tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18962327
Lý luận phê bình văn học
14.03.2017
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học (37)



1.       Sự phân chia.


Về sự phân chia nghệ thuật cổ điển thì theo một ý nghĩa khái quát hơn, người ta thường gọi mọi tác phẩm nghệ thuật hoàn mĩ là cổ điển dù cho nó thuộc tính chất gì, tượng trưng hay lãng mạn. Chúng tôi đã dùng từ này theo nghĩa tính hòan mĩ về nghệ thuật, song vẫn có sự khác nhau là tính hoàn mĩ này bị qui định bởi tình trạng hoàn toàn thâm nhập vào nhau của cái cá tính tự do  bên trong và sự tồn tại bên ngoài ở đấy cá tính này xuất hiện trước mắt ta với tính cách của nó. Vì vậy, chúng tôi phân biệt rõ ràng hình thức nghệ thuật cổ điển lãng mạn là nơi nội dung và hình thức của cái đẹp mang tính chất khác hẳn. Ở đây chúng tôi không nói đến danh từ cổ điển xét theo cái nghĩa thông thường, mơ hồ, cũng như không nói đến những hình thức nghệ thuật đặc thù ở đấy cái lí tưởng cổ điển được thực hiện, chẳng hạn điêu khắc, sử thi, những thể loại nhất định của thơ trữ tình, cũng như các hình thức loại biệt của bi kịch và hài kịch. Mặc dầu các hình thứ đặc thù này của nghệ thuật mang dấu ấn của nghệ thuật cổ điển, chúng tôi chỉ có thể khảo sát ơphần phần thứ ba ở đấy chúng tôi sẽ nói đến sự phát triển của từng nghệ thuật và các bộ phận của nó. Còn ở đây chúng tôi chỉ nhằm khảo sát chi tiết nghệ thuật cổ điển theo cái nghĩa của từ này mà chúng tôi đã xác lập, và vì vậy, với tính cách cơ sở để phân chia chúng tôi chỉ có thể chấp nhận những giai đoạn phát triển nảy sinh tự bản thân khái niệm này về lí tưởng cổ điển. Những yếu tố chủ yếu của sự phát triển này là những yếu tố sau đây.


Điểm thứ nhất mà chúng tôi cần phải chú ý tới đó là điểm sau đây: khác nghệ thuật tượng trưng, nghệ thuật cổ điển không phải là khởi thủy của nghệ thuật mà trái lại là kết quả của nó. Chúng ta đã đi đến nghệ thuật cổ điển từ sự phát triển những phương thức biểu hiện tượng trưng làm thành tiền đề của nghệ thuật cổ điển. Điểm chính xung quanh đó diễn ra sự vận động đó là sự cụ thể hóa nội dung xung quanh cái cá tính tự giác rõ ràng ở bản thân. Để biểu hiện mình, cá tính không thể sử dụng hình thức tự nhiên thuần túy, dù hình thức ấy là vay mượn ở yếu tố tự nhiên hay ở giới động vật. Nó cũng không thể sử dụng sự nhân cách hóa và hình thức con người có pha lẫn yếu tố tự nhiên, mà bộc lộ ở trong tính sinh động của cái cơ thể người tràn ngập tinh thần. Bản chất của tự do tóm lại là nó phải là như nó xuất hiện do bản thân nó. Vì vậy, tất cả những gì lúc đầu đóng vai điều kiện và tiền đề làm nghệ thuật cổ điển nảy sinh ở phạm vi của lí tưởng cổ điển bây giờ cần phải đưa vào cái phạm vi này để nêu bật cái nội dung chân chính và hình thức chân thực bằng cách khắc phục tất cả những gì là phủ định và không thích hợp. Quá trình tạo nên hình thức cũng như ở trong nội dung vì vậy là cái điểm mà chúng ta phải xuất phát từ đấy và chúng ta phải khảo sát nó ở chương thứ nhất.


chương thứ hai, sau khi đã khảo sát sự phát triển này, chúng ta đi đến cái lí tưởng chân thực của hình thức cổ điển. Ở đây trung tâm của nó là cái thế giới mới mẻ đẹp đẽ của các vị thần Hy Lạp do nghệ thuật thực hiện, mà chúng ta cần phải khảo sát chi tiết cả về mặt cá tính tinh thần cũng như về mặt hình thức cảm quan gắn liền trực tiếp với cá tính ấy.


Thứ ba, khái niệm nghệ thuật cổ điển chứa đựng không những sự hình thành độc lập cái đẹp của nó mà còn chứa đựng cả sự tan rã của cái đẹp ấy, sự tan rã này dẫn chúng ta tới một lĩnh vực khác là lĩnh vực hình thức nghệ thuật lãng mạn. Các tinh thần và các con người có cá tính của cái đẹp cổ điển sau khi đã nảy sinh đối với nhận thức nghệ thuật, lại chết đi. Nhận thức này hoặc quay về cái mặt tự nhiên ở đấy nghệ thuật Hy Lạp đã nâng lên đến cái đẹp hoàn mĩ nhất, hoặc hướng về một hiện thực xấu xí, thấp hèn, không có yếu tố thần linh để phơi bày tính chất giả dối và phủ định của nó. Giai đoạn này của sự tan rã làm nảy sinh một hoạt động nghệ thuật mà chúng ta sẽ xét ở chương thứ ba. Những yếu tố mà sự hài hòa làm thành bản chất của nghệ thuật cổ điển và nguồn gốc của cái đẹp của nó bị chia tách. Ở một bên là bản thân nội cảm, còn ở bên kia là nội cảm tách rời khỏi tồn tại bên ngoài sau khi tính chủ thể đã quay trở về bản thân mình, bởi vì nó không thể tìm thấy trong các hình thức trước kia một hoạt động ăn khớp với nó. Nội cảm cần phải lấy cái thế giới tinh thần mới của tự do tuyệt đối và của cái vô hạn làm nội dung và chú ý tới những hình thức mới để biểu hiện cái nội dung sâu sắc này.


