tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20780155
Lý luận phê bình văn học
13.03.2017
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học (Kỳ 36)



II. HÌNH THỨC CỔ ĐIỂN CỦA NGHỆ THUẬT


Lời nói đầu


BÀN VỀ TÍNH CHẤT CỔ ĐIỂN NÓI CHUNG


Trung tâm của nghệ thuật là sự thống nhất của cái thể hoàn chỉnh tự do và hoàn mỹ của nội dung với các hình thức hoàn toàn thích hợp với nội dung. Chí có nghệ thuật cổ điển là tạo ra cái hiện thực phù hợp với khái niệm đẹp, điều mà hình thức tượng trưng của nghệ thuật đã cố gắng đạt tới nhưng không sao đạt được. Vì vậy trong sự khảo sát trên đây về ý nghĩa cái đẹp và ý niệm nghệ thuật, chúng tôi đã định nghĩa được bản chất chung của tính chất cổ điển. Lý tưởng cấp nội dung và hình thức cho nghệ thuật cổ điển là nghệ thuật thể hiện được điều mà theo khái niệm của mình làm thành nghệ thuật chân chính ở trong một hình thức ăn khớp với mình.


Nhưng muốn đạt đến trình độ hoàn mĩ này cần phải có tất cả những yếu tố mà chúng tôi đã điểm qua sự phát triển ở trong phần trên. Bởi vì cái đẹp cổ điển – với tính cách ý nghĩa bên trong của nó – có một ý nghĩa tự do, độc lập tức là không phải một ý nghĩa nào khác mà một ý nghĩa tự thân, và vì vậy là bản thân sự giải thích của nó. Yếu tố tinh thần này nói chung lấy bản thân của nó làm đối tượng của mình. Không những thế, ở trong cái tính khách thể này yếu tố tinh thần có hình thức của một yếu tố bên ngoài, hình thức này về phần mình vì là đồng nhất với nội dung bên trong cho nên trực tiếp làm thành ý nghĩa riêng của mình. Trong khi tự nhận thức mình nó cũng tự nêu rõ mình.


Kể ra, khi khảo sát hình thức tượng trưng của nghệ thuật, chúng tôi đã xuất phát từ sự thống nhất của ý nghĩa với phương thức biểu hiện cảm quan của ý nghĩa do nghệ thuật sản sinh ra. Song ở đây, sự thống nhất này chỉ là gián tiếp và vì vậy, mà không ăn khớp. Bởi vì nội dung, theo nghĩa đen, hoặc là làm thành bản thân yếu tố tự nhiên ở trong bản chất tính khái quát trừu tượng của nó (và vì vậy sự tồn tại tách rời  của yếu tố tự nhiên không có khả năng nêu lên cái khái quát một cách thích hợp mặc dầu yếu tố tự nhiên cũng được khảo sát với tính cách sự tồn tại thực tế có sẵn của nó). Hoặc là nội dung chỉ làm thành cái bên trong và chỉ cảm thụ được bằng tinh thần. Do đó nội dung vẫn không có được một sự thể hiện thích hợp ở trong một yếu tố cá biệt trực tiếp và cảm quan xa lạ với nó.


Ý nghĩa và hình thức chỉ ở trong mối quan hệ họ hàng, gợi lên nhau một cách bóng gió. Nếu như hai cái này cũng gắn liền với nhau ở một vài phương diện thì ở những phương diện khác chúng lại cách xa nhau. Sự thống nhất nguyên sơ bị tan vỡ: trong thế giới quan Ấn Độ, một mặt, là yếu tố bên trong và yếu tố lí tưởng trong tính đơn giản trừu tượng của mình, và mặt khác, là cái hiện thực đa dạng của tự nhiên và sự tồn tại của con người. Và cái rí tưởng tượng phóng túng lo lắng băn khoăn vì bị cái đà bên trong thúc đẩy cứ đi từ phía này sang phía khác nhưng không sao cấp cho yếu tố lí tưởng một tính độc lập tuyệt đối. Đồng thời, trí tưởng tượng cũng không sao làm cho nó tràn đầy những tài liệu có sẵn và bị hoán cải của những hiện tượng để trình bày nó trong tài liệu này thành một sự thống nhất bình thản. Mặc dầu các điều lộn xộn và sự kỳ quặc ở trong việc pha trộn, các yếu tố đối lập với nhau cuối cùng đã biến mất, song chẳng qua chỉ để nhường chỗ cho một tính chất bí ẩn không làm người ta thỏa mãn chỉ có thể nêu lên được vấn đề mà không sao giải quyết được nó. Bởi vì ở đây vẫn còn thiếu tự do và tính độc lập của nội dung là những cái chỉ xuất hiện khi yếu tố bên trong được nhận thức là một toàn thể ở bản thân mình xem như một toàn thể bao gồm cả cái yếu tố ở bên ngoài vì cái khác nó và xa lạ đối với nó. Tính độc lập tự mình và vì mình này với tính cách ý nghĩa tuyệt đối tự do là sự tự nhận thức, ở đấy nội dung là yếu tố tuyệt đối, còn hình thức là tính chủ thể có tính tinh thần.


So sánh với cái sức mạnh tự qui định mình, biết tư duy và mong muốn thì mọi cái khác đều chỉ là độc lập tương đối và chỉ tồn tại trong nháy mắt. Bởi vì các hiện tượng cảm quan của tự nhiên như mặt trời, sao, bầu trời, cây cỏ, động vật, đá, sông biển, đều chỉ có một quan hệ trừu tượng với bản thân chúng mà thôi và lôi cuốn cùng với các tồn tại khác vào một quá trình diễn ra không ngừng cho nên chỉ có một đầu óc hữu hạn thì mới có thể cho rằng chúng là độc lập. Ý nghĩa chân thực của đấng Tuyệt đối không phải bộc lộ ở đấng Tuyệt đối. Kể ra, tự nhiên chỉ xuất hiện trong sự tồn tại bên ngoài, còn cái nội dung bên trong của nó lại không biểu lộ thành một cái gì tồn tại độc lập ở bên trong, trái lại bị phân tán ở trong cái trình độ đa dạng sặc sỡ của các hiện tượng và vì vậy không phải là độc lập. Cái ý nghĩa tuyệt đối chân thực chỉ có thể tồn tại ở trong tinh thần với tính cách một quan hệ cụ thể, tự do, vô hạn, đối với bản thân và trở thành độc lập trong sự tồn tại của mình.


Trên con đường đi tới chỗ giải phóng ý nghĩa tuyệt đối ra khỏi yếu tố cảm quan trực tiếp để nêu bật tính độc lập của nó ở trong bản thân, chúng ta bắt gặp cái được trí tưởng tượng đề cao và cho là thiêng liêng. Cái tuyệt đối quan trọng trước hết là đấng Duy nhất biết tư duy, tuyệt đối, không có mọi đặc tính cảm quan, liên quan tới bản thân với tính cách đấng Tuyệt đối và về mặt này giả thiết một cái khác do nó tạo ra, đó là tự nhiên, tự nhiên nói chung là một cái phủ định không có chỗ dựa ở bản thân.


Đấng Duy nhất này là khái quát “ở bản thân mình và vì mình”. Độc lập đối với chỗ đấng Duy nhất được nhận thức và được miêu tả trong cái xu hướng phủ định rõ ràng của Người chống lại cái thế giới mà Người sáng tạo ra, hay ở trong tính cố hữu tích cực phiếm thần của Người đối với cái được sáng tạo ra, độc lập đối với điều này, Người làm thành một quyền lực khách quan thống trị tất cả những cái gì tồn tại. Quan niệm này về nghệ thuật chứa đựng hai khuyết điểm. Thứ nhất cái đấng Duy nhất và phổ biến này làm thành ý nghĩa cơ bản nhưng vẫn chưa đạt tới một trình độ được qui định và được phân biệt chính xác ở bản thân, cũng chưa đạt đến một cá tính và một tính cách thực sự. Chữ cá tính ở đây có nghĩa là người ta có thể hiểu đấng Duy nhất là tinh thần và xuất hiện trước mắt trực giác dưới một hình thức cảm quan thích hợp với nội dung tinh thần  cũng như thích hợp với cái khái niệm của nó. Còn ý niệm cụ thể về tinh thần lại đòi hỏi tinh thần phải tự qui định mình và tự khu biệt mình ở trong bản thân. Có như thế thì trong khi khách thể hóa thành một đối tượng, do sự phân đôi này tinh thần mới có được một biểu hiện bên ngoài tuy là mang tính cá thể và tồn tại trong giây phút trước mắt, song vẫn hoàn toàn thấm nhuần yếu tố tinh thần. Kết quả là nếu xét ở bản thân nó thì yếu tố bên ngoài sẽ không nói lên một cái gì khác mà chỉ cho phép người ta phát hiện trong tinh thần với tính cách nội dung bên trong của cái bên ngoài đồng thời nó lại còn là sự biểu hiện và là thực tại của tinh thần. Thứ hai, theo quan điểm của cái thế giới khách quan (với cái thể trừu tượng của một đấng Tuyệt đối bản thân không được phân biệt) còn có khuyết điểm sau đây: bản thân một hiện thực không có bản chất là thực sự bất lực không thể bộc lộ được đấng Tuyệt đối dưới hình thức cụ thể. Đối lập lại các tụng ca, các thánh ca ngợi các vĩ đại khái quát và trừu tượng của Thượng đế, khi chuyển sang một hình thức nghệ thuật cao hơn, ta phải nhắc tới việc nêu lên mặt phủ định, những biến đổi, những đau khổ, những bất hạnh của cuộc đời và cái chết, điều mà chúng ta đã bắt gặp ở phương Đông. Ở đây, tồn tại sự khác nhau ở bản thân nó, sự khác nhau này không bao giờ xuất hiện tập trung vào một mặt duy nhất, chẳng hạn vào đấng Duy nhất hay vào cái tính chủ thể độc lập. Chỉ có cái thể hoàn chỉnh cụ thể gián tiếp của cả hai mặt (cái thể duy nhất độc lập ở bản thân và sự khác nhau và sự thực hiện được qui định ở bản thân) mới cấp cho ta một tính độc lập  thực sự tự do.


Bên cạnh cái trác tuyệt, chúng ta có thể nhắc tới một quan niệm khác đã bắt đầu phát triển ở phương Đông. Đối lập lại quan niệm về tính bản chất của một Thượng đế duy nhất, ở đây còn có cả quan niệm về tự do nội tâm, tính độc lập của cá nhân riêng lẻ trong chừng mực phương Đông cho phép hướng này phát triển. Chúng ta cần phải tìm thấy nó ở những người Ả Rập với tính cách quan niệm chủ yếu. Vì sống trong các sa mạc, trong các nơi vô tận gồm những cánh đồng, ở trên đầu chỉ có bầu trời trong vắt, người Ả Rập ở trong cái thiên nhiên ấy chỉ có thể nhờ vào tinh thần thần dũng cảm, sức mạnh của nắm tay mình, những phương tiện tự vệ: con lạc đà, con ngựa, mũi giáo và thanh kiếm của mình. Khác tính chất nhu nhược và lười biếng của Ấn Độ và khác chủ nghĩa phiếm thần sau này của thi ca Hồi giáo, ở đây bộc lộ tính độc lập của tính cách cá nhân một cách bướng bỉnh và cho phép những sự vật bên ngoài có một hiện thực trực tiếp được qui định rạch ròi và chặt chẽ. Gắn liền với tính độc lập này của cái cá nhân vừa mới xuất hiện không những có tình bạn trung thành, lòng hiếu khách, thái độ cao thượng trong các cử chỉ mà còn có cả sự thỏa mãn vô hạn, lòng trả thù và cái hồi ức về mối thù không sao nguôi được. Những điều đó cho phép họ tha hồ mà trả thù với một dục vọng tàn nhẫn và một thái độ tàn bạo hoàn toàn mất cả mọi trắc ẩn. Nhưng những điều diễn ra trên miếng đất này là thuần túy của con người ở trong phạm vi nhân tính. Đó là những hành động trả thù, những quan hệ yêu đương, những nét của tính cách cao thượng, lòng tận tụy hy sinh. Ở đây, mọi yếu tố quái đản và kì diệu đều biến mất đến nỗi tất cả đều diễn ra trước mắt ta theo một trật tự nhất định và chặt chẽ, phù hợp với mối liên hệ tất yếu của các sự vật.


Chúng ta đã tìm thấy trước mắt đấy ở người Do Thái cổ đã có một quan niệm tương tự về những đối tượng hiện thực, được qui về cái kích thước vững chắc của chúng và được chiêm ngưỡng trực quan trong trạng thái tự do của chúng chứ không phải chỉ đơn thuần xuất phát từ lợi ích. Một thái độ độc lập kiên quyết hơn của tính cách, sự hung bạo trong việc trả thù và trong căm thù cũng là những nét cố hữu đối với các dân tộc Do Thái cổ xưa. Nhưng đồng thời, lại xuất hiện sự khác nhau. Ở đây ngay cả những sức mạnh hùng mạnh nhất của tự nhiên cũng được miêu tả không phải ở bản thân, mà với tính cách quyền lực của Thượng đế; trước Thượng đế chúng đều bỏ mất tính độc lập của mình; lòng căm thù và việc trừng phạt ở đây không phải là những tình cảm cá nhân chống lại những cá nhân, trái lại nhằm phục vụ Thượng đế xem như lòng khát khao trả thù chống lại toàn bộ các dân tộc. Chẳng hạn các thánh thi của thời kỳ sau này và nhất là các sách của các tiên tri thường thường chỉ biết mong muốn và yêu cầu các Thượng đế giáng tai họa và diệt vong cho các dân tộc khác và thường thường sức mạnh của chúng là ở trong những lời mắng nhiếc và nguyền rủa.


 Trong những điểm xuất phát chúng tôi vừa nhắc tới đã chứa đựng những yếu tố của cái đẹp thực sự và của nghệ thuật thực sự. Song các yếu tố ấy vẫn còn phân tán, tản mạn và bị nêu lên trong một quan hệ sai lầm chứ không làm thành một thể thống nhất thực sự. Vì vậy tính thống nhất trừu tượng và lí tưởng của yếu tố thần linh không thể nào thể nào thể hiện trong một biểu hiện nghệ thuật hết sức thích hợp dưới hình thức một cá tính một cá tính hiện thực, trong khi mà tự nhiên và cá tính con người về mặt bên trong cũng như mặt bên ngoài tỏ ra hoàn toàn không chứa đựng dồi dào đấng Tuyệt đối, hoặc là không thấm nhuần nó một cách tích cực. Cái tính chất bên ngoài này của ý nghĩa, là phải mang một nội dung chủ yếu ngay cả cái hiện tượng cụ thể trong đó ý nghĩa này cần được thể hiện, xuất hiện thứ ba ở trong hoạt động so sánh của nghệ thuật. Ở trong nghệ thuật, cả hai mặt đã trở thành hoàn toàn độc lập, trái lại cái thể duy nhất duy trì chúng chẳng qua chỉ là một tồn tại chủ quan vô hình có tác dụng so sánh.


Kết quả là tính kém cỏi của một mối liên hệ bên ngoài như vậy, càng lộ rõ và việc gạt bỏ nó lại càng hiển nhiên đối với sự thể hiện nghệ thuật chân chính. Nếu người ta gạt bỏ nó thì ý nghĩa sẽ không còn là một yếu tố lí tưởng trừu tượng nữa. Trái lại, người ta sẽ đứng trước một nội cảm chỉ do bản thân nó qui định, nội cảm này ở trong tính toàn vẹn cụ thể của nó, cụ thể là hình thức của một hiện tượng hoàn mỹ và xác định ở ngay chính mình, vì vậy nó nói lên và bộc lộ ở cái tồn tại bên ngoài như một tồn tại thuộc về mình và chỉ thuộc về mình mà thôi.


 


1.       Tính độc lập của tính chất cổ điển với tính cách sự thâm nhập lẫn nhau giữa yếu tố tinh thần và diện mạo tự nhiên của nó.


 


cái toàn thể tự do này (trong khi tự qui định mình ở trong một tồn tại khác của mình, vẫn cứ là nó) và cái nội cảm này (tuy khách thể hóa ra ngoài, nhưng vẫn cứ chỉ bản thân mình) là yếu tố chân chính, tự do và độc lập “ở bản thân mình và vì mình” và thể hiện ở trong sự tồn tại của nó không phải một cái gì khác mà chính bản thân mình. Ở trong lĩnh vực nghệ thuật, nội dung này có mặt không phải dưới hình thức vô hạn, không phải với một tính cách tư duy qua tự suy nghĩ về mình, xem như một đấng Tuyệt đối, một tồn tại được khách thể hóa dưới hình thức tính chất tinh thần phổ biến, lí tưởng và tự bộc lộ mình vì chính mình – mà còn có mặt ở trong tự nhiên trực tiếp và ở trong tồn tại cảm quan. Nhưng bởi vì ý nghĩa là độc lập, cho nên ở trong nghệ thuật nó cần phải có được một hình thức do bản thân nó và có được nguyên lý tự bộc lộ ra ngoài ở ngay chính mình. Vì vậy, mặc dầu ý nghĩa cần phải quay trở về yếu tố tự nhiên, nhưng nhằm thống trị cái bên ngoài. Bởi vì cái bởi vì cái bên ngoài làm thành một mặt của một nội dung hoàn chỉnh  bên trong cho nên cái bên ngoài không còn tồn tại thành một yếu tố khách quan tự nhiên, trái lại vì không có tính độc lập riêng cho nên nó chỉ là biểu hiện của tinh thần mà thôi.


Do đó, ở trong tình trạng thâm nhập vào nhau trực tiếp, cái mặt tự nhiên và lĩnh vực cái bên ngoài nói chung đều được tinh thần hoán cải và đều có được một ý nghĩa ở bản thân mình. Chúng không còn nhắc đến ý nghĩa này xem như một cái gì tách khỏi hiện tượng cơ thể và cái khác hiện tượng ấy. Tình trạng đồng nhất hóa thích hợp với tinh thần giữa yếu tố tinh thần và yếu tố tự nhiên không chỉ dừng lại ở mặt trung hòa hóa cả hai mặt đối lập. Trái lại, nó nâng yếu tố tinh thần lên một trình độ hoàn toàn chỉnh hơn, ở đấy yếu tố tinh thần vẫn cứ là mình ở trong một tồn tại khác của nó, là nơi yếu tố tự nhiên nhiên bộc lộ mình một cách lí tưởng, tinh thần tự bộc lộ mình ở trong tự nhiên và ở trong quan hệ đối với tự nhiên . khái niệm hình thức nghệ thuật cổ điển là dựa trên sự thống nhất này.


a)       Sự thống nhất này giữa ý nghĩa với biểu hiện cảm quan ở đây cần được quan niệm như sau. Ở trong sự hợp nhất đã được thực hiện, không có tình trạng chia tách giữa hai mặt, và vì vậy mặt bên trong, mặt tinh thần bên trong không phải chỉ là thoát thai từ cái hiện thực cụ thể của cơ thể vì nếu quan niệm như thế thì hai mặt cơ thể và tinh thần cũng vẫn là khác nhau ở trong mối quan hệ với nhau. Bởi vì hình thức khách thể bên ngoài (là cái ở đấy cho tinh thần có thể tri giác được ở bên ngoài) do khái niệm của nó lại đồng thời là được qui định cụ thể đặc thù, cho nên cái tinh thần tự do được nghệ thuật cấp một hiện thực thích hợp với nó chỉ có thể là một cá tính tinh thần cũng được qui định cụ thể, và bản thân cũng độc lập mặc dầu được biểu hiện dưới hình thức tự nhiên. Vì vậy yếu tố nhân tính làm thành trung tâm và nội dung của cái đẹp chân chính và của nghệ thuật chân chính, (nhưng với tính cách nội dung như chúng ta đã thấy ở trong khái niệm lí tưởng), yếu tố nhân tính phải xét ở trong hình thức chủ yếu của một cá tính cụ thể, phù hợp với hiện tượng bên ngoài của cá tính ấy, hiện tượng này ở trong tính khách quan của nó thoát khỏi những thiếu sót của lĩnh vực cái hữu hạn.


b)       Về mặt này, lập tức ta thấy rõ ngay rằng về thực chất phương thức biểu hiện cổ điển không còn có thể là tượng trưng theo cái nghĩa chính xác này nữa, mặc dầu đây có một vài yếu tố tượng trưng vẫn còn đóng một vai trò thứ yếu. Thần thoại Hy Lạp chẳng hạn, trong chừng mực nghệ thuật chiếm lĩnh nó, là thuộc lĩnh vực của lí tưởng cổ điển. Nếu xét về thực chất, thì nó không cấp choa ta cái đẹp tượng trưng; trái lại nó được xây dựng theo tính chất của lí tưởng nghệ thuật thực sự, mặc dầu, như sau này chúng ta sẽ thấy, nó cũng có một vài dấu vết của tính tượng trưng. Nhưng chúng ta có thể hỏi hình thức cụ thể nào có khả năng tạo nên sự thống nhất này với tinh thần vẫn không trở thành một lời bóng giớ đơn thuần về nội dung mà nó thể hiện! Để trả lời câu hỏi này chúng ta nói rằng bởi vì nghệ thuật cổ điển dựa trên sự ăn khớp giữa nội dung và hình thức cũng thỏa mãn cái đòi hỏi về tính toàn vẹn và tính độc lập của toàn thể, - mà đặc trưng chủ yếu của nghệ thuật cổ điển chính là ở đấy – cho nên cần phải làm sao cho mỗi mặt (cả nội dung tinh thần cũng như hiện tượng bên ngoài của nó) tự bản thân nó đều là một thể toàn vẹn tạo nên khái niệm của toàn thể. Chỉ có thể làm thế thì mỗi mặt mới đồng nhất ở bản thân với mặt kia, và sự khác nhau giữa hai mặt mới bị hạ thấp xuống trình độ là sự khác nhau đơn thuần về hình thức của một yếu tố trước sau duy nhất. Nhờ vậy cái toàn thể mới làm thành tự do bởi vì các mặt của nó tỏ ra ăn khớp, khi nó tự thể hiện mình ở trong mỗi mặt và trước sau vẫn là một ở cả hai mặt.


Tình trạng thiếu sự phân đôi tự do của cái toàn thể ở trong một thể duy nhất nhất định đã kéo theo nó tình trạng không tự do của nội dung ở trong nghệ thuật tượng trưng và do đó của tình trạng không tự do về mặt hình thức nữa. Tinh thần không nhận thức được mình một cách rõ ràng và vì vậy không thấy rằng hiện thực bên ngoài của mình là một hiện thực của riêng nó, nằm trong bản thân nó, và phục vụ nó. Ngược lại, hình thức cần phải chứa đựng ý nghĩa, nhưng vì ý nghĩa chỉ có một phần là nằm trong hình thức theo một khía cạnh duy nhất nào đó, cho nên sự tồn tại bên ngoài (vì là bên ngoài trong mối quan hệ với nội dung bên trong) lúc đầu chỉ bộc lộ bản thân mình chứ không phải là cái ý nghĩa được thực hiện, và dường như ta phải gò ép nó nếu ta đòi hỏi nó phải nêu lên một cái gì khác. Trong tình trạng bị xuyên tạc như vậy, khi biểu hiện ra bên ngoài nó không còn là nó nữa, mà trở thành một cái khác, tức là trở thành nghĩa, nhưng chỉ bộc lộ một sự kết hợp bí ẩn và một sự pha trộn những yếu tố dị dạng. Hay với tính cách một trang sức thuần túy và một tô điểm bên ngoài, nó phải nâng cao giá trị ý nghĩa duy nhất tuyệt đối của mọi sự vật, hễ nó còn chưa bị rơi xuống tình trạng một so sánh thuần túy chủ quan và võ đoán với một ý nghĩa rất xa nó và bàng quan đối với nó.


Muốn cắt đứt cái quan hệ không tự do này, cần phải làm sao cho tự thân hình thức đã có ý nghĩa, tức là có một ý nghĩa có tinh thần. Hình thức này, về thực chất, là một hình thức nhân tính,bởi vì chỉ có hình thức như thế mới có thể nêu bật yếu tố tinh thần dưới hình thức cảm quan. Sự biểu hiện của gương mặt, đôi mắt, dáng đi, cử chỉ là vật chất cả theo cái nghĩa nó không phải là tinh thần. Song ở trong bản thân cái tính xác thịt như vậy, không những diện mạo con người là sống động và tự nhiên, giống như động vật, mà nó còn là một cở thể phản ảnh tinh thần. Trong đôi mắt chúng ta nhìn thấy tâm hồn cũng như tính cách tinh thần của con người người biểu lộ ở tất cả hình dáng bên ngoài. Vì vậy, nếu như yếu tố thể xác  là thuộc về tinh thần xem như sự tồn tại của nó thì tinh thần là một yêu tố bên trong thuộc về thể xác chứ không phải là một bản chất bên trong xa lạ với cái hình thức bên ngoài, bởi vì tự thân yếu tố vật chất không có ý nghĩa nào khác ngoài cái ý nghĩa nhắc đến tinh thần. Mặc dầu hình thức con người vẫn còn có nhiều nét chung với động vật, song toàn bộ sự khác nhau giữa thân thể con người so với thân thể động vật tóm lại là về cấu tạo của nó, thân thể con người là nơi trú ẩn của tinh thần và là hình thức tồn tại tự nhiên nhiên nay duy nhất tinh thần có thể có được. Vì vậy, tinh thần chỉ tồn tại trực tiếp đối với những người khác ở trong cơ thể mà thôi.


 Ở đây, không phải là nơi nêu lên tính tất yếu của mối liên hệ này cũng như của sự tương ứng đặc biệt giữa tinh thần với cơ thể; chúng ta phải chấp nhận tính tất yếu này xem như một tiêu đề. Trong dung mạo con người cũng có cái chết cứng, cái xấu xí, tức là những cái bị qui định bởi những ảnh hưởng khác và bởi những sự lệ thuộc khác. Nhưng chính nhiệm vụ của nghệ thuật lại là phải xóa bỏ sự khác nhau giữa yếu tố thuần túy tự nhiên với yếu tố tinh thần, cấp một hình thức đẹp đẽ cho cái yếu tố xác thịt bên ngoài, bằng một hình thức hoán cải hoàn toàn, thấm nhuần sự sống và tinh thần.


Còn về yếu tố bên ngoài thì ở trong phương thức biểu hiện này không còn cái gì là tượng trưng nữa và tất cả mọi tìm tòi cố gắng, xuyên tạc và bóp méo đều bị loại trừ hết. Bởi vì khi tinh thần tự quan niệm mình là một cái tự thân đã hoàn toàn tất cả và rõ ràng, và liên hệ của nó với diện mạo thích hợp của mình là một cái đã xong xuôi trọn vẹn, thì nó không cần phải được thực hiện ở trong những điều do trí tưởng tượng phóng túng sản sinh ra đối lập với hiện thực. Hình thức cổ điển của nghệ thuật không phải chỉ được biểu hiện dưới hình thức thể xác bằng một sự nhân cách hóa hời hợt, bởi vì tinh thần (trong chừng mực nó phải làm thành nội dung của tác phẩm nghệ thuật) đã nhập vào lĩnh vực của yếu tố thể xác và có thể được đồng nhất hóa hoàn toàn với yếu tố ấy.  Nếu theo quan điểm này ta có thể đánh giá cả cái quan niệm cho rằng nghệ thuật bắt chước diện mạo của con người. Theo quan điểm thông thường, việc tri giác và phản ánh này là một cái gì ngẫu nhiên, song chúng tôi khẳng định rằng nghệ thuật một khi đã đạt tới trình độ trưởng thành của mình, bắt buộc phải thể hiện các hiện tượng dưới hình thức của con người, bởi vì chỉ ở đấy tinh thần mới có được một tồn tại phù hợp với mình cả trong yếu tố cảm quan cũng như trong yếu tố tự nhiên.


Những điều chúng tôi nói về cơ thể con người và biểu hiện nó cũng áp dụng cho những tình cảm, những xu hướng, những việc làm, những biến cố và  những hành vi của con người. Sự biểu hiện bên ngoài của chúng ở trong nghệ thuật cổ điển được biểu minh không những bởi tính chất sinh động tự nhiên mà còn bởi yếu tố tinh thần nữa. Cái bên trong được nêu lên thành một thể đồng nhất ăn khớp với bên ngoài.


c)       Bởi vì nghệ thuật cổ điển quan niệm tinh thần tự do là một cá tính xác định, và nó chiêm ngưỡng trực tiếp ở trong hiện tượng cơ thể của mình, cho nên người ta thường trách nó là theo chủ nghĩa nhân hình hóa. Trong số những người Hy Lạp chẳng hạn, Xênôphan đã phản đối chống lại cách biểu hiện như vậy về thần linh. Ông nói rằng nếu những con sư tử là những nhà điêu khắc thì chúng ta sẽ cấp cho các thần linh của chúng hình dáng sư tử. Câu tục ngữ hóm hỉnh của Pháp cũng có tính tương tự. Nếu Thượng đế sáng tạo con người theo hình ảnh của Thượng đế thì con người đã trả lại cho Thượng đế bằng cách sáng tạo Thượng đế theo hình ảnh ú mình. Nếu như chúng ta nói đến hình thức nghệ thuật kế tiếp theo sau nghệ thuật cổ điển là hình thức nghệ thuật lãng mạn thì ta phải nhận thấy rằng nội dung cái đẹp cổ điển ở trong nghệ thuật, cũng như tôn giáo của nghệ thuật chưa làm người ta thỏa mãn. Khuyết điểm của hình thức nghệ thuật này không phải ở trong bản thân chủ nghĩa nhân hình hóa, đáng lí ra chúng ta khẳng định điều ngược lại: nghệ thuật cổ điển mang tính nhân hình hóa đầy đủ đối với nghệ thuật, song vẫn không nhân hình hóa được đầy đủ nếu so với cái tôn giáo cao nhất. Đạo Thiên Chúa dã đẩy tính nhân hình hóa này đi xa hơn nhiều. Bởi vì theo học thuyết đạo Thiên Chúa thì Thượng đế không phải chỉ là một cá nhân được miêu tả dưới hình thức con người mà còn là cá nhân thực sự đơn nhất, một con người thực tế hoàn toàn đã bước vào mọi điều kiện của tồn tại chứ không phải chỉ là lí tưởng của cái đẹp và của nghệ thuật được hình thức hóa theo hình ảnh con người.


Nếu như ta chỉ hình dung đấng Tuyệt đối là một bản chất trừu tượng không bị phân chia ở bản thân mình, thì lúc bấy giờ cố nhiên không thể nào cấp cho nó một hình thức nào hết. Nhưng muốn cho Thượng đế tồn tại với tính cách tinh thần, thì Thượng đế phải xuất hiện thành một con người, một chủ thể đơn nhất, song không phải xem như một tồn tại lí tưởng, mà trái lại sự thể hiện phải đạt tới trình độ bộc lộ được sự tồn tại trực tiếp và tự nhiên của nó và tự nhiên của nó trong thời gian. Thế giới quan Thiên Chúa giáo bao hàm cả sự vận động vô tận dẫn tới sự đối lập cực đoan, và sự vận động này chỉ quay trở về thể thống nhất tuyệt đối sau khi đã vượt bỏ được sự cô lập hóa này. Hiện tượng Chúa nhập thân vào con người (Giêxu-DN) là ở giai đoạn này: lúc này, Chúa, cái chủ thể hiện thực duy nhất, là đối lập lại cái thực sự duy nhất và thực sự bản chất và khoác một tồn tại ở trong không gian và trong thời gian với những tình cảm, ý thức, nỗi đau khổ do sự phân đôi gây ra để rồi lại đạt đến sự hòa giải vô hạn khi đã vượt bỏ được mâu thuẫn này. Giai đoạn quá độ này theo quan niệm Thiên Chúa giáo chính là do bản chất của Thượng đế mà ra. Do đó, chúng ta cần phải quan niệm Thượng đế là cái tinh thần tuyệt đối tự do trong đó mặc dầu vẫn còn chứa đựng yếu tố tự nhiên và tính đơn nhất trực tiếp, song yếu tố này cũng phải được khắc phục một cách như vậy.


Trong nghệ thuật cổ điển thì khác: yếu tố cảm tính không chết cứng hay bị loại trừ, song cũng không được nâng lên tới tính tinh thần tuyệt đối. Vì vậy nghệ thuật cổ điển cũng như cái tôn giáo đẹp đẽ của nó đều không làm thỏa mãn những nơi sâu thẳm của tâm hồn. Mặc dầu tự thân là cụ thể đến đâu đi nữa, nó cũng vẫn là trừu tượng đối với tinh thần, bởi vì nghệ thuật cổ điển không phải bắt nguồn từ sự vận động và không phải là sản phẩm của một tính chủ thể vô hạn đã thực hiện được sự hòa giả những mặt đối lập. Trái lại, nó chỉ là trạng thái hài hòa yên ổn của một cá tính tự do nhất định ở trong một tồn tại ăn khớp với nó, là sự bình thản ở trong hiện thực, là hạnh phúc, là sự thỏa mãn và sự vĩ đại ở bản thân nó, sự sáng rõ vĩnh viễn và sự hoan lạc, tức là những cái mà ngay trong bất hạnh và khổ đau cũng không bỏ mất tình trạng điểm tĩnh tự tin của nó. Nghệ thuật cổ điển chưa đạ tới nơi sâu thẳm của tình trạng đối lập lại nằm ở trong đấng Tuyệt đối, cũng không hòa giải được những mặt đối lập. Những chính vì vậy mà nó không biết đến những mặt gắn liền với sự đối lập này: đó là tình trạng gay gắt bên trong của chủ thể với tính cách một cá tính trừu tượng chống lại luân lí và đáng Tuyệt đối; nó không biết đến tội lỗi và cái ác cũng như tình trạng chủ thể tự bó hẹp vào những cảm nghĩ  bên trong, nó không biết tình trạng chia xẻ bấp bênh, và nói chung tất cả những sự phân đôi đã tạo nên mọi cái xấu xí, mọi cái thô kệch, một cái đáng ghét cả về mặt cảm quan cũng như về mặt cảm quan cũng như về mặt tinh thần. Nghệ thuật cổ điển chưa bước quá giới hạn lĩnh vực thuần túy của lí tưởng chân thực.


 


2.       Nghệ thuật Hy Lạp với tính cách sự thể hiện lí tưởng cổ điển.


 


Nói rằng chúng ta phải tìm sự thể hiện thực sự của lí tưởng cổ điển ở người Hy Lạp là một điều thừa. Cái đẹp cổ điển với cái nội dung có một dung lượng vô hạn, những đề tài và những hình thức của nó là một món quà dành cho nhân dân Hy Lạp và chúng ta cần phải ca ngợi nhân dân ấy vì nó đã sáng tạo được một nền nghệ thuật sinh động vô ngần. Hiện thực trực tiếp của người Hy Lạp là cái trung dung quí hóa giữa tự do chủ thể tự giác với bản chất đạo đức. Người Hy Lạp không dừng lại ở trình độ cái thể duy nhất không tự do của phương Đông, là cái đã dẫn tới kết quả, là chế độ độc tài về tôn giáo và chính trị, ở đấy chủ thể tan biến hẳn ở trong cái bản chất phổ biến duy nhất hay vào một mặt riêng nào đó của nó, bởi vì với tính cách cá nhân, chủ thể chẳng có quyền gì và vì vậy cũng chẳng có chỗ dựa nào hết. Đồng thời, họ cũng không bước sang cái giai đoạn đi sâu vào trạng thái chủ thể trong đó cái chủ thể cá biệt đã tách ra khỏi cái chung và cái toàn thể để tồn tại vì mình theo cuộc sống nội tâm của mình và chỉ đạt đến tình trạng kết hợp lại với cái chủ yếu và cái bản chất bằng cách quay trở về tính toàn vẹn nội tâm của cái thế giới thuần túy tinh thần.


Trong đời sống đạo đức của người Hy Lạp, cá nhân là độc lập và trong lòng tự do, song vẫn không tách rời khỏi những quyền lợi chung của một nhà nước thực tế cũng như không tách khỏi tính chất cố hữu tích cực của tự do tinh thần trong sự tồn tại trong thời gian. Nội dung khái quát của đạo đức cũng như cái tự do trừu tượng của cá nhân bên trong và bên ngoài, theo nguyên lý của đời sống Hy Lạp vẫn tồn tại trong một hình thức hài hòa không bị phá vỡ, trong lúc đó ở trong đời sống hiện thực, nguyên lý này xuất hiện trong sự trong sáng chưa bị động chạm tới, tính độc lập về mặt chính trị vẫn không tách khỏi tính chất luân lý chủ quan. Bản chất đời sống nhà nước thấm nhuần sâu sắc trong các cá nhân đến nỗi các cá nhân chỉ tìm tự do của riêng mình trong những nhiệm vụ chung của cái toàn thể.


Tình cảm đẹp đẽ của tình trạng hài hòa quí báu này, tinh thần và ý nghĩa của nó thấm nhuần tất cả những tác phẩm trong đó tự do Hy Lạp nhận thức được chính mình và biểu hiện bản chất của mình. Vì vậy, cách nhìn thế giới của Hy Lạp là cái điểm trung dung ở đấy cái đẹp bắt đầu cuộc sống chân thực của mình và sáng tạo nên cái vương quốc rạng rỡ của mình. Đó là cái trung dung giữa sự sống tự do tồn tại không những trực tiếp và tự nhiên mà được sản sinh bởi một sự chiêm ngưỡng có tính tinh thần đã được nghệ thuật hoán cải. Đó là sự trung dung giữa cấu tạo của sự suy nghĩ với một tình trạng vắng mặt mọi suy nghĩ; một quan niệm về thế giới không cô lập hóa cá nhân song vẫn không thể kéo cá nhân ra khỏi tính chất phủ định, ra khỏi những đau khổ, những bất hạnh để đưa y quay về tính thống nhất tích cực và sự hòa giải. Đó là điểm trung dung, đồng thời chỉ là một giai đoạn quá độ, cũng như đời sống chung, mặc dầu ở giai đoạn này nghệ thuật đã vươn lên tới đỉnh của cái đẹp cả trong hình thức của nó với tính cách cụ thể và phong phú một cách tinh thần khiến cho tất cả các âm thanh ở đấy đều hòa lẫn với nhau. Ngay cả cái mà theo quan điểm của nó là quá khứ cũng vẫn được giữ lại ở đấy, chứ không đóng vai đấng Tuyệt đối và Vô điều kiện, trái lại vẫn làm thành một mặt thứ yếu và là nền tảng của nó.


Theo nghĩa này, dân tộc Hy Lạp đã nhận thức dưới hình thức những vị thần mang hình thức cảm quan, biết chiêm ngưỡng và tri giác và đã dùng nghệ thuật cấp cho các vị thần này một tồn tại hoàn toàn ăn khớp với cái nội dung chân chính. Nhờ chỗ tình trạng ăn khớp này là nằm ở trong khái niệm của nghệ thuật Hy Lạp cũng như của thần thoại Hy Lạp, cho nên nghệ thuật Hy Lạp là biểu hiện cao nhất của đấng Tuyệt đối. Tôn giáo Hy Lạp đó là tôn giáo của bản thân nghệ thuật trong lúc đó thì nghệ thuật lãng mạn sau này tuy vẫn là nghệ thuật song đã nêu lên một hình thức cao hơn của ý thức so với cái hình thức mà nghệ thuật cần thể hiện.


 


3.       Địa vị của nghệ sĩ sáng tạo trong hình thức nghệ thuật cổ điển.


 


Nếu như chúng ta đã xác lập rằng, một mặt nội dung nghệ thuật cổ điển là cái cá tính tự do ở bản thân nó, và mặt khác chúng ta cũng đã yêu cầu quyền tự do như vậy đối với hình thức nữa thì điều này đã nói lên rằng sự dung hợp hoàn toàn của cả hai yếu tố, dù cho chúng có là trực tiếp đến đâu đi nữa, cũng vẫn không thể làm sự thống nhất nguyên sơ và tự nhiên, trái lại nó phải là một kết hợp do tinh thần chủ thể thực hiện tạo ra. Nghệ thuật cổ điển trong chừng mực nội dung là một cái gì tự do, chỉ nảy sinh từ tính tự do  cảu một tinh thần tự nhận thức được mình một cách rõ ràng. Nhờ vậy, nghệ sĩ giữ được một địa vị khác trước. Công việc của anh ta là hoạt động tự do của một con người có suy nghĩ, biết mình muốn gì và có thể thực được điều mình muốn. Muốn vậy, ý nghĩa và cái nội dung có tính bản chất mà anh ta muốn nêu lên để người ta ngắm nghía đều phải rõ ràng, và khi thực hiện ý nghĩa của mình anh ta không bắt gặp những khó khăn về kỹ thuật.


Nếu chúng ta nhìn kỹ hơn về chỗ địa vị của nghệ sĩ lúc này đã thay đổi thì ta sẽ thấy rằng tự do của nghệ sĩ được biểu hiện như sau:


a)       Anh ta tự do đối với nội dung ở chỗ anh ta không tìm nội dung với thái độ băn khoăn lo lắng tiêu biểu cho giai đoạn tượng trưng. Nghệ sĩ tượng trưng bị công việc của mình cầm tù trong khi lo sáng tác và làm cho nội dung của nó rõ ràng. Bản thân nội dung này một mặt chẳng qua chỉ là cái bản chất mang hình thức trực tiếp của tính tự nhiên, và mặt khác đó là cái thể trừu tượng bên trong của cái phổ biến, của cái duy nhất, của sự thay đổi, thay thế, hình thành, nảy sinh lại biến mất. Nhưng nghệ sĩ không thể tìm ngay được sự hòa giải giữa hai mặt. Vì vậy, cách miêu tả của nghệ thuật tượng trưng mặc dầu đáng lí phải nêu bật nội dung, song vãn dừng lại ở những câu đố và những bài toán và chỉ chứng minh cuộc đấu tranh cho sự sáng rõ và sự cố gắng của cái tinh thần không ngừng tiếp tục sáng tạo. Đối lập lại lối tìm tòi lúng túng như vậy, đối với một nghệ sĩ cổ điển nội dung cần phải tồn tại thành một cố gắng đã có sẵn đâu đấy, thành ra bản thân nội dung chủ yếu đã được qui định đối với hư cấu như là một niềm tin, một tín ngưỡng của nhân dân hay như là một biến cố đã xẩy ra mà từ thế hệ này sang thế hệ khác mà các chuyện kể và các truyền thuyết vẫn nhắc lại.


Nghệ sĩ đối xử với cái tài liệu đã được xác lập khách quanh như vậy một cách càng tự do nêu anh ta không tham dự vào quá trình xây dựng và sản sinh cũng không dừng lại ở việc tìm tòi cái ý nghĩa chân thực thích hợp với nghệ thuật. Anh ta đứng trước một nội dung đã có sẵn mà anh ta vay mượn và tái hiện một cách tự do. Các nghệ sĩ Hy Lạp đã nhận được tài liệu ở tôn giáo của nhân dân trong đó những gì chuyển từ phương Đông tới người Hy Lạp đã bắt đầu được hoán cải. Phidiat vay mượn thần Dớt của mình ở Hômerơ, và các nhà bi kịch không sáng tác ra cơ sở của cái nội dung mà họ thể hiện. Các nhà nghệ sĩ Thiên Chúa giáo cũng làm thế: Đantê, Raphaen chỉ miêu tả những gì đã tồn tại trong các tín ngưỡng và các quan niệm tôn giáo. Cả trong nghệ thuật của cái trác tuyệt người ta cũng đã làm một cách tượng tự, song vẫn có sự khác nhau ở chỗ, ở đây quan hệ đối với nội dung xem như cái bản chất duy nhất không cho phép tính chủ thể có được một ý nghĩa thích hợp với nó  cũng như đạt tới trình độ hoàn mĩ độc lập. Trái lại, hình thức nghệ thuật so sánh xuất phát từ chỗ lựa chọn ý nghĩa và cái hình ảnh được dùng, song sự lựa chọn này chỉ được giao cho thái độ võ đoán chủ quan và không có một cá tính bản chất là cái làm thành khái niệm của nghệ thuật cổ điển và vì vậy cần phải nằm ở trong chủ thể sáng tạo.


b)       Nhưng nghệ sĩ càng đứng trước một nội dung tự do đã có sẵn ở trong tín ngưỡng nhân dân, trong các truyền thuyết và các hiện thực khác, thì nghệ sĩ càng cần phải cố gắng làm việc đặng tạo nên một sự thể hiện nghệ thuật bên ngoài trùng làm một với nội dung này. Trong khi nghệ thuật tượng trưng bị xô đẩy giữa hàng nghìn hình thức không sao tìm được một hình thức thực sự ăn khớp, và với một trí tưởng tượng buông thả nghệ sĩ không có mực thước nào hết và không có sự hạn chế nào về cả mọi mặt để các hình thức xa lạ thích nghi vào cái ý nghĩa có sẵn, thì nghệ sĩ ở đây lại bị bó hẹp vào bản thân và bị hạn chế. Nếu như nội dung đã cho trước thì hình thức tự do ở đây cũng bị bản thân nội dung qui định và bản thân nó là thuộc nội dung này thành ra nghệ sĩ hình như chỉ thực hiện những điều tự thân nó là thuộc nội dung này thành ra nghệ sĩ hình như chỉ thực hiện những điều tự thân nó đã có sẵn phù hợp với khái niệm của nó. Trong khi một nghệ sĩ tượng trưng ra sức cấp cho ý nghĩa một hình thức hay cấp cho hình thức một ý nghĩa, thì nghệ sĩ cổ điển hoán cải ý nghĩa thành hình thức bằng cách giải phóng các hiện tượng bên ngoài đã có sẵn ra khỏi cái nét phụ thuộc đối với chúng. Hoạt động này không dựa trên tính võ đoán đơn thuần và nghệ sĩ không phải chỉ lo bắt chước hay bám lấy một loại hình cứng nhắc, trái lại đồng thời anh ta phát triển cái toàn thể. Lúc đầu, khi nghệ thuật cần phải tìm tòi và sáng tạo ra nội dung chân thực của nó, lúc bấy giờ nó còn coi thường hình thức. Nhưng ở nơi nào việc sáng tạo hình thức là hứng thú chủ yếu và là nhiệm vụ thực sự thì nội dung phát triển và ngày càng rõ ràng cùng với những tiến bộ về cách thể hiện, bởi vì nói chung, như chúng ta từ trước đến nay đã thấy, hình thức và nội dung cùng nhau tiến lên ở trong tình trạng hoàn mĩ. Về mặt này nghệ sĩ cổ điển phục vụ cả cái tôn giáo của thế giới mình; những tài liệu của tôn giáo và những biểu tượng thần thoại được anh ta phát triển thành trò chơi tự do của nghệ thuật.


c)       Những điều nói trên đây cũng áp dụng cả cho mặt kỹ thuật nữa. Mặt kỹ thuật phải là sẵn sàng đâu vào đấy đối với nhà nghệ sĩ cổ điển. Tài liệu cảm quan mà nhà nghệ sĩ sử dụng cần phải được tước bỏ tính bướng bỉnh và thô bạo và phải trực tiếp vâng theo những ý định của nghệ sĩ, để cho, theo khái niệm cổ điển, nội dung có thể bộc lộ tự do và không bị cản trở qua cái thể xác bên ngoài. Nghệ thuật cổ điển đòi hỏi một trình độ sự thành thạo kỹ thuật cao làm cho chất liệu cảm quan phải phục tùng vâng theo ý nghĩa nghệ sĩ. Một trình độ hoàn mĩ về kỹ thuật như vậy, nếu như nó có nhiệm vụ phải thực hiện trực tiếp mọi điều mà tinh thần và các ý định của tinh thần đòi hỏi ở nó, giả thiết phải có một sự phát triển đầy đủ các biện pháp thủ công ở trong nghệ thuật và điều này chủ yếu được thực hiện ở trong một tôn giáo được xây dựng một cách tỉ mỉ. Thế giới tôn giáo của người Ai Cập chẳng hạn được sáng tạo ra những hình thức bên ngoài nhất định để biểu hiện nó, những thần tượng, những kiến trúc khổng lồ, và loại hình của chúng vẫn được xác lập một cách vững chắc, sự phát triển sau này chỉ được thực hiện với điều kiện để nguyên vẹn tính đồng nhất cổ truyền của các hình thức và các hiện tượng. Yếu tố thủ công này cần phải có mặt ở trong cái xấu xí và cái kì đặc trước khi thiên tài của cái đẹp cổ điển biến đổi sự khéo léo máy móc thành sự hoàn mĩ và kĩ thuật. Bởi vì chỉ khi nào phương diện máy móc xét tự thân nó không còn gây nên những khó khăn nữa thì nghệ thuật có thể tự do bắt tay vào việc xây dựng hình thức. Sự thực hiện hiện thực đồng thời lại là một sự hoàn mĩ hóa thêm nữa mối liên hệ chặt chẽ với sự tiến bộ của nội dung và của hình thức.


(còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch & giới thiệu. NXB Văn học, 1999.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Nghe Tô Hoài, đọc lại Vũ Bằng - Đỗ Trung Lai 02.10.2017
xem thêm »