đây là biểu tượng về chỗ những vị thần cá nhân, có tính chất tinh thần chiến thắng các sức mạnh của tự nhiên.


(a)      Cuộc đấu tranh này miêu tả sự sụp đổ tuyệt đối và làm thành hành động chủ yếu của các thần nhờ đó họ nêu bật sự khác nhau chính giữa các vị thần cũ và các vị thần mới. Vì vậy, chúng ta không nên xem cuộc đấu tranh nêu bật sự khác nhau này chỉ là một thần thoại đã tạo nên một bước ngoặt giải thích sự xuất hiện vị thần mới.


(b)      Kết quả của cuộc đấu tranh bằng võ lực này là các Titan bị lật đổ, các vị thần mới hoàn toàn chiến thắng. Trí tưởng tượng đã cấp cho họ mọi ưu điểm có thể có trong sự thống trị của họ. Trái lại các Titan đều bị đày và phải ở trong lòng đất, hoặc như Oxêanôt ở cái nơi tối tăm của cái thế giới vui tươi rạng rỡ, hay phải chịu những trừng phạt đa dạng: Prômêtê chẳng hạn bị xích vào ngọn núi Xithi ở đấy một con chim ưng ăn cái gan của chàng ngày nào cũng mọc lại. Tăngtan ở dưới đất phải chịu một nỗi khát không bao giờ thỏa mãn được và Xidiphơ cứ hoài công đẩy lên núi cái tảng đá không ngừng lăn xuống dưới. Những trừng phạt này, cũng như bản thân cái sức mạnh có tính chất Titan của tự nhiên, nói lên một bản chất quá mức độ, cái vô hạn kém cỏi, nỗi ham muốn khát khao muốn được xung sướng hay tình trạng không thỏa mãn của những đòi hỏi chủ quan này vì cứ lặp lại không ngừng cho nên không đạt đến sự nghĩ ngơi và sự thỏa mãn. Đối với tình cảm tôn giáo thực sự của người Hy Lạp khao khát muốn vươn tới cái xa xôi không đạt tới được và cái mơ hồ, không phải là một điều cao quí đối với con người, và đối lập lại với sự đánh giá ngày nay của chúng ta cho cái khao khát này là một cái gì cao quí đối với con người thì người Hy Lạp lại xem đó là một điều nguyền rủa và dành cho nó chỗ đứng dưới địa ngục.


(c)      Các yếu tố của tự nhiên ở trong nghệ thuật cổ điển bây giờ phải lùi về phía sau và không còn được xem là chính thức hoàn mĩ và là một nội dung thích hợp. Do đó, đối với các thế giới của những vị thần mới, tất cả những cái gì mơ hồ, quái đản, không rõ ràng, sự pha trộn dã man của tinh thần và tự nhiên, sự pha trộn của những ý nghĩa có tính bản chất và những nét bên ngoài ngẫu nhiên đều bị gạt bỏ. Ở trong cái thế giới này các sản phẩm của một trí tưởng tượng phóng túng chưa biết đến những ràng buộc của yếu tố tinh thần đều không còn thích hợp nữa; thực vậy, chúng cần phải tránh ánh sáng lồ lộ của ban ngày. Người ta có thể tha hồ tô điểm các Cabia lớn, các Côribantơ, các hình tượng của cái sức mạnh sản sinh v.v… nhưng tất cả những cách nhìn như vậy về tính chất của nó đã thuộc về một ý thức hãy còn mờ tối. Chỉ có yếu tố tinh thần là phát triển dưới ánh sáng ban ngày rõ rệt, trái lại tất cả những gì không biểu lộ và không mang ở bản thân nó sự giải thích của chính mình, không có tính chất tinh thần đều chìm vào bóng đêm và tăm tối. Song yếu tố tinh thần biểu lộ ở chỗ tự nó qui định cái hình thức bên ngoài của mình, tự nó gạt bỏ tính chất võ đoán của hư cấu, những hình ảnh mơ hồ lẫn lộn cũng như các điều thứ yếu khác của một tính chất tượng trưng mơ hồ.


Cũng tương tự như vậy, hoạt động của con người nếu chỉ bó hẹp vào việc thỏa mãn những đòi hỏi thì sẽ bị đẩy lùi ra phía sau. Pháp luật cổ, thần Thêmit, thần Đikê v.v… vốn không phải là những pháp luật bắt nguồn từ tinh thần tự giác, đã bỏ mất cái sức mạnh vô hạn của nó; trái lại những nét thuần túy địa phương, mặc dầu vẫn còn đóng một vai trò nào đấy, đã biến thành những hình tượng phổ biến của những vị thần, ở đấy dấu vết quá khứ của họ vẫn chưa hoàn toàn biến mất. Bởi vì chúng giống như trong chiến tranh Troa, người Hy Lạp đã chiến đấu và đã chiến thắng với tính cách một nhân dân duy nhất, cũng vậy các vị thần của Hômerơ trước đây đã đấu tranh chống lại các Titan làm thành một thế giới thần linh cố địh và chính xác, ngày càng thêm cố định và chính xác ở trong thơ ca và nghệ thuật tạo hình sau này. Cái tính vững chắc không thể phá vỡ trong nội dung các vị thần Hy Lạp chỉ là tinh thần nhưng đây không phải  là cái tinh thần với tính cách trừu tượng nội tại mà là cái tinh thần đồng nhất với cái vẻ bên ngoài, ăn khớp với với sự tồn tại của nó chẳng khác gì thân thể và linh hồn ở Platông, linh hồn là hợp nhất với cái vẻ bên ngoài của nó và dường như chỉ làm một khối ở trong sự hợp nhất được biểu hiện bởi yếu tố thần linh và yếu tố vĩnh viễn.


(còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Tác giả: G. Hegel. Phan Ngọc dịch & giới thiệu. NXB Văn học, 1999.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Nghe Tô Hoài, đọc lại Vũ Bằng - Đỗ Trung Lai 02.10.2017
xem thêm »