tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22610666
Lý luận phê bình văn học
15.05.2018
Phạm Trọng Chánh
Theo hành trình Nguyễn Du Bắc Hành Tạp Lục: Thơ đi sứ năm 1813 và những bài thơ được sáng tác trong thời gian đi giang hồ (1787-1790) (1)

Nhà văn Triệu Xuân: Xin lưu ý: Đây là quan điểm riêng của tác giả Phạm Trọng Chánh. Những bài viết của PTC xung quanh chuyến đi sứ của Nguyễn Du gây nhiều ý kiến trái chiều của các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp... Bài này trieuxuan.info post từ ngày 28-10-2015, nay update.


Đọc Bắc Hành Tạp Lục nhiều nhà nghiên cứu có cảm giác Nguyễn Du rất cô đơn trước cảnh sắc và  con người tại Trung Quốc. TS Nguyễn Thị Nương trong Tọa đàm Khoa học Bắc Hành Tạp Lục, do Hội Kiều Học Việt Nam tổ chức tại Viện Văn Học ngày 1-11-2013 tại Hà Nội nhận xét Bắc Hành Tạp lục: “Nguyễn Du một mình một ngựa”  “ thơđi sứ của ông hoàn toàn không có những sáng tác  chủ yếu để thiết lập quan hệ ngoại giao, làm sang cho đất nước” “Nguyễn Du viết với tư cách một thi nhân”.  Cô Nương nói đúng một phần, theo tôi nguyên do vì:  Một phần của tập thơ Bắc Hành Tập Lục đã được viết từ năm 1787-1790 lúc Nguyễn Du 22, 24 tuổi, nghĩa là 23 năm trước khi Nguyễn Du làm Chánh sứ, đi sứ năm 1813, lúc đó nhà thơđi giang hồ một mình. Trong các bài thơ Nguyễn Du không đi ngựa, mà đi  trên những chiếc thuyền con. Tôi đã đi Trung Quốc năm 2009, theo dấu vết các bài thơ Nguyễn Du, đến những nơi thi hào đã đi qua, nghiên cứu bản đồ địa danh, đối chiếu từng bài thơ trên địa danh, dịch lại toàn bộ thơ chữ Hán Nguyễn Du, bổ túc những sơ sót các dịch giả đi trước. Và khám phá Nguyễn Du đã đi giang hồ Trung Quốc năm 1787-1790 năm 21, 24 tuổi sau khi nhà  Lê - Trịnh sụp đổ. Bài  viết này  viết một cái nhìn tổng quát về Bắc Hành Tạp lục, không thể nói  hết 132 bài thơ Nguyễn Du trong một bài ngắn. Sau đó sẽ chia từng bài nhỏ, đi từng địa danh trên hành trình: Từ Thăng Long đến Lạng Sơn.  Từ Ải Nam Quan đến Quế Lâm.  Từ Sông Tương đến Hán Dương.  Từ Hán Dương đến Bắc Kinh. Từ Bắc  Kinh qua Sơn Đông. Đáng tiếc là Nguyễn Du viết rất ít về Bắc Kinh, hay có thể các thơ văn này bị thất lạc.


Tôi đã chứng minh trong “Nguyễn Du, Mười năm gió bụi (1786-1796)”  một số bài thơ trong Thanh Hiên thi tập, Nguyễn Du không làm ở Quỳnh Hải, Hồng Lĩnh mà làm ở Trung Quốc với những địa danh trong bài thơ, mà không ai để ý , hay bỏ qua không dịch: Vân Nam, Liễu Châu, Quảng Tây, Trung Châu, Giang Bắc, Giang Nam, Giang Hán, Hoàng Châu, Nam Đài,  Long Thủy (Long Châu); và những bài thơ trong Bắc Hành Tạp Lục làm ở Trường An (Dương Phi cố lý, Bùi Tấn Công mộ, Phân Kinh Thạch Đài), Hàng Châu ( Miếu Nhạc Phi, 2 bài Tần Cối, 2 bài Vương Thị) những bài thơ này trên đường đi sứ năm 1813,  Nguyễn Du không đi qua. Nóđã được sáng tác năm 1788-1790.


Đoạn đường từ Quế Lâm đến  Hán Dương,đi đường  thủy qua Vĩnh Châu, sông Tương,  Hành Dương, Trường Sa, Tương Âm, Hồ Động Đình, Nhạc Dương, Hán Dương, Nguyễn Du đi nhiều lần, lần thứ nhất 1788-1790 lượt đi, lượt về và lần thứ hai đi sứ 1813-1814 lượt đi, lượt về.


Đoạn đường  từ Hán Khẩu theo sông Hán Thủy đến Trường An , Nguyễn Du đi một lần năm 1789-1790.


Đoạn đường từ  Hán Dương đến Bắc Kinh qua Hứa Đô, Hàm Đan, Hồ Bắc,  Nguyễn Du đi  đường bộ năm  1813 lượt đi.


Lượt về năm 1813 Nguyễn Du đi đường bộ qua Trực Lê, Sơn Đông, Khúc Phụ ,Từ Châu, Hoài Nam, An Huy,  đến  Võ Xương. Lại lấy đường thủy  nước sông khô khan, kênh hạn hẹp đi rất chậm về đến Toàn Châu,  Bắc Quế Lâm, rồi từđóđi đường  đường thủy theo sông Minh Giang về Trấn Nam Quan. Từ Trấn Nam Quan đi đường bộ về Thăng Long, và từ Vị Hoàng đi đường thủy về lại Phú Xuân.


Nhiều bài thơ Nguyễn Du làm năm 1813 đã nhớ lại cảnh này đã đi qua năm 1788-1790:


Bài Tây Hà Dịch, Trạm Tây Hà có câu: Y nhiên tiểu lý lư. Xóm nhỏ vẫn y nguyên, Nguyễn Du có đến nơi này rồi thì mới có thể viết xóm nhỏ vẫn y nguyên ;


Bài Chu phát . Thuyền ra đi, có câu: Giang đồng khứ nhật thu. Sông vẫn cảnh thu như ngày cũ. Nguyễn Du không nói đến hành trình lúc đi lúc về qua nơi cũ, vì lúc đi lúc về hai mùa khác nhau ; mà nói đến cách  năm 1813 hai mươi ba, hai mươi bốn năm, khoảng thời gian 1798- 1790 Nguyễn Du đãđi qua nơi nầy.


Bài Tương giang dạ bạc, Đêm đi thuyền trên sông Tương.  Nguyễn Du viết:  Biệt phố phai tân sắc,  Bến cũ cảnh đã khác. Nguyễn Du có đến nơi này rồi thì mới có thể nói: bến cũ nay đã khác.


 Bài Độ Hoài hữu cảm Văn Thừa Tướng. Qua sông Hoài cảm nhớ Thừa Tướng Văn Thiên Trường: Sơn hà phong cảnh thượng y nguyên, Phong cảnh  núi sông vẫn y nguyên như cũ.


Bài Hán Dương vãn điểu, có câu: Tưởng tượng đương niên xuy địch dạ, Tưởng tượng lại đêm thổi sáo năm ấy, bài thơ này Nguyễn Du làm năm 1813 nhớ lại đêm thổi sáo năm 1789.


Tôi hồ nghi, các thơ Nguyễn Du tiếp sứ thần nhà Thanh, Tề Bồ Sâmđến Việt  năm 1803, 1804 phong vương cho vua Gia Long, tất cả các thơ tiếp sứ đều do Nguyễn Du viết,  các thơ thùấy  không tìm thấy. Việc đi sứ năm 1813  sau khi  tặng cống phẩm, vua quan nhà Thanh trao tặng lại  phẩm vật,  thơ cảm tạ, hay thơ xướng họa với các quan trong các yến tiệc,điều này không thể không có, và Nguyễn Du không thể làm khác hơn các sứ thần khác .Điểm chính trong đi sứ là những ngày tháng vào chầu vua Thanh và triều đình, không thấy Nguyễn Du chép ởđâu ? Trách nhiệm đi sứ, phải làm thơ giỏi, nhanh lẹ,  thù tiếp ứng đối, để tỏ ra mình là nước có văn hoá, bảo vệ danh dự đất nước,  không chịu lép vế một ai. Đứng chầu phải được đứng ngang hàng với sứ thần Triều Tiên, Lưu Cầu Nhật Bản, qua cổng gặp nếu câu đối quan Trung Quốc chơi xỏ gọi mình là man di, nam di  không thèm bước qua, lý luận sắc bén buộc họ phải tháo câu đối,  nếu không quan lại Trung Quốc sẽ cười khinh khi mình là kém văn hóa. Nếu Chánh sứ không làm việc đó thì làm việc gì ?  đi sứ nào phải là việc anh lái buôn hay  công nhân đi giao hàng ? Các thơ ngoại giao ấy, Nguyễn Du chép nơi đâu ?  Có thể có một tập thơ dành cho việc này đã thất lạc, hay chưa tìm được ?