 




 


Chương thứ nhất


 


QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH HÌNH THỨC CỔ ĐIỂN


 


Ở trong khái niệm tinh thần tự do đã trực tiếp chứa đựng yếu tố quay vào bản thân, quay trở về mình, tồn tại cho chính mình và sống ở đấy, mặc dầu thái độ đi sâu vào thế giới nội tâm như chúng tôi đã nối ở trên không được chuyển thành thái độ chủ thể khẳng định tính độc lập của mình đối lập lại mọi cái gì cốt tử trong tinh thần và mọi cái gì tồn tại trong tự nhiên cũng như đối lập lại sự hòa giải tuyệt đối là cái làm thành tính tự do của một tính chủ thể thực sự vô hạn.


Nhưng tự do tinh thần dù xuất hiện dưới bất kỳ hình thức nào, nói chung cũng gắn liền với việc gạt bỏ tính tự nhiên thuần túy cho đó là một cái gì xa lạ đối với tinh thần. Tinh thần phải bắt đầu bằng cách rời bỏ tự nhiên để quay trở về mình, bằng cách vượt lên khỏi tự nhiên, khắc phục nó trước khi có khả năng thống trị tự nhiên một cách không bị cản trở, xem đó là một yếu tố ngoan ngoãn phục tùng rồi hoán cải nó thành một tồn tại tích cực của tự do của mình.


Nhưng nếu chúng ta hỏi cái đối tượng cụ thể hơn (nhờ tinh thần ở trong nghệ thuật cổ điển đã có được tính độc lập của mình bằng cách gạt bỏ đối tượng ấy) là cái gì thì chúng ta sẽ thấy rằng đối tượng này không phải là cái tự nhiên đơn thuần mà là một tự nhiên đã thấm nhuần ý nghĩa tinh thần: tức là hình thức nghệ thuật tượng trưng. Để biểu hiện đấng Tuyệt đối, hình thức tượng trưng đã sử dụng những hình thức tự nhiên trực tiếp, ý thức nghệ thuật hoặc là đã nhận thấy ở trong súc vật biểu hiện thần linh , hoặc là nó cố gắng vươn tới một sự thống nhất thực sự giữa tinh thần với tự nhiên một cách giả tạo nhưng không thành công. Nhờ gạt bỏ và hoán cải sự hợp nhất giả dối này, lí tưởng nghệ thuật lần đầu tiên đã tạo ra minh với tính cách lí tưởng nghệ thuật và vì vậy nó phải phát triển ở mình những cái mà nó có nhiệm vụ khắc phục với tính cách một yếu tố thuộc về nó.


Đều này cho phép ta giải quyết câu hỏi: Người Hy Lạp có vay mượn tôn giáo của họ ở các dân tộc khác hay không? Chúng ta đã thấy rằng khái niệm cổ điển chức đựng một số quan điểm một cách tất yếu với tính chất tiền đề. Các quan điểm này trong chừng mực chúng diễn ra và xuất hiện thực tế ở trong thời gian cho nên đối với các hình thức cao hơn mà chúng tìm cách tạo nên, chúng là một hiện thực từ đó xuất hiện một nền nghệ thuật trên đường phát triển. Kể ra, về thần thoại Hy Lạp, chúng ta không thể chứng minh điều đó hoàn toàn bằng những bằng chứng lịch sử. Tinh thần Hy Lạp đối xử với các tiền đề này một cách sáng tạo, bằng cách hoán cải chúng một cách phủ định. Nếu như không phải thế thì các biểu tượng, và các hình ảnh đáng lí ra phải là nguyên vẹn như cũ. Mặc dầu Hêrôđôt cũng nói về Hômerơ và Hêxiôt trong những đoạn chúng tôi đã dẫn, bảo rằng hai người này đã sáng tạo thần linh cho những người Hy Lạp, nhưng về từng vị thần một thì Hêrôđôt khẳng định cụ thể rằng các thần ấy là nguồn gốc Ai Cập v.v… Sự sáng tạo nên thơ, do đó, không loại trừ việc vay mượn ở ngoài, mà chỉ bao hàm một sự hoán cải nó một cách cơ bản. Bởi vì người Hy Lạp đã có những biểu tượng tinh thần ngay trước cái thời mà theo Hêrôđôt, Hômerơ và Hêxiôt đã sống.


Không những thế, nếu như chúng ta hỏi sự hoán cải cần thiết này của tài liệu thuộc về lí tưởng là ở chỗ nào (bởi vì tài này lúc đầu không phải là ăn khớp với lí tưởng) thì chúng ta tìm thấy một biểu tượng ngây thơ về điều đó ở ngay trong nội dung của thần thoại. Việc làm chủ yếu của các vị thần Hy Lạp là tự sản sinh ra mình và tự qui định mình xuất phát từ cái quá khứ thuộc về lịch sử ra đời và phát triển của dòng giống các thần. Muốn cho các thần tồn tại dưới hình thức những cá nhân có tính chất tinh thần, có một cơ thể của con người, tinh thần phải nhận thấy rằng bản chất của mình là không thích hợp với sự biểu hiện ở trong động vật, và cho rằng cuộc sống ấy là không xứng đáng với thần, và điều bất hạnh và cái chết của vị thần. Mặt khác, tinh thần phải chiến thắng yếu tố cơ bản ở trong tự nhiên và sự thể hiện lộn xộn ở trong yếu tố ấy. Và ngược lại còn một điều cũng cần thiết đối với lí tưởng các thần linh cổ điển: thần linh ở trong tình trạng phong bế trừu tượng của mình không những đối lập với tự nhiên và các yếu tố của tự nhiên mà còn có ở bản thân họ những yếu tố phù hợp với đời sống của tinh thần, chẳng khác gì một tinh thần cụ thể. Bởi vì các thần linh ở bản thân họ, về bản chất là phổ biến và ở trong tình trạng phổ biến này họ đồng thời là những cá nhân hoàn toàn cụ thể, cũng vậy về mặt cơ thể của họ, họ cần phải chứa đựng yếu tố tự nhiên với tính cách một sức mạnh có tầm rộng lớn và với tính cách một hoạt động gắn liền chặt chẽ với hoạt đồng tinh thần.


Chúng ta có thể phân chia quá trình hình thành của hình thức cổ điển như sau:


Điểm thứ nhất, điểm cơ bản, là yếu tố động vật bị hạ thấp và bị loại trừ ra khỏi cái đẹp tự do, thuần túy.


Mặt thứ hai, quan trọng hơn, liên quan tới các sức mạnh cơ bản của tự nhiên mà lúc đầu vẫn còn được biểu hiện với tính cách những vị thần; chỉ có chiến thắng các sức mạnh ấy người ta mới có thể đạt tới sự thống trị tuyệt đối của dòng giống tinh thần. Điểm này liên quan đến cuộc đấu tranh và cuộc chiến tranh giữa các vị thần cũ và các vị thần mới.


Thứ ba, xu hướng phủ định này sau khi đạt đến quyền tự do của mình bằng tinh thần, lại trở thành một xu hướng tích cực; yếu tố tự nhiên làm thành cái mặt tích cực của các thần thấm nhuần tinh thần cá biệt, bây giờ lại chấp nhận những yếu tố động vật nhưng các yếu tố sau chỉ làm thành thuộc tính và dấu hiệu bên ngoài mà thôi.


Xuất phát từ những quan niệm như vậy, bây giờ chúng ta hãy xác lập những nét cụ thể hơn của cái đối tượng mà chúng  ta phải khảo sát.


 


1.       Sự hạ thấp yếu tố súc vật.


 


Ở người Ấn Độ và người Ai Cập, ở các dân tộc châu Á nói chung, súc vật, hay ít nhất là một vài giống động vật nhất định được xem là thiêng liêng bởi vì bản thân thần linh thể hiện ở đấy như một đối tượng để chiêm ngưỡng. Vì vậy, hình thức súc vật làm thành một trong những yếu tố chính của sự miêu tả nghệ thuật, mặc dầu trong sự phát triển này, nó chỉ được sử dụng như một tượng trưng và gắn liền với những hình dáng người, và chỉ mãi về sau yếu tố nhân tính, và chỉ có nó mà thôi mới được nhận thức là cái chân thực duy nhất. Nhờ chỗ tự nhận thức được tính chất tinh thần, sự sùng bái gây nên do tính chất huyền bí tối tăm mơ hồ của đời sống động vật cũng biến mất. Sự thay đổi này đã xuất hiện ở người Do Thái cổ, bởi vì như chúng ta đã thấy ở trên, người Do Thái cổ không nhìn thấy ở trong tự nhiên một hình ảnh tượng trưng, cũng như sự nhập thân của Thượng đế và chỉ cấp cho các sự vật bên ngoài cái sức mạnh và sức sống mà thực tế chúng có được. Song người ta vẫn tìm thấy ngay cả ở họ, mặc dầu là ngẫu nhiên, sự tôn thờ trước tất cả những cái gì có sức sống chẳng hạn Môixơ cấm không được uống máu súc vật, bởi vì sự sống là nằm trong máu. Nhưng con người vẫn có quyền ăn tất cả những gì có ích cho mình. Bước tiến tiếp theo mà chúng ta cần phải nêu lên, dẫn tới nghệ thuật cổ điển tóm lại là làm cho động vật mất phẩm chất và địa vị cao quí và làm cho sự hạ thấp này thành nội dung của các biểu tượng tôn giáo và của các sáng tạo nghệ thuật. Trong tình trạng đa dạng những thí dụ thuộc loại này chúng ta chỉ chọn một vài trường hợp.


 


a.       Sự dâng súc vật làm vật hiến tế.


Ở người Hy Lạp, một vài động vật được ưu đãi hơn các động vật khác, chẳng hạn ở Hômerơ con rắn vẫn là một vị thần yêu quí khi hiến tế (“Iliat”, II,308; XII, 208) và người ta dâng cho mỗi vị thần một loại súc vật nào đó, còn dâng cho một vị thần khác một loại súc vật khác. Người Hy Lạp cổ đại chú ý xem con thỏ có chạy qua đường không, con chim bay về phía bên trái hay bên phải. Họ khảo sát sự phân bố ở trong bụng súc vật để đưa ra những lời tiên đoán. Ở đây vẫn còn một loại thờ phụng súc vật bởi vì các thần linh biểu lộ với người bằng những biện pháp này. Song về thực chất, đây chỉ là những khải phát hoàn toàn cá biệt. Cố nhiên đó là một điều mê tín chỉ nói lên một cách thoáng qua về yếu tố thần linh.


Việc dâng súc vật làm vật hiến tế và ăn thịt những vật hiến tế có một ý nghĩa quan trọng hơn. Đối lập với điều đó, người Ấn Độ vẫn giữ những động vật thiêng liêng và họ săn sóc các động vật ấy, còn người Ai Cập thì sau khi động vật chết họ còn giữ cho chúng khỏi bị hủy hoại. Người Hy Lạp cho rằng hành động dâng các vật hiến tế là thiêng liêng. Bằng cách dâng vật hiến tế, con người chứng tỏ rằng y sàng từ bỏ cái vật mà y đã dành cho thần và không sử dụng nó. Đối với người Hy Lạp, một điều tiêu biểu là đối với họ dâng vật hiến tế đồng thời có ý nghĩa là tổ chức bữa tiệc (“Ođixê”, XIV, 414, XXIV 215) bởi vì họ chỉ dành cho thần linh có một phần thôi, phần nào của súc vật mà không ăn được, trái lại họ giữ lấy thịt mà ăn. Một thần thoại đã nảy sinh gắn liền với điều đó. Người Hy Lạp cổ đại dâng cho thần trong những lễ hiến tế rất long trọng, và để cho những ngọn lửa đốt cháy tất cả các động vật. Song người nghèo không thể nào làm những điều hoang phí như thế. Bấy giờ Prômêtê cố gắng làm cho Dớt cho phép những người nghèo chỉ dâng làm vật hiến tế một phần của con vật mà thôi và ăn phần kia. Prômêtê giết chết hai con bò, đốt gan của chúng, để xương quấn trong một tấm da, còn thịt quấn một tấm da khác, và để cho Dớt lựa chọn. Dớt bị lừa, chọn xương bởi vì đống này to hơn, và như vậy thịt là dành cho người. Vì vậy, người Hy Lạp ăn thịt những con vật hiến tế còn đốt những phần còn lại dành cho các thần ở trong ngọn lửa hiến tế.


Dớt lấy mất lửa của con người bởi vì không có lửa thì họ không thể dùng thịt vào việc gì. Nhưng điều này cũng không ăn thua. Prômêtê ăn trộm lửa và chạy như bay vì vui mừng. Vì vậy theo truyền thuyết ngay bây giờ những người mang tin vui đến cũng chạy rất nhanh. Người Hy Lạp như vậy đã chú ý tới mỗi thành công của văn hóa con người và sau khi khoác cho nó hình thức một thần thoại, họ đã giữ nguyên vẹn thần thoại ấy đối với ý thức của họ.


 


b.       Săn bắn.


 


Thuộc vào số này, với tính cách một thí dụ tương tự về tình trạng sa sút của yếu tố động vật còn rõ rệt hơn nữa, đó là những hồi tưởng về các cuộc săn bắn nổi tiếng mà người ta gán cho các anh hùng, và người ta giữ một kỷ niệm đầy vẻ biết ơn đối với họ. Đó là việc tiêu diệt những động vật, chẳng hạn chuyện Hêraklet bóp chết con sư tử Nêmê, giết chết con long xà Lecnơ, săn đuổi con lợn lòi Calêđôn v.v… được thừa nhận là một chiến công cao nhất làm cho vị anh hùng được nâng lên hàng thần linh trong lúc đó thì người Ấn Độ trị tội tử hình việc giết những động vật nhất định. Cố nhiên, cơ sở những chiến công này là những tượng trưng khác, chẳng hạn mặt trời và sự vận hành của mặt trời trong trong thần thoại về Hêraklet. Những hành động anh hùng này cấp cho chúng ta tài liệu chủ yếu cho những sự giải thích có tính chất tượng trưng. Song các thần thoại này vẫn còn được hiểu theo một ý nghĩa nhất định là những cuộc săn bắn làm lợi cho con người và người Hy Lạp đã quan niệm như vậy.


Theo loại suy, ở đây chúng ta lại cần phải nhắc tới một vài ngụ ngôn của Edôp, nhất là ngụ ngôn về con bọ hung. Con bọ hung, đó là một tượng trưng của Ai Cập cổ đại. Những người Ai Cập hay những người giải thích các tín ngưỡng tôn giáo Ai Cập đã nhìn thấy ở trong cái đống phân hình cầu là hình cầu của thế giới. Ở Edôp, hình ảnh này cũng xuất hiện bên cạnh Giupite, nhưng với một mối liên hệ quan trọng là con diều hâu không tôn trọng sự che chở mà con bọ hung đã tỏ ra đối với con thỏ. Trái lại Arixtôphan đã biến con bọ hung thnàh một đối tượng để chế nhạo.


 


c.       Những biến đổi.


 


Thứ ba, sự hạ thấp yếu tố động vật biểu lộ trực tiếp trong những chuyện kể về nhiều sự biến đổi mà Ovit đã miêu tả, bằng cách trình bày hấp dẫn, hóm hỉnh, biểu lộ một tình cảm tế nhị và một hiểu biết sâu sắc như người cũng dài dòng. Ông không thừa nhận ý nghĩa sâu sắc trong các thần thoại, không nhìn cái tinh thần to lớn bên trong thống trị ở đấy, trái lại trình bày thành những trò chơi thần thoại và những biến cố bên ngoài. Thực ra, chúng không phải không có ý nghĩa rất sâu sắc và chính vì vậy chúng tôi muốn chắc đến chúng. Một phần lớn các chuyện kể này về mặt tài liệu là kỳ quặc và dã man không phải do một nền văn hóa bị hư hỏng, mà là do một tình trạng bị hư hỏng của một bản chất hãy còn thô lỗ như trường hợp ta thấy trong “Các bài hát về các Nibelungen” cho đến quyển thứ XIII thì những chuyện kể này thực chất là cổ hơn các chuyện kể của Hômerơ: ngoài ra, ở đây còn pha trộn những vũ trụ luận và những yếu tố tượng trưng nguồn gốc, Phơrêgi, Phenigi, Ai Cập xa lạ và tuy những chuyện này được xử lí một cách con người, song cái cơ sở ngu xuẩn của chúng vẫn nguyên vẹn. Trái lại trong “Những biến đổi” trình bày những chuyện diễn ra của một thời kỳ sau chiến tranh Troa rất nhiều, mặc dầu có nhắc tới tên của Agiăc và Enê một cách không hợp chỗ.


(a)      Nói chung, ta có thể nhìn thấy các biến đổi của Ovitlà đối lập lại các quan niệm của người Ai Cập về động vật và việc thờ phụng động vật. Các biến đổi được khảo sát theo khía cạnh đạo đức của tinh thần chứa đựng một thái độ phủ định đối với tự nhiên: động vật và thế giới vô cơ được xem là một hình thức hạ thấp con người. Vì vậy nếu như những người Ai Cập thần linh của tự nhiên được nâng lên hàng động vật, thì ở đây trái lại, các tồn tại tự nhiên, như chúng tôi đã nói ở trên, xuất hiện trước mắt ta với tính cách một sự trừng phạt về một tội lỗi khủng khiếp và những hành vi ít nhiều nghiêm trọng; chúng được xem là một sự tồn tại của yếu tố không phải thần linh, của sự bất hạnh, là hình ảnh của sự đau buồn mà bản chất con người không sao chịu nổi. Không thể nào giải thích các biến đổi này là sự luân hồi theo nghĩa Ai Cập, bởi vì cái này không gắn liền với tội lỗi; hiện tượng con người biến thành một động vật được người Ai Cập xem là một sự đề cao.


Nói chung, “Những biến đổi” không phải là một liên hoàn trọn vẹn những thần thoại, dù cho các đối tượng của tự nhiên trong đó yếu tố tinh thần được nêu lên có khác nhau đến đâu đi nữa. Đây là một vài thí dụ để soi sáng sáng những điều đã nói.


Ở người Ai Cập, con chó sói giữ một vai trò quan trọng. Chẳng hạn thần Oxirit đã xuất hiện trước con trai của mình là Hôrut dưới hình thức chó sói, xem như người cứu giúp cho khi người con chiến đấu chống lại Tiphôn; trên một số tiền tệ Ai Cập. Oxirit được miêu tả đang giúp đỡ Horut. Nói chung, sự kết hợp giữa con chó sói với thần mặt trời là bắt nguồn từ thời cổ đại xa xưa. Trái lại, trong “Các biến đổi” của Ovit, hiện tượng Licaôn biến thành chó sói được biểu hiện thành một sự trừng phạt về tội không tôn trọng thần linh. Sau khi chiến thắng các khổng lồ và ném các thân hình của họ xuống đất, mặt đất (“Các biến cố” I, câu 15-248) nóng lên do máu của những đứa con của nó đã làm cho dòng máu nóng bỏng ấy thấm nhuần sức sống để dừng lại một vết nào của gióng nòi man rợ đã tạo ra giống người. Song vì thế hệ này vẫn coi thường thần linh, thiên về việc giết tróc hung bạo và bạo lực. Lúc bấy giờ Giupite triệu tập các thần để tiêu diệt giống người trần này. Giupite bảo các thần rằng Licaôn đã ranh mãnh lừa dối mình, vị chúa tể các thần và chủ của sấm sét như thế nào. Khi tin tức về những hành vi xấu xa Accđi. Giupite nói: “Ta đã báo tin bằng những dấu hiệu cho biết rằng một vị thần linh sẽ đến và nhân dân bắt đầu cầu nguyện”. Nhưng Licaôn lúc dầu chế nhạo những lời cầu nguyện sùng đạo và sau đó thốt lên: “Ta sẽ thử xem đó là thần hay là người trần và sự thực sẽ hiển nhiên”. Giupite nói tiếp: “Hắn tìm cách làm cho ta chìm đắm trong giấc ngủ ban đêm; đó là cách hắn thích dùng để thí nghiệm sự thực. Và không chỉ hài lòng về việc đó, hắn dùng kiếm đâm vào cổ một người con tin nguồn gốc bộ lạc Môlôtxơ, và sau đó nấu và quay trên lửa những bộ phận đã chết một nửa và mời ta ăn. Ta đã biến ngôi nhà của hắn thành tro bụi bằng ngọn lửa trừng phạt của ta. Licaôn hoảng hốt bỏ chạy khỏi nhà và khi đã chạy đến những cánh đồng tĩnh mịch, hắn gào lên và cố gắng nói nhưng không nói được. Miệng điên cuồng hắn lao vào đàn cừu với nỗi khao khát chém giết của hắn và bây giờ hắn vui mừng khi nhìn thấy máu chảy. Áo quần của hắn biến thành lông, tay của hắn biến thành chân, hắn trở thành con chó sói trong khi vẫn giữ những dấu vết của hình thức trước đây”.


Người ta cũng tìm thấynhững điều dã man như vậy trong chuyện kể về tội ác mà Prôcnê (sau này biến thành chim sơn ca) đã phạm. Khi Prôcnê yêu cầu Têrêôt, chồng mình (“Những biến đổi” VI, câu 440 – 676), rằng nếu như chồng thực sự làm ơn cho nàng thì hãy cho phép nàng đến gặp em gái, hay cho phép em gái đến thăm nàng. Têrêôt vội vàng sắm sửa tầu bè, giương buồm chèo nhanh tới hải cảng Pirê. Nhưng vừa mới nhìn thấy Philômen, y đã say mê nàng với một tình yêu tội lỗi. Lúc hai người ra đi, Panđiôn, cha Philômen yêu cầu Têrêôt săn sóc nàng với tình yêu người cha và nhanh nhanh để cho niềm an ủi của tuổi già của ông được trở về với ông. Nhưng cuộc hành trình vừa kết thúc thì tên dã man đã giam giữ nàng, còn Prôcnê run sợ lẩy bẩy, mặt tái mét, lo sợ cho tất cả những tai họa có thể xẩy ra với Philômen, nước mắt ràng rụa hỏi chồng em gái ở đâu. Trái lại người chồng dùng vũ lực bắt Philômen phải làm vợ hầu của mình trong khi vẫn lấy người chị. Căm giận sôi sục, Philômen đe dọa sẽ vứt bỏ mọi điều xấu hổ và sẽ phơi bày tội lỗi của y. Têrêôt tức giận tuốt kiếm, trói nàng, cắt lưỡi nàng và quỉ quyệt báo tin cho chị nàng rằng Philômen đã chết. Prôcnê khóc than kéo cái áo gấm vóc của mình khỏi vai, mặc đồ tang dựng lên một quan tài trống và khóc thương số phận của người em gái, nhưng số phận không phải như nàng tưởng. Nhưng Philômen làm gì? Bị giam giữ, mất lời nói và tiếng nói, nàng phải dùng mưu mô. Nàng lấy những sợi chỉ đỏ thêu cái tin về tội lỗi đã phạm trên một miếng vải trắng và ngầm gửi tấm vải cho Prôcnê. Người vợ của Têrêôt biết được câu chuyện đau thương của em gái mình; nhưng nàng không nói gì hết, không khóc mà chỉ nghĩ đến việc trả thù. Đã đến ngày lễ thần Baccut. Bị nỗi đau khổ thúc đẩy, nàng đến chỗ giam giữ em, kéo em ra khỏi tù và đem về chỗ mình. Một khi về nhà, trong khi tự hỏi mình nên trả thù chồng bằng cách nào cho thực khủng khiếp, đứa con trai của nàng là Itit đến với mẹ. Nàng nhìn con với đôi mắt hung bạo: nó giống cha nó làm sao. nàng không nói một lời nữa và thực hiện cái hành động bi thảm. Hai chị em giết chết đứa bé và dọn cho Têrêôt ăn và Têrêôt uống máu của mình. Têrêôt muốn nhìn con. Nhưng Prôcnê trả lời y: ngươi mang ở chính mình cái mà ngươi đòi hỏi. Trong khi y bắt đầu nhìn quanh và tìm con ở đâu, không ngừng hỏi và gọi tên con, thì Philômen mang đến trươc mặt y cái đầu đứa con máu me đầm đìa. Têrêôt kêu lên một tiếng kinh hoàng đẩy bàn, khóc, tự nói mình là nấm mồ chôn con mình, tuốt kiếm đuổi theo hai cô con gái của Panđiôn. Nhưng hai người này mang đầy lông bay đi, một người bay vào rừng, một người bay lên mái. Têrêôt vì đau khổ và khao khát trừng phạt cũng biến thành chim. Nó có một cái mào ở trên đỉnh đầu và cái mỏ nhô dài ra phía trước. Con chim này gọi là con chim chào mào.


Những biến đổi khác là do những tội lỗi nhỏ hơn, chẳng hạn Xicnut đã biến thành tiên nga và Đapnê người Apôlông yêu đầu tiên (“Những biến đổi” I, câu 451 – 567) biến thành cây nguyệt quế. Kliti biến thành hoa quì; Nacxit, người coi khinh các cô gái tự ngắm hình ảnh mình ở dưới nước và Biblit (“Những biến đổi” IX, câu 454 – 664) yêu anh mình là Capnê sau khi bị người anh cự tuyệt biến thành một dòng suối hiện nay vẫn còn mang tên nàng, chảy dưới một gốc sồi um tùm.


Song chúng tôi không muốn đi lạc vào các chi tiết, và vì vậy tôi chỉ nhắc tới sự biến đổi của Piêrit, theo Ovit họ là con gái của Piêrôt (“Những biến đổi” V, câu 302) và đã thách thức các nữ thần văn nghệ đọ tài với mình. Đối với chúng ta, điều quan trọng chỉ là sự khác nhau giữa những bài ca của Piêrit so với những bài ca của Piêrit so với những bài ca của các nữ thần văn nghệ. Các Pierit (câu 319-331) ca ngợi những cuộc chiến đấu của các thần linh, đề cao các người khổng lồ một cách quá đáng và hạ thấp các kì công của các vị thần vĩ đại. Tiphê bị đày xuống dưới lòng đất làm cho các thần linh hốt hoảng; tất cả bỏ chạy mãi cho đến khi mệt lử họ đến đất Ai Cập. Nhưng ở đây nữa, các Piêrit kể lại, Tipê cũng đuổi kịp và các thần cao cả tự che giấu mình bằng cách mang những hình thức dối trá. Theo bài ca của các Piêrit thì người chăn cừu là Giupite, chính vì vậy mà thần Amon ở Libi bây giờ vẫn còn  mang cặp sừng cong. Thần Apôlông thành Đêlôp biến thành những con quạ, người con của Xêmêlê biến thành những con dê và em gái Phêbut biến thành mèo, Junô biến thành con bò trắng như tuyết, Vênut biến thành cá và Mecquya mang lông chim…


Như vậy ở đây, việc biến thành súc vật lại được xem là một điều nhục nhã đối với thần linh, và mặc dầu sự biến đổi này không phải vì tội ác, tuy vậy nguyên nhân việc họ tự nguyện biến đổi mình là sự hèn nhát. Trái lại, Caliôp ca ngợi những ân đức và những trường hợp trong cuộc đời của Xêret. Chính Xêret, nàng nói, là người đầu tiên đã cày đất đai với một cái cày cong, chính nàng là người đầu tiên đã làm cho mặt đất sinh ra quả và các phương tiện sinh sống khác, là người đầu tiên đã ban pháp luật, tất cả chúng ta đều là những quà tặng của Xêret. Tôi phải ca ngợi nàng, tôi biết dùng những lời ca nào xứng đáng với nữ thần, nữ thần thực đáng cho ta ca ngợi. Khi Caliôp hát xong, các Piêrit bắt đầu cho mình đã thắng trong cuộc so tài. Song Ovit nói (câu 670) khi họ cố gắng nói, và giơ tay lên kêu lên những tiếng lảnh lót, họ thấy rằng móng tay của họ đã biến thành lông, những cánh tay của họ phủ đầy lông con. Mỗi người nhìn miệng người kia thì thấy miệng đã dài ra biến thành cái mỏ cứng. Và khi họ muốn khóc than, họ vỗ cánh bay lên không, họ đã biến thành những con ác là làm cho bầu không khí của núi rừng đầy những tiếng kêu lanh lảnh. Ovit còn nói thêm, ngay bây giờ nữa họ vẫn còn giữ cái vẻ huênh hoang ngày xưa, cái giọng lảnh lói và sự ham muốn quá đáng muốn nói nhảm.


Ở đây nữa, sự biến đổi được biểu hiện thành một sự trừng phạt, và đó là trường hợp xảy ra trong nhiều chuyện kể như vậy, một sự trừng phạt báng bổ đối với thần linh.


(b)      Còn về những sự biến đổi khác trong đó người và thần linh biến thành động vật mà chúng ta đã biết được thì mặc dầu cơ sở của chúng không phải là do một lỗi lầm của những người đã bị biến đổi – (chẳng hạn Xiêcxê có khả năng biến người thành súc vật) nhưng dẫu sao trạng thái súc vật cũng là một sự bất hạnh và tủi nhục, điều này cũng không làm vinh dự cho con người đã thực hiện sự biến đổi này nhằm mục đích riêng của mình. Xiêcxê chỉ là một nữ thần thứ yếu, tối tăm, quyền lực của nàng chỉ được miêu tả với tính cách một pháp thuật. Và Mecquya giúp đỡ Ođixê khi Ođixê chuẩn bị giải phóng các bạn đồng hành đã bị pháp thuật làm hại.


Cũng thuộc loại như vậy là cái hính dáng đa dạng mà Dơt đã biến thành, chẳng hạn Dơt đã biến thành con bò mộng để cướp nàng Orôp, đã biến thành con thiên nga để đến gần nàng Lêđa hay đã biến thành hạt mưa vàng để làm thành nàng Đanaê có mang, Dơt bao giờ cũng làm điều đó nhằm mục đích lừa dối để đạt đến những mục đích không đẹp đẽ – không có tính tinh thần, trái lại bị tự nhiên qui định – và sự nghen tuông của Giunô đối với Dớt là có căn cứ. Biểu tượng về sự sống chung của tự nhiên  và cái tác dụng làm sự vật sinh sôi nẩy nở của nó là một đặc trưng chủ yếu của nhiều thần thoại cổ ở đây đã được trí tưởng tượng nên thơ biến đổi thành những chuyện kể về hành động phóng đãng của người cha, của các vị thần và của loài người. Song Dơt làm những hành động này không phải với hình dáng thần linh của mình, thậm chí phần lớn không phải dưới hình dáng con người, mà chủ yếu dưới hình dáng động vật hay một hình dáng khác nào đó của tự nhiên.


(c)      Thuộc vào loại này, còn có những hình tượng lai tạp, nửa động vật nửa người, mà chúng ta cũng thấy cả trong nghệ thuật Hy Lạp nữa. Song yếu tố động vật ở đây là một yếu tố thấp hèn và không có tính tinh thần. Ở những người Ai Cập chẳng hạn, con dê Menđet được tôn thờ như là một vị thần (Hêrôđôt quyển III chương 46 và theo Iablônxki (Friđơrich Kroixơ: Tính chất tượng trưng và thần thoại của các dân tộc cổ đại, nhất là của người Hy Lạp tập I, trang 477) thì điều này có nghĩa là sùng bái cái sức mạnh sản sinh của tự nhiên, chủ yếu là của mặt trời và có tính chất xấu hổ: như Pinđarơ nhận xét, sự sùng bái này đi xa đến nỗi đàn bà ăn nằm với dê. Trái lại ở những người Hy Lạp thì Pan thể hiện sự sợ hãi mà sự có mặt của thần linh gây nên. Sau này ở các nhân dương, các dương thần, các Pan, hình tượng dê chỉ biểu lộ ở những chi tiết thứ yếu, ở đôi chân, và ở những giống đẹp nhất thì chỉ biểu lộ ở đôi tai nhọn và ở đôi sừng non. Còn phần còn lại ở trong diện mạo đều mang những nét của con người, trái lại những nét của súc vật bị rút xuống những dấu vết không đáng kể; song các dương thần ở người Hy lạp không được xem là những thần linh cao đẳng và những sức mạnh tinh thần; tính chất của họ chỉ tóm lại ở tính vui vẻ, ở tính nhục dục buông thả. Kể ra người ta miêu tả họ với một biểu hiện sâu sắc hơn, chẳng hạn vị dương thần xinh đẹp ở Munich, tay bế thần Baccut trẻ tuổi và nhìn Baccut với nụ cười đầy yêu thương và dịu dàng. Ông ta không phải là bố của Baccut mà chỉ là người nuôi dưỡng Baccut. Và nghệ sĩ đã cấp cho ông ta cái tình cảm vui sướng đẹp đẽ trước vẻ ngây thơ của đứa bé, một tình cảm đã được nghệ thuật lãng mạn nâng lên đến trình độ một đối tượng tinh thần cao quý với tính cách tình thương của người mẹ của Maria đối với Giêxu. Ở những người Hy Lạp, tình yêu dịu dàng này chỉ dành cho loại thần chủ yếu như các dương thần, điều đó nói lên rằng tình yêu này bắt nguồn từ lĩnh vực tự nhiên có tính chất động vật, và vì vậy có thể cấp nó cho những vị thần như thế.


Các nhân mã cũng là những hình tượng lai tạp như vậy, ở các mặt tự nhiên của dục vọng và tính dục được nêu lên chủ yếu đẩy lùi mặt tinh thần. Kể ra, Khirôn có tính cách cao thượng hơn, ý là một thầy thuốc giỏi và là một người giáo dục trẻ em không thuộc bản thân lĩnh vực thần linh, trái lại thuộc về sự khéo léo và sự khôn ngoan của con người.


Như vậy, sự đánh giá hình tượng động vật ở trong nghệ thuật cổ điển đã bị thay đổi về mọi quan hệ. Người ta sử dụng nó để nói lên tất cả những gì xấu xa kém cỏi, và vô nghĩa, tự nhiên và không có tính thần, trong lúc đó thì trước đây nó được dùng để biểu hiện những giá trị tích cực và tuyệt đối.


(còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch & giới thiệu. NXB Văn học, 1999.


Nhấp chuột vô đây: để đọc tiếp từ kỳ 2.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 26.04.2017
Nhân tính và nhân phẩm trong tập truyện Ký thác của Bình Nguyên Lộc - Vinh Lan 25.04.2017
Lời trong đời sống và trong thơ - Voloshinov 22.04.2017
Nỗi đau trong văn chương - Trần Đình Sử 22.04.2017
Hai cách đọc bài thơ Khiển hoài của Đỗ Mục - Hà Văn Thùy 21.04.2017
Đồng thuận xã hội - Một số vấn đề lý luận - Chu Văn Tuân 18.04.2017
Nguyễn Đăng Na và những thành tựu nghiên cứu văn học trung đại - Trần Đình Sử 05.04.2017
Những giới hạn của lý thuyết văn học nước ngoài ở Việt Nam - Trương Đăng Dung 31.03.2017
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
xem thêm »