 


                Tập thơ Bắc Hành tạp lục, Nguyễn Du không dùng chữ Hoa trình, hay sứ trình, hành trình đi sứ như các tập thơ các danh sĩ khác mà dùng chữ tạp lục. Ghi chép lẫn lộn những bài thơ làm lúc đi du hành ở xứ Bắc.  ChữTạp lụcđủ nói lên việc đi qua các thắng cảnh phía Bắc, nước Trung Hoa nhiều lần. Số lượng 132 bài thơ trong một năm đi sứ, khá nhiều so với các nhà thơ khác. Tôi đặt từng bài vào không gian và thời gian để xác định những bài thơđó viết khoảng năm 1787-1790 hay 1813-1814.


 


                 Hành trình đi sứ Nguyễn Du tôi  dựa vào bản tấu trình của Nguyễn Du lên triều đình,  đưa từng bài thơ Nguyễn Du vào hành trình và bổ túc những chi tiết bằng sự mô tả nơi chốn của các sứ thần gần thời với Nguyễn Du: Nguyễn Tông Khuê, Lê QuýĐôn, Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích, Đoàn Nguyễn Tuấn, Ngô Thời Vị…  Còn lại những bài thơ không phù hợp với các chi tiết, tôi phân tích xác định:  những bài thơ Nguyễn Du du hành năm 1787-1790 lúc còn thanh niên.


 


                Cũng nên nhắc lạiđiều tôi đã chứng minh trong “Nguyễn Du mười năm gió bụi (1786-1796)”, năm 1787, theo Lê Quý Kỷ sự của Sử thần Nguyễn Thu đời Tự Đức:  Nguyễn Đăng Tiến,( tức Cai Già trong Lịch Triều Tạp Kỷ của Ngô Cao Lạng, Cai Gia trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Văn gia phái, Nguyễn Đại Lang trong Thanh Hiên thi tập của Nguyễn Du ); tước Quản Vũ Hầu, nguyên là quyền Trấn Thủ Thái Nguyên  cùng  Nguyễn Quýnh (Sĩ Hữu), Nguyễn Du  khởi nghĩa chống Tây Sơn tại Tư Nông thất bại, bị chỉ huy Giáo bắt giải về cho Vũ Văn Nhậm ; Nhậm trân trọng khí khái tha chết cho phép muốn đi đâu thìđi. Vũ Văn Nhậm  cười nói: “Ta đi cướp nước người, phá nhà người: đó là lỗi ta. Vậy thì người đánh lại ta, là lẽ chính đáng, chứ người có tội gì.  Chỉ giận vì sức mọn thế yếu, nên mới bị ta bắt được đó thôi. Nay ta thả Tiến ra, nếu Tiến chịu hàng thìđi với ta ; bằng không thì cho tùy ý muốn đi đâu cũng được. Ví bằng lại dấy quân quyết chiến với ta mà ta bắt được lần nữa thì cũng không giết đâu . ‘’ ( Lê Quý Kỷ sự  tr 91,92). Được tha, cả ba lên đường đi Vân Nam, theo thơ Nguyễn Du, Thanh Hiên thi tập đến nơi cócảnh tuyết, lá vàng bốn mùa, tiếng tù và (Thu  chí),  cách Trường An ngàn dậm phía Nam (Sơn Cư Mạn hứng), trưởng giả ăn mặc còn theo nhà Hán, không theo lịch nhà Tần( Sơn Thôn). Sau đó Nguyễn Dumuốn thoát vòng trần tục và theo gương Lý Bạch tuổi trẻđi chu du khắp Trung Quốc.. Hành trình đó  tôi đãđi Trung Quốc và nghiên cứu các địa danh bản đồ, xếp đặt từng bài thơ, giải thích từng câu thơ, trong không gian, thời gian: Nguyễn Du đi từ Thái Nguyên sang Vân Nam, bị bệnh ba tháng, sau đó thoát vòng trần tục  xuất gia thành nhà sư Chí Hiên. Danh hiệu Nguyễn Du dùng cho đến năm 1796, để lại trong Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương (Chí danh hiệu Chí Thiện thiền sư chưởng môn phái Thiếu Lâm thời Càn Long, Hiên chữ thường dùng trong gia đình, cha cụ Nguyễn Nghiễm  là Nghị Hiên, anh Nguyễn Nể là Quế Hiên, cháu Nguyễn Thiện là Thích Hiên..). Đến Liễu Châu, chia tay Nguyễn Đại Lang về thăm quê cũở Việt Đông và hẹn ngày gặp lại tại Trung Châu (Hàng Châu), Nguyễn Sĩ Hữu tức Nguyễn Quýnh  chia tay trở về làm chủ Hồng Lĩnh khởi nghĩa. Nguyễn Du mang theo trong hành trang quyển Kinh Kim Cương chú giải của Lê QuýĐôn quyển sách được giới trí thức Bắc Hà yêu chuộng thời bấy giờ, ngày dạo chơi thắng cảnh, đêm trú tại một ngôi chùa trên đường đi, tụng kinh Kim Cương làm công quả, đi nhờ các thuyền buôn Giang Bắc, Giang Nam cái túi không (Mạn hứng).Từ Liễu Châu, Nguyễn Du lại sang Quế Lâm, đi dọc theo sông Tương  lên Trường Sa vào Động Đình Hồ đến  Hán Khẩu, rồi theo sông Giang Hán đến Trường An. Sau đó từ Trường An lại theo đường sông và kênh Đại Vận Hà đến Hàng Châu. Nguyễn Du đội mũ vàng nhà sưđi muôn dậm: Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế (khoảng gần 5000 km), trong ba năm, đọc Kinh Kim Cương nghìn lượt (bài Phân Kinh Thạch Đài)tại các chùa trên đường đi (1000: 365 ngày= 3 năm).  Tại Hàng Châu, Nguyễn Du ngụ tại chùa Hổ Pháo, nơi Từ Hải tức Minh Sơn Hoà Thượng từng tu hành, đối diện Miếu Nhạc Phi, nơi đây Nguyễn Du chờ đợi Nguyễn Đại Lang (Tương kiến tại Trung Châu, sẽ gặp lại nhau tại Trung Châu, bài Biệt Nguyễn Đại Lang) nên có thì giờ viết 5 bài thơ về Nhạc Phi, Tần Cối và Vương Thị.  Miếu Nhạc Phi cách chùa Hổ Pháo một con đê Tư (Su) nối liền hai thắng cảnh Tây Hồ, quanh Tây Hồ là các thanh lâu nơi các nàng Kiều tiếp klhách, thời gian này  Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân đã in ấn và nổi tiếng tại Hàng Châu, Nguyễn Du đãđọc và say mê nên quyết chí diễn Nôm tiểu thuyết này. Sau khi gặp Nguyễn Đại Lang tại miếu Nhạc Phi. Họđi xe song mã lên Bắc Kinh gặp vua Lê Chiêu Thống đang bị  vua quan nhà Thanh bạc đãi, họ trở về đến Hoàng Châu thì gặp Đoàn Nguyễn Tuấn trong sứđoàn Tây Sơn,  hai người bàn chuyện văn chương sôi nổi vềHồng nhan đa truân ; Đoàn Nguyễn Tuấn viết hai bài thơ tặng văn nhân họ Nguyễn và cảm hứng một bài thơ Vô Đề tả một ca nhi trong tiệc quan:  hồng nhan đa truân.. Nguyễn Du về trước đến Nam Đài,  Long Thủy (Long Châu) chờ đợi viết bài thơ Xuân Dạ. Đoàn Nguyễn Tuấn và sứđoàn đi Nhiệt Hà làm lễôm gối nhận làm cha con, giữa vua giả Nguyễn Huệ (Phạm Công Trị)và vua Càn Long và trở về Thăng Long gặp lại Nguyễn Du vào mùa xuân như thơđã hẹn..


 


                 Nguyễn Du có một cuộc đời giang hồ đúng như Nguyễn Hành, cháu nhà thơđã viết về chú: Giang hồ, long miếu hai điều đủ ; Thi họa cầm thư  bốn nghệ tinh. Giang hồ làđi lang thang trên các sông  Giang Bắc,  Giang  Nam,đi chơi năm hồ lớn Trung Quốc: Động Đình Hồ và các hồ lân cận: Thái Hồ, Xạ Dương Hồ, Thanh Thảo Hồ, Đan Dương Hồ, Cung Đình Hồ.. như  Phạm Lãi, Lý Bạch, Đổ Phủ.., một cuộc đời mười năm gió bụi giang hồđúng nghĩa. Chứ Nguyễn Du không về quê vợ Thái Bình như gia phả viết, vìở Thái Bình có vợ có con, dạy học, dạy văn, dạy võ không thể gọi là giang hồ, hay đời gió bụi được.


 


                Một phần thơ trong Bắc Hành tạp lục đã được Nguyễn Du làm trong thời gian này: Các  bài thơ làm tại Trường An: Các bài thơ làm tại Hàng Châu . Và nhiều bài thơ khác nằm trên đoạn đường trùng với đường đi sứ từ Quảng Tây đến Hán Dương, Vũ Hán. Những bài thơ tả  Nguyễn Du đi trên rừng cao, thôn xóm hẻo lánh, không nằm trên đường cái quan, có trường đình, đoãn đình, có lửa báo hiệu, có phu trạm thay phiên chạy ngựa, vị quan tướng điều khiển tiếp rước suốt cuộc hành trình, thông báo cho các trấn huyện, thời xưa chưa cóđiện thoại, các  phu trạm, áo giáp rầm rập  cướp thẻ bài, phi ngựa tung bụi mờ phi báo, chẳng khác nào đi hành quân: Nửa đêm cửa tướng hịch bay ầm ầm(Chinh Phụ Ngâm, bản Đoàn ThịĐiểm)nào có phải chuyện êm ả phải chờ đợi :  Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh. (bản Phan Huy Ích ). Khi đi đường các sông hồ nối liền từ Quảng Tây đến Vũ Hán vàkênh Đại Vận Hà tấp nập người, thuyền đi lại mua bán, thuyền đoàn sứ cũng được dọn đường đi trước với cờ trống, các thuyền buôn nép lại hai bên. Sứđoàn 27 người được cờ lộng xe ngựa mang cống phẩm đi qua, các quan địa phương các nơi sứđoàn đi qua chịu mọi chi phí tốn kém.Có nơi hàng trăm, có nơi hàng ngàn quân sĩđưa đón bảo vệ an ninh phòng thảo khấu cướp bóc, phu dịch chuyển vận phẩm vật cống sứ trên xe ngựa, trên thuyền,  trống đánh om xòm, đường sông hồcó trạm dừng chân trên bến, tiệc tùng linh đình,  “đèn đuốc sáng rực  cả trăng sao”(theo Phan Huy Ích trong Dụ Am ngâm lục), ca nhi múa hát, quan lại tiếp rước, đốt pháo. Nguyễn Du không thể nào tả cảnh mình côđơn,  khi đi sứ trên quảng đường này. Phẩm vật cống sứ quan lại địa phương Trung Quốc, mỗi châu quận phải bảo vệ, canh gát cẩn thận, trách nhiệm quan địa phương sơ suất, bị thảo khấu cướp cống phẩm một nước có thể bị mất đầu như chơi,  trong cái cảnh Trung Quốc đói khổ kẻ xin ăn đầy đường như Nguyễn Du mô tả, thì  cướp bóc, thảo khấu kiểu Hoàng Sào hay Lương Sơn Bạc không thiếu,  trách nhiệm nặng nề, quan Chánh Sứ không thể bầu rượu túi thơđi chơi một mình, như lúc Giang Bắc, Giang Nam cái túi không,23 năm trước,đội mũ vàng, áo vàng nhà sưMuôn dậm mũ vàng chiều nắng xế ; bao con mắt dòm ngóquan trên trông xuống, người ta dòm vào, lúc nào cũng khoát áo bào quan lớn,  ngoài quan tướng địa phương, còn có các vị quan tướng, thông ngônđi từ Quế Lâm, Quảng Tây đến Bắc Kinh, và từ Bắc Kinh trở về Quảng Tây, điều khiển cuộc hành trình. Nơi nào có ghềnh thác, mưa lũ, phải đi đường khác, đồ cống phẩm như lụa, gấm, cấp.. không thể bị ướt nước, thời xưa chưa có bao ni lông bao bọc, những gấm, lụa, trầm hương, giấy..đường dài gần cả năm có thể bị móc meo thì hư hết cống phẩm. Gặp mùa nước lũ qua những sông lớn như Hoàng Hà, Trường Giang, không thể chèo chống phải chờ đợi dứt cơn lũ mới qua được.  Nơi qua núi đèo, tránh xa những con đường mòn hiểm trở  kiểu Huê Dung lộ, một người đứng chận đường muôn người khó qua, thì xem nhưđem nạp cống phẩm một nước cho thảo khấu. Nơi nào có giặc giả, có lụt lội thì đường đi sứ được sửa đổi tránh xa, hay  dừng lại chờ đợi giặc  bị dẹp tan mới đi qua. Do đó không thể có chuyện Nguyễn Du đi sứmột mình một ngựađi trên ghềnh thác,đường mòn:


 


                Bài Thương Ngô mộ vũ, Mưa chiều Thương Ngô có câu: Trách trách tiểu chu nan quá hạ. Chiếc thuyền nhỏ hẹp khó qua  được miền Hoa Hạ. Bài này làm trong thời giang hồ, Nguyễn Du đi nhờ thuyền nhỏ, vìđi sứ Nguyễn Du đi bằng thuyền lớn và cảđoàn thuyền đưa đón linh đình.


 


                 Bài Sơn Đường  dạ  bạc, Đêm đậu thuyền ở Sơn Dương có câu: Ý Bồng thiên lý vọng, Hợp nhãn cách niên ti: Dựa thuyền trông nghìn dậm, nhắm mắt một năm ròng. Bài này làm lúc đi giang hồ, nhớ lại quê hương xa ngàn dậm, xa quêđã một năm. Nghe tiếng vượn kêu não lòng. Vì khi đi sứ Nguyễn Du đến Sơn Dương chỉ mới  hai ba  tháng.Đoàn thuyền sứ đến khí thế rộn ràng,  thì khỉ vượn cũng  bỏ chạy hết.


 


                Bài Chu hành tức sự, Tức cảnh đi thuyền: Thiên địa biên chu phù tự diệp: Chiếc thuyền con nổi trôi như chiếc lá trong trời đất. Bài này làm lúc đi giang hồ, vìđi sứ thuyền con như chiếc lá làm sao chở được 27 người đi sứ  và đồ cống phẩm, chưa kể quan chức Trung Quốc, lính tráng hộ vệ hàng trăm người.


 


                Bài Thương Ngô trúc chi ca có câu: Tương ước đông gia cụ chu tiếp, Thiên phi các thương cộng phần hương. Hẹn bác xóm Đông thuyền để sẵn, Gác Thiên Phi đến cúng thắp nhang. Nguyễn Du đi sứ thì không thể nào có bác hàng xóm phía Đông, và hẹn cùng bác đi thắp nhang gác Thiên Phi thì bỏ sứđoàn cho ai ?  Do đó bài này làm lúc Nguyễn Du đi giang hồ một mình.


 


                Bài Vọng Tương Sơn Tự có câu: Cô chu giang thượng bằng lan xứ. Dựa lan can chiếc thuyền côđơn trên sông. Khi sứđoàn đi cống thì cả một đoàn thuyền địa phương theo hộ tống, ồn ào náo nhiệt. Cảnh thuyền côđơn chỉ có khi Nguyễn Du đi giang hồ một mình.


 


                Bài Đăng Nhạc Dương lâu: Tây phong ỷ cô hạm, Hồng nhạn hữu dư ai. Trước ngọn gió Tây một mình đứng tựa lan can, vẳng tiếng chim hồng chim nhạn bay qua thêm buồn. Chánh sứ mà lên lầu Nhạc Dương chỉ có một mình sao ? Gió Tây trong thơ Nguyễn Du ám chỉ Tây Sơn. Bài thơ này Nguyễn Du làm lúc đi giang hồ thời Tây Sơn.


 


                Bài Tín Dương tức sự: có câu:  Tây phong biến dị hương ; Gió Tây thổi khắp trên đất khách. Bài này Nguyễn Du làm tại Trung Quốc năm 1789, sau cuộc đại bại Tôn Sĩ Nghị tại Thăng Long, những tin tức chiến thắng Tây Sơn Nguyễn Huệ làm rung động cả đất Bắc.


 


                Năm 1813 Nguyễn Du đi sứ, không có lý do gì các quan “Mãn Đại Nhân”(Mandarin) nhà Thanh lại dẫn Chánh sứđi thăm lăng miếu, thành trì Quế Vương, người cuối cùng họ Chu, nhà Minh xưng vương và vị quan họ Cù  chống lại nhà Thanh, lăng mộhoang phế suy tàn không hương khói, để Nguyễn Du viết bài Quế Lâm Cù Các Bộ. Do đó bài thơ này Nguyễn Du viết năm 1788, chứ không phải lúc đi sứ.


 


                Bài Độ hoài hữu cảm Văn Thừa Tướng. Qua sông hoài cảm nhớ Thừa Tướng Văn Thiên Trường. Văn Thiên Trường tượng trưng lòng ái quốc của người Trung Quốc chống ngoại xâm. Trong hoàn cảnh nhà Mãn Thanh chiếm Trung Quốc. Nhắc đến Văn Thiên Trường hay Nhạc Phi, Cù Các Bộ  chắc chắn sẽ làm khó chịu các quan nhà Thanh. Nếu bài thơ này các quan nhà Thanh đọc được, thì Chánh Sứ cũng có thể bị giữ lại giam cầm như trường hợp Phó SứLê Quang Bí (1506- ?) nhà Mạc  bị giữ lại 18 năm tại Nam Ninh, hay trường hợp Chánh sứ Ngô Thời Vị, năm 1820 -1821, một nhà thơ trung trực mạnh dạn ăn nói, đi sứ về đến Quảng Tây  thì mất giữa tuổi 47 ? Cái chết đáng nghi ngờ là bị đầu độc ? Tôi cho rằng các bài thơ này Nguyễn Du viết năm 1788-1790 vì khi đi  sứ quan Chánh Sứ phải thận trọng , để khỏi xảy ra những sự cố ngoại giao đáng tiếc..


 


 Theo điển lệ sách Thính Hiên Vũ Ký việc đi sứ có hai trường hợp chánh yếu:


Tuế cống: Đến kỳ hạn thì nước ta cử người đi sứ cống hiến phẩm vật để thắt chặt tình giao hảo giữa hai quốc gia. Thời hạn từ hai đến 6 năm, nhưng thường là bốn năm.


Thời Gia Long:


 Năm 1802 Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức đi sứ.


Năm 1804 Sứ thần nhà Thanh Tề Bồ Sâm sang phong vương vua Gia Long, Nguyễn Du tiếp đón từ Lạng Sơn.


Năm 1807 Vũ Trinh, Ngô Nhân Tĩnh đi sứ.


Năm 1809 Nguyễn Hữu Thận, Ngô Thời Vịđi sứ.


Năm 1813. Nguyễn Du đi sứ.


Năm 1817, Phan Huy Thực đi sứ.


Năm 1820 Ngô Thời Vị thay Nguyễn Du (mất) đi sứ.


Sứ lễ: Nhân lễ lớn nơi triều đình Trung Hoa như Vua lên ngôi, tấn phong Hoàng hậu, vua băng hà, Thái tử cưới vợ.. hoặc vua muốn thông báo một việc trọng đại như lên ngôi, đặt quốc hiệu, đến hiệu, vua băng hà.. Năm 1795 Nguyễn Nể làm Hành Khánh Sứ nhân lễ nhường ngôi vua Càn Long cho con.


Sứ đoàn Nguyễn Du là lễ cống định kỳ, gồm 27 người. Quan Chánh Sứ Nguyễn Du  có 5 thư lại. Hai quan Phó sứ Thiêm Sự Bộ Lại Trần Văn Đại và Thiêm sự Bộ Lễ Nguyễn Văn Phong có 8 thư lại, 3 người làm thông ngôn, 2 người ký lục, 1 y sĩ,  5 lo việc ăn uống  và y phục. Nguyễn Tứ có theo cha đi sứ trong dịp này,  chỉ là một tiểu đồng khoảng 14,15 tuổi theo hầu.


Đồ cống phẩm gồm 200 lượng vàng, 1000 lượng bạc, lụa và cấp mỗi thứ 100 cây, hai bộ sừng tê giác, 100 cân ngà voi, 100 cân quế (Trần Trọng Kim Việt Nam Sử Lược  quyển II. Bộ Giáo Dục Sàigon, 1971 trang 179).  Ngoài ra có những thời kỳ còn có cống tượng người  bằng vàng,  tổ yến, sừng hươu non, gỗ trầm, kỳ nam, lông chim trĩ,  chim công, thú rừng lạ như chim trĩ trắng,  ngọc trai, nước giếng Cổ Loa để rửa ngọc trai, dầu  con cà cuống, các loại giấy… Năm 1790 thời Quang Trung, Phan Huy Ích làm Chánh Sứ, đặc biệt có hai con voi làm cống phẩm, một ban hát bội  Quy Nhơn 10 người, sứ đoàn đông nhất lịch sử 150 người..


Ta cũng nên xem xét, việc đóng gói bao bì các đồ cống phẩm ngày xưa như thế nào, để có thể đi đường dài muôn dậm hàng năm trời, không bị hư hao, móc meo, đổ bể. Các  cống phẩm được đặt trong các rương hòm, nhựa keo kín các lỗ hỡ, đồ được chèn bằng những bao ống dâm bào gỗ, dâm bào hút chất ẩm khỏi móc meo. gói giấy bổi, chèn cứng để không xục xịch lúc vận chuyển. Đồ cống phẩm trên đường đi chỉ mở một lần bày ra ở đài Chiêu Đức,Ải Nam Quan cho quan nhà Thanh xem xét.


Sứ đoàn khởi hành từ Phú Xuân, tháng hai năm Quí Dậu (1813) đi bằng thuyền đến Thạch Đình sông Hoàng Giang,  Vị Hoàng Nam Định. Nơi đây được Tổng Trấn Nguyễn Huỳnh Đức cùng quan Tổng Hiệp Trấn Lê Chất  và các quan phủ huyện, tiếp đón từ bến thuyền đưa về dinh Tuyên Phủ ở Thăng Long. Xuân Hương Hồ Phi Mai có gửi thơ mừng (Cảm cựu khiêm trình Cần Chánh Học Sĩ Nguyễn Hầu) và đến đón quan Chánh Sứ Nguyễn Du và viết hai bài thơ Hoàng Giang ngộ hữu hỉ phú (Mừng gặp bạn ở sông Hoàng)  và bài Hoài cựu (Nhớ bạn cũ) lưu lại trong Lưu Hương Ký. Dọc đường đoàn sứ đi qua các làng mạc, phủ huyện đều có bày cổng chào, bàn hương án, lính tráng cờ  trống đưa đón.


 


                Tại dinh Tuyên Phủ (khu vực chùa Quán Sứ) nơi đoàn sứ trú chân, một buổi tiệc tiễn hành, có đủ hết các nữ nhạc trong thành Thăng Long, con hát trẻ đến mấy chục người, thay nhau múa hát và có cả  cô Cầm người gãy đàn lừng danh, xưa đàn khúc Cung phụng cung vua Lê, thời Tây Sơn được quan tướng thưởng tiền lụa như đất bùn nay là “một người gầy võ, thần sắc khô khan, mặt đen xấu như quỉ, quần áo bằng vải thô bạc phếch, vá nhiều mảnh trắng, ngồi lặng lẽ cuối chiếu, chẳng hề nói cười, hình dang thật khó coi.”(Long Thành cầm giả ca), nàng gảy Nguyễn cầm, tức đàn Nguyệt do Nguyễn Hàm đời Tấn chế ra. Tiếng đàn làm Nguyễn Du xúc động viết bài thơ chữ Hán tuyệt tác. Nguyễn Du còn gặp lại trên đường  bạn bè cũ, nay đã thành ông, và nguời hát cũ, người yêu của em Nguyễn Ức, nay đã lấy chồng, ba con và ái ngại thay  vẫn mặc chiếc áo hồng ngày xưa ra đón quan Chánh sứ (Ngô gia đệ cựu ca cơ).


 


                Từ Thăng Long, sứ đoàn đi thuyền qua sông Nhĩ Hà, dừng lại nghỉ đêm ở Gia Lâm. Mỗi lần qua sông phải chuyển đồ cống phẩm hành lý xuống thuyền, lên bờ lại chuyển đồ lên xe ngựa, do đó mỗi lần qua sông là mất nguyên ngày..  Từ Gia Lâm hành trình hàng tháng ròng  đi đến Sông Cầu, Thọ Xương, Yên Thịnh, Suối Cát, bãi Triềng, sông Giang Hóa, qua Quỷ Môn Quan đến  núi Tử Sơn, Mẫu Sơn rồi vào thành Lạng Sơn chờ đợi quốc thư Trung Quốc hẹn ngày lành tháng tốt qua ải Nam Quan. Đoạn đường này Nguyễn Du đã làm nhiều bài thơ trong Thanh Hiên thi tập khi đi tiếp sứ đoàn Tề Bồ Sâm của Trung Quốc sang phong vương năm 1803-1804. Đồng Lung giang, Đồng Lư thượng đạo kiến Sài Sơn. Lạng Sơn đạo trung, Vọng phu thạch, Quỉ môn đạo trung, Xuân tiêu lữ thứ. Từ biệt bạn cũ họ Hoàng đang trấn thủ Lạng Sơn, Nguyễn Du có bài thơ từ biệt và bài Nam Quan đạo trung. Chiếu của nhà vua từ tầng mây năm sắc (triều đình)  ban xuống. Đoàn  xe lẻ loi vượt cửa ải nhà Hán, đây chỉ Trấn Nam Quan,  trên con đường muôn dậm. Suốt dọc đường cùng với ta chỉ có mái tóc bạc. Cả hai tuần (20 ngày) chỉ thấy một màu núi xanh. Ơn vua như biển chưa mảy may báo đáp. Mưa xuân như mỡ nhưng vẫn thấy trong xương lạnh buốt. Đường cái quan nhà vua đến kinh đô rộng rãi và bằng phẳng, thôi hỏi chi nữa. Theo dòng Minh Giang đến phía bắc là kinh đô. Trường An ở đây chỉ Bắc Kinh chứ không phải Tây An.


TRÊN ĐƯỜNG NAM QUAN


Ngọc thư năm sắc mây truyền lệnh,


Vạn dậm xe qua ải Hán Quan.


Mái tóc bụi đường đà bạc trắng,


Hai tuần chỉ thấy núi non xanh.


Ơn vua như biển chưa đền đáp,


Mưa đến trời xuân thấm lạnh lòng.


Đường sứ thẳng bằng xin chớ hỏi,


Minh Giang ngược bắc tới Tràng An.


Nhất Uyên dịch thơ


Nguyên tác phiên âm Hán Việt:


NAM QUAN ĐẠO TRUNG


Ngọc thư phủng há ngũ vân đoan,


Vạn lý đan xa độ Hán quan.


Nhất lộ giai lai duy bạch phát,


Nhị tuần sở kiến đãn thanh san.


Quân ân tự hải hào vô báo,


Xuân vũ như cao cốt tự hàn.


Vương đạo đãng bình hưu vấn tấn,


Minh Giang bắc thướng thị Trường An.


6-2 Quí Dậu (1813)  Sứ đoàn đến Ải Nam Quan. Nguyễn Du có bài Trấn Nam Quan. Khó biết chuyện cũ thời Lý Trần, cửa ải như thế nào, nhưng từ ba trăm năm nay kể từ  Vua Lê Thái Tổ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII khoảng 300 năm, hai nước phân chia bằng mặt lũy lẻ loi này. Một cửa ải hùng vĩ trấn giữa lòng muôn vạn núi. Nơi hẻo lánh thường nghe lời đồn sai. Ở gần trời mới biết ơn mưa móc thấm sâu từ trên ban xuống, trời đây chỉ Hoàng đế Trung Quốc. Quay đầu nhìn về cửa khuyết cung vua Triều Nguyễn ở Phú Xuân, bên tai còn nghe vẳng tiếng nhạc  quân thiều thời thái bình.


  TRẤN NAM QUAN


Khó biết Lý Trần chuyện thuở xưa,


Ba trăm năm cũ đến bây giờ.


Chia hai nước lũy thành cô quạnh,


Một cửa quan trông vạn núi mờ.


Nghe tiếng đồn sai nơi đất vắng,


Mới biết trời gần thắm móc mưa.


Ngoãnh lại  mây xanh trông cửa khuyết.


Bên tai nghe tiếng nhạc cung vua.


Nhất Uyên dịch thơ


Nguyên tác phiên âm Hán Việt:


TRẤN NAM QUAN


Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,


Tam bách niên lai trực đáo câm (kim).


Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện,


Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm.


Địa thiên mỗi vị truyền văn ngộ,


Thiên cận tài tri giáng trạch thâm.


Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,


Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.


                Trước đó triều đình ta gửi thông điệp cho Tổng Đốc Quảng Tây thông báo việc gửi sứ bộ triều cống. Bên Trung Quốc, tổ chức hành trình từ Quảng Tây đến Bắc Kinh, chọn ngày lành tháng tốt đểđi qua ải. Đến ngày hai quan đại diện văn võ từ Thái Bình Phủ đến mở cửa Ải Nam Quan. Xưa Mã Viện có dựng cột đồng nơi này “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ  diệt”. Người Việt Nam qua đó đều vất đá vào trụ đồng cho khỏi ngã, vàđáđã lấp mất trụ đồng.


 


                Ngô Thời Vị trong dẫn nhập bài thơ Trấn Nam Quan đã tả cảnh năm 1807 như sau: “Cửa ải ở đầu địa giới tỉnh Quảng Tây. Cửa một tầng xây bằng những phiến đá. Hai bên tả hữu có hai ngọn núi đối nhau. Ở trên mỗi ngọn núi đều có cắm một lá cờ trắng đề bốn chữ ‘ Trấn Nam Đại Quan’ (Cửa lớn Trấn Nam). Đằng trước cửa giáp với đài Ngưỡng Đức nước ta, đằng sau cửa có một đồi tức làĐài Chiêu Đức, nơi sứ thần đốt hương bày đồ cống. Cửa ải chỉ mở những ngày Hội đồng giao tế. Khi mở đầu tiên nổ ba phát súng, rồi viên quan coi cửa cầm cờ vàng mở khóa. Trong cửa bọn thơ lại và lính tráng giao gậy vào nhau, ngăn lính kỵ mã theo sau, bắt dừng lại, đợi sứ bộ tiến qua: cuối cùng họ quay lại đóng cửa.”  ( Ngô Văn Gia phái.  Hà Sơn Bình, 1980 tr 182). Tất cả lính tráng, phu dịch Việt Nam đều dừng lại ở cửa ải. Từ Nam Quan đến Bắc Kinh việc hộ vệ và  chuyển dịch đồ phẩm vật do Trung Quốc phụ trách. Chìa khóa mở cửa to bằng bắp vế và dài một thước tây. Buổi lễ có nhạc lễ cử lên long trọng, cờ phướng treo khắp nơi.


 


                Sứ bộ theo Tổng Đốc và Đề Đốc nhà Thanh đến Mạc Phủ. Nơi đây sứ bộ được đón tiếp long trọng. Mặc Phủở gần Bằng Tường thuộc Nam Ninh(Namning), Quảng Tây Trung Quốc, nhà tiếp đón gồm năm gian nhà rộng. Bằng Tường, xưa là thành Thụ Hàng. Nguyễn Du làm các bài thơ: Mạc Phủ tức sự. Nơi tướng võ làm việc trấn Ải Nam Quan.  Suốt đêm tiếng thanh la chẳng tạm dừng. Ngọn đèn côđơn đối bóng mình cho đến sáng.  Qua mấy tuần xa nước, lòng như chết rồi. Dọc đường gặp toàn người lạ mặt. Đường chân núi đầy bùn sâu ngập cả chân ngựa. Yêu quái ẩn nấp lâu đời trong khe suối đã thành tinh. Nguồn cảm xúc của lữ khách nơi đây thật là vô hạn. Lại còn muôn dậm đường đi nữa mới tới được non Yên. (Bắc Kinh)


TỨC CẢNH Ở  MẠC PHỦ


Thanh la vang vọng suốt đêm thanh,


Đối bóng đèn khuya đến rạng đông.


Xa nước mấy tuần buồn như chết,


Gặp người một lối chẳng quen mình.


Đường non ngập lún bùn chân ngựa,


Khe suối bụi lùm hóa quái tinh.


Nỗi khách chốn này buồn biết mấy.


Yên sơn muôn dậm lại đăng trình.


Nhất Uyên dịch thơ


Nguyên tác phiên âm Hán Việt


MẠC PHỦ TỨC SỰ


Triệt dạ thanh la bất tạm đình,


Cô đăng tương đối đáo thiên minh.


Kinh tuần khứ quốc tâm như tử,


Nhất lộ phùng nhân diện tẫn sinh.


Sơn lộc tích nê thâm một mã,


Khê tuyền phục quái lão thành tinh.


Khách tình chí thử dĩ vô hạn,


Hựu thị Yên Sơn vạn lý hành.


Hôm sau sứ bộ qua thành Bằng Tường đến trưa thì đến dinh Quỳ Đạo sau đó đến thôn Huống thì vừa canh Hợi.


8-4 năm Quý Dậu  (1813) . Sứ bộ xuống thuyền đi trên sông Ninh Giang, hai quan hộ tống đi mười dậm, có tiếng súng tiếng thanh la đưa đón,  Nguyễn Du viết  bài  Minh Giang chu phát: Minh Giang là tên con sông phát nguyên từ núi Phân Mao huyện Khâm tỉnh Quảng Đông chia làm hai ngã, một ngã chày theo hướng Băc, một ngã chảy ra hướng Nam đổ ra Vịnh Bắc Bộ. Ngả này là con sông chia ranh giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Sứ bộđi qua sông này lên phía Bắc Trung Quốc. Bắt đầu ra cửa sông, tiếng tiêu, tiếng trống ầm ĩ. Con thuyền lướt nhanh giữa lòng muôn rặng núi. Mây nổi chợt tan dáng núi gầy đi ; Lụt mới đổ về nước sông đục ngầu. Sau khi chia tay trên bước đường quan san nhớ đến em trai em gái. Nhìn giữa đá núi như trông thấy đàn con cháu. Mặt trời đã xế chớ vượt qua núi Hoa Sơn ( thuộc Quảng Tây). Sợ nghe tiếng vượn kêu buồn đứt ruột.


ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG MINH GIANG


Kèn trống vang vang tiễn cửa sông,


Một thuyền lướt nhẹ giữa ngàn non.


Mây tan núi hiện chơ vơ đá,


Lụt mới sông dâng cuốn cuộn giòng


Vời ngóng quê, em trai với gái,


Đá lô nhô,  ngỡ cháu cùng  con.


Xế chiều đừng vượt Hoa Sơn nữa,


Sợ tiếng vượn kêu tê tái lòng.


Nhất Uyên dịch thơ


Nguyên tác phiên âm Hán Việt:


MINH GIANG CHU PHÁT


Tiêu cổ đông đông sơ xuất môn,


Vạn sơn trung đoạn nhất xà bôn.


Phù vân sạ tán thạch dung sấu,


Tân lạo sơ sinh giang thủy hồn.


Biệt hậu quan sơn tư đệ muội,


Vọng trung nham tụ kiến nhi tôn.


Nhật tà mạc hướng Hoa Sơn quá,


Phạ hữu thanh thanh trường đoạn viên.


                                Trên thuyền Nguyễn Du còn viết các bài: Hoàng Sào binh mã, Minh Ninh giang chu hành, Vọng Quan Âm miếu, Tam Khẩu đường dạ bạc. Đến phủ Thái Bình, có tiệc tiếp rước và hành lễ, tiệc quan nghỉ lại đêm, nơi đây Nguyễn Du viết bài Thái Bình thành hạ văn  suy địch và Thái Bình mại ca giả. Hôm sau đi  thuyền đến thành Tây Ninh và đến thành Nam Ninh nghỉ vài ngày. Sau đó đến trạm Vĩnh Thuần, tiếp rước trên  bến: Tiếng ca dậy đất, đèn lầu giải sao (Nguyễn Tông Khuê). Đoàn thuyền qua than Long Mẫu, có nhiều đá ngầm nguy hiểm, dừng chân trạm Hoành Châu, mua sắm các sản vật để sứ đoàn dùng. Sau đó đoàn thuyền vượt  ba mươi dậm núi Ngũ Hiểm có các cửa Hổ Cứ, Long Môn, Quái Xá, Chuyển Thổ, Lập Bích. Nơi đây có Miếu Phục Ba thờ Mã Viện. Đến thôn Bạch Mã dừng chân , nơi đây là đất nhiều tay  văn chương kiệt hiệt:  nơi quê hương của  Trạng Nguyên Lường Tung thời Ngũ Đại, quan Thượng Thư Tống Kỷ đời Tống có bài Ngọc Lậu xuân từ nổi tiếng.. Nơi đây là núi Ngũ Lĩnh, năm ngọn núi cao ranh giới phía Nam Trung Quốc. Hôm sau đoàn thuyền đi qua Huyện Đằng dừng chân ở trạm Trường Châu.


 


2-5 Quý Dậu  (1813)  đến thành phủ Ngô Châu ( Vũ Châu) Nơi đây ngã ba nhánh sông,  sứđoàn đi ngược giòng Quế Giang: Đất tiên bến ngọc sông vàng, Người hoa cỏ báu phong quang có thừa (Nguyễn Tông Khuê)  Trung Quốc có câu: Quế Lâm cảnh đẹp nhất trần gian. Nơi đây dọc theo sông Lý (Lijiang) , hai bên bờ là núi đá vôi, cảnh vật như Bích Động, Hoa Lư nước ta. Nơi đây xuất phát các tranh thủy mặc Trung Quốc. Tôi có đến thăm vùng này trong bốn ngày, nơi đây có dân tộc Choáng,(ta gọi người Nùng hay người Nông) dân thiểu sốđông nhất Trung Quốc 15 triệu còn giữ tiếng nói, tiếng Việt cổ thời Việt Vương Câu Tiễn, Triệu Đà, cảnh sắc, phong tục  hoàn toàn giống miền Bắc nước ta cũng trồng lúa nước, người nông dân với chiếc cày, nón lá bằng tre, và  lũy tre làng, câu đối đỏ hai bên cửa nhà, khắp nơi. Các hình ảnh chim lạc, trống đồng được khắc các khách sạn làm biểu tượng cho vùng.. Đất Quế Lâm có ngàn ngọn núi đá vôi. Ngọc Duẩn và Dao Sâm là những ngọn đẹp nhất thiên hạ. Tùy theo hình dạng núi được đặt tên, có ngọn giống như Quan Âm bế đồng tử, có ngọn vách núi như một bức tranh vẽ bầy ngựa chạy.. Đi thuyền suốt buổi trên sông Lý Giang hai bên đều là cảnh núi đẹp. Ngư dân trên sông nuôi loài ngỗng đen (comoran) để bắt cá.  Nơi đây còn có thành cũ của Việt Vương Câu Tiễn. Độc Tú Sơn có tháp khắc chữ Kình Thiên (Cột chống trời). Núi Phục Ba cóđá thử kiếm, có động rỗng chứa được nhiều giường. Trong động còn có động Lưu Tiên, đời Tống có họ Lưu tu tiên đắc đạo ở đấy. Nơi xưa có Gia Cát Lượng từng đăng sơn để chỉ huy quân lính. Có ngòi Linh Cừ tục truyền do Mã Viện đào.


 


5-7 Quý Dậu:đến Quế Lâm (Guilin), thủ phủ Quảng Tây, Nguyễn Du viết các bài thơ: Quế Lâm công quán.


 


                Nguyễn Du đã từng đến Quế Lâm năm 1788, thăm thành cũ Nguyễn Du nhớông Cù Thức Trĩ mà viết bài Quế Lâm  Cù Các Bộ.Ông làm Đông Các Đại Học Sĩ. Các Bộ là danh hiệu gọi tắt chức tước của ông. Đỗ Tiến sĩ đời Minh Vạn Lịch. Đời Sùng Trinh giữ chức Tuần Phủ Quảng Tây. ? Sau khi nhà Thanh gốc từ Mãn Châu phía Bắc chiếm hết vùng Trung Nguyên. Quế Vương cháu Minh Thần Tông xưng đếở Triệu Khánh (thuộc Quảng Đông) phong Thức Trĩ làĐại Học Sĩ. Sau Quế Vương thất bại chạy lên Vân Nam. Thức Trĩ cố giữ thành Quế Lâm. Thành bị hãm, ông tuẫn tiết. Nhà Thanh chiếm được Trung Quốc bắt dân phải thắt tóc tết đuôi sam, theo kiểu nhà Thanh. Thức Trĩ trọn lòng trung để tóc dài, chứ không chịu cạo đầu để chút tóc thắt đuôi sam. Đại thế Trung Nguyên đã sụp đổ rồi. Ông vẫn dốc sức giữ toà thành trơ trọi để khống chế một phương. Suốt ngày trước cái chết lòng không nao núng. Nghìn thu nằm dưới đất tóc vẫn dài. Tông miếu xã tắc nhà Minh suy tàn, đầy cỏ thu. Non sông đất Toàn Việt (Mân Việt:Triết Giang, Phúc Kiến) và Lưỡng Việt (Quảng Đông, Quảng Tây) đều nhuộm bóng chiều. Ai cũng bảo nước Trung Hoa trọng tiết nghĩa. Sao ởđây hương khói lại lạnh lẽo thế này ? Nguyễn Du quên mình đang ở thời nhà Thanh, mà Cù Thức Trĩ là người nhà Minh chống lại nhà Thanh. Bài này Nguyễn Du viết năm 1788 khi đi thăm Quế Lâm một mình, nhà thơ mang tâm sự trước cục diện nhà Trịnh nhà Lê hoàn toàn sụp đổ, sau khi khởi nghĩa Thái Nguyên bị thất bại. Tôi đã đến Quế Lâm thăm Lăng mộ, thành cũ nhà Quế Vương được tô vẽ, chăm sóc, ngày nay mở cho du khách. Nhưng thời nhà Thanh đây là mộ những kẻ chống lại triều đình, nên không ai dám thăm viếng nên lạnh khói hương, tiêu điều. Thời Nguyễn Du, năm 1813, không có lý do gì  các quan nhà Thanh lại dẫn sứ bộ Việt Nam mới đến Trung Quốc thăm di tích giặc tàn nhà Minh chống lại triều đại mình.


ÔNG CÁC Bộ HỌ CÙỞ QUẾ LÂM


Trung nguyên thế lớn đã tan tành,


Kiệt sức thành cô giữ một phương.


Kề chết suốt ngày không núng thế,


Dưới mồ ngàn thuở tóc còn nguyên.


Nhà Minh xã tắc thu xanh cỏ.


Đất Việt non sông bóng tịch dương.


Trung Hoa vốn trọng người nhân nghĩa,


Sau ở nơi đây lạnh khói hương.


Nhất Uyên dịch thơ


Nguyên tác phiên âm Hán Việt


QUẾ  LÂM CÙ CÁC Bộ


Trung Nguyên đại thế dĩ đồi đường,


Kiệt lực cô thành không nhất phương.


Chung nhật tử trung tâm bất động,


Thiên thu địa hạ phát do trường.


Tàn Minh miếu xã thu đa thảo,


Toàn Việt sơn hà tận tịch dương.


Cộng đạo Trung Hoa thượng tiết nghĩa;


Như hà hươnghỏa thái thê lương ?


Bài Quế Lâm Công Quán. Nguyễn Du viết năm 1813, rõ ràng vìđi sứ mới được ở công quán. Quế Lâm là xứ rất nhiều muỗi, năm 2009 khi chúng tôi  vừa bước ra phi trường chưa kịp lên xe ca, là cả bầy muỗi đến tấn công, mặc dù đề phòng trước  xức thuốc chống muỗi, đúng như Nguyễn Du tả: Màn thưa muỗi réo quanh.


TRONG CÔNG QUÁN Ở QUẾ LÂM


Cỏ dại đầy đóm đóm,


Thềm vắng đêm mát thanh.


Đèn lạnh bóng ma quái


Màn thưa muỗi vo quanh.


Nỗi buồn xuân chẳng đến,


Lần lửa tuổi già nhanh.


Tiếng ốc bên thành vẳng,


Tàn canh nói một mình.


Nhất Uyên dịch thơ


Nguyên tác phiên âm Hán Việt


QUẾ LÂM CÔNG QUÁN


Hoang thảo nhạ lưu huỳnh,


Nhàn giai dạ khí thanh.


Hàn đăng lưu quỉ ảnh,


Hư hướng tụ văn thanh,


Lao lạc xuân vô phận,


Sa đà lão tự kinh.


Thành đầu văn họa giác,


Tự ngữ đáo thiên minh.


18-7 . Từ Toàn Châu đến Trường Sa, tỉnh lỵ Hồ Nam. Toàn Châu cách Quế Lâm 125 km, nay là Toàn Huyện ở phía Bắc tỉnh Quảng Tây về phía thượng lưu sông Tương. Có Ngũ Lĩnh năm ngọn núi lớn có năm đèo vượt qua dải núi dài phía Nam Trường Giang mà xuống miền Nam Trung Quốc. Danh nhân Toàn Châu có hai anh em họ Tưởng: Tưởng Thăng và Tưởng Miêu đều làm quan to. Nơi đây có chùa Tương Sơn. Trần Huyền Trang đời Đường, người sang Ấn Độ thỉnh kinh cuối đời tu và thành lập cảnh chùa này, khi mất được xưng tụng là Phật Vô Lượng. Châu thân được thành tượng táng, một đêm châu thân bị lửa bốc cháy hết. Ngôi chùa xây dựng trải đã nghìn năm, có bảng sơn son ghi Đệ Nhất Thiền Lâm.  Năm 1789 Nguyễn Du có đến trú ngụ tại nơi đây trên đường giang hồ. Bài thơ Vọng Tương Sơn Tự có câu: Cô chu lan thượng bằng lan xứ (Đứng dựa lan can chiếc thuyền cô đơn trên sông). Khi đi sứ Nguyễn Du không đi trên một chiếc thuyền cô đơn, có thể đứng dựa lan can mà làm thơ ; mà đi với một đoàn thuyền cờ trống, đám rước, quan quân, lính hộ vệ hàng trăm người,  huyên náo om xòm.


 


Đến Vĩnh Châu.  Có ba dòng sông Tương: Tiêu Tương, Chung Tương và Nguyên Tương. Sông Tương nguồn ở huyện Hưng An Tỉnh Quảng Tây, chảy về phía bắc đến huyện Linh Lăng, tỉnh Hồ Nam có sông Tiêu chảy vào, nên gọi là sông Tiêu Tương. Chảy về đông bắc hợp với sông Chung ở huyện Hành Dương thành sông Chung Tương, lại chảy về Bắc, khúc hạ lưu hợp với sông Nguyên mà thànhsông Nguyên Tương. Cả ba gọi là Tam Tương .  Vĩnh Châu có nhà cũ của Liễu Tử Hậu tức Liễu Tông Nguyên (773-819) người Hà Đông (nay thuộc huyện Vĩnh Tế Sơn Tây) Tác phẩm Liễu Hà Đông tập gồm 45 quyển. Ông từng làm Thứ sử Liễu Châu, nên còn gọi là Liễu Liễu Châu, tự Tử Hậu, đỗ Tiến Sĩ năm 21 tuổi. Làm quan chủ trương cải cách triều chính, cải thiện đời sống dân chúng, hạn chế đặc quyền hoạn quan, đại quí tộc, chống tham ô đang cầm quyền. Nên làm quan bị đày nơi xa, ông chết tại Liễu Châu. Ông là một đại gia trong phong trào vận động cổ văn đời Đường, nổi tiếng về tản văn và thơ phê phán xã hội sâu sắc và nghệ thuật tinh tế điêu luyện. Bài văn kể chuyện người đàn bà  bắt rắn, nhiều người trong gia đình bị rắn cắn chết, nhưng vẫn tiếp tục bắt rắn, vì sợ sống với quan lại tham nhũng còn hơn  cả  hơn rắn độc.


 


                Nguyễn Du qua đây viết bài  Vĩnh Châu Liễu Tử Hậu cố trạch ; Mây nổi trên núi Hành, sóng gợn trên sông Tiêu . Nhà cũ  của Liễu Châu có phải nơi này không ?  Một tấm thân bị ruồng đuổi ra sáu nghìn dậm xa. Văn chương để lại nghìn đời thuộc tám văn hào lớn. Như người thợ ngón tay bầm máu, mặt đẩm mồ hôi, khổ đã tột bực vậy. Khe nước trong, hàng cây đẹp cũng mang tiếng ngu lây biết làm sao được. Thuở trẻ ta cũng có tài ví như cây gỗ tốt. Nay đầu bạc chỉ luống tự than vãn trước gió thu.


NHÀ CŨ LIỄU TỬ HẬU Ở VĨNH CHÂU


Núi Hành mây nổi sóng sông Tiêu,


Có phải nhà xưa của Liễu Châu.


Ruồng rẩy một thân đày vạn dặm,


Tiếng tăm ngàn thuở tám văn hào.


Máu bầm,mặt đẫm trong cùng khổ,


Cây đẹp, khe trong tiếng dại đầu.


Ta trẻ tưởng tài như gỗ quý,


Bạc đầu than vãn gió thu sầu.


Nhất Uyên dịch thơ


Nguyên tác phiên âm Hán Việt:


VĨNH CHÂU LIỄU TỬ HẬU CỐ TRẠCH


Hành Lĩnh phù vân, Tiêu thủy ba,


Liễu Châu cố trạch thử phi da ?


Nhất thân xích trục lục thiên lý,


Thiên cổ văn chương bát đại gia.


Huyết chỉ hãn nhan thành khổ hỹ,


Thanh khê gia mộc nại ngu hà.


Tráng niên ngã diệc vi tài dã,


Bạch phát thu phong không tự ta.


                Trường Sa (Changsha): Thủ phủ tỉnh Hà Nam ở hạ lưu sông Tương Giang. Thời Tam Quốc là mộtchiến trường ác liệt.  Năm 1165 Triết gia Chu Hi giảng dạy ởđây. Giả Nghị từng làm chức Thái Phó nơi này. Mao Trạch Đông cũng bắt đầu sự nghiệp nơi này. Nơi đây có sông Mịch La nơi  thi hào Khuất Nguyên tự vẫn tại Long Chủy có nơi thờ ông. Nơi đây Nguyễn Du viết Tương Giang dạ bạc. Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu. Phản Chiêu hồn, Biện Giả. Trường Sa Giả Thái Phó. Sơ thu cảm hứng, Sở Vọng.


 


                Đêm đậu thuyền trên sông Tương, nhớ cảnh cũ năm 1788 Nguyễn Du đã đi qua, ông viết: Đi một mạch hơn sáu mươi dậm đường, sông nước dài dằng dặc. Sông Tương dài 856km bắt nguồn từ Lâm Quý, Quảng Tây, đến Tương Âm phân làm hai dòng chảy  vào Hồ Động Đình. Các đoàn sứ Việt Nam đều đi con đường này. Đường thủy đi tiện lợi, hơn đường bộ, thời xưa chưa có cầu, phải qua đò ngang mỗi khi qua sông, mỗi lần qua chuyển vận đồ cống phẩm lên xuống vất vả. Mây nổi che liền năm ngọn núi lớn miền Nam Trung Quốc. Trăng sáng nơi ba con sông Tương hợp lại. Nơi phố cũ cảnh đã đổi thay, sau 23 năm trở lại. Vời trông phía trời xa đâu cố hương. Hạc đến từ lầu Hoàng Hạc người không thấy, chỉ thấy cây tùng, bách chiều cuối thu vẫn xanh ngắt một màu.


ĐÊM ĐẬU THUYỀN TRÊN SÔNG TƯƠNG


Một mạch sáu mươi dậm,


Trôi trôi sông mênh mông.


Mây nổi che Ngũ Lĩnh,


Trăng sáng hợp Tam Tương.


Bến biệt cảnh đổi mới,


Vời trông xa cố hương.


Hạc đến người không thấy,


Cuối thu cứ xanh rờn.


Nhất Uyên dịch thơ


Nguyên tác phiên âm Hán Việt:


TƯƠNG GIANG DẠ BẠC


Nhất khứ lục thập lý,


Du du giang thủy trường.


Phù vân liên Ngũ Lĩnh,


Minh nguyệt hội Tam Tương.


Biệt phố phân tân sắc,


Dao không thất cố hương.


Hạc lai nhân bất kiến,


Vãn thu uất thương thương.


                Đến khúc hạ lưu sông Tương, hợp với sông Nguyên thành sông Nguyên Tương. Nguyễn Du viết bài Tương Đàm điếu Tam LưĐại Phu, tức Khuất Nguyên. Người ham muốn tu dưỡng đức tốt đã ra đi hơn hai ngàn năm.Đất này còn nghe thoang thoảng mùi hương của hoa lan hoa chỉ. Bịđuổi xa tổ quốc ba năm khôn xiết đau buồn. Muôn đời Sở Từ vẫn làáng văn chương tuyệt tác. Trên sông đầy cá rồng (giao long), năm xương tàn không còn nữa. Bên bãi sông chòm đỗ nhược có thêm những giống hoa thơm.  Nhìn hết tầm mắt chẳng biết dầu tích vết cũ nơi nào. Chỉ thấy gió thu thổi lá rụng qua sông Nguyên Tương.


(còn tiếp 1 kỳ)


PTC


 


vanhoanghean

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
“Tụng giá hoàn kinh sư” bài thơ chói ngời khí phách, khát vọng Việt - Trầm Thanh Tuấn 21.05.2018
Võ Phiến: Đọc: “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta” (1974 ) - Võ Phiến 17.05.2018
Một giả thiết khác về hành trình đi sứ của Nguyễn Du năm 1813 - 1814 - Nohira Munehiro 15.05.2018
Theo hành trình Nguyễn Du Bắc Hành Tạp Lục: Thơ đi sứ năm 1813 và những bài thơ được sáng tác trong thời gian đi giang hồ (1787-1790) (1) - Phạm Trọng Chánh 15.05.2018
Thi ca Việt Nam qua những miền kinh tuyến - Khuất Bình Nguyên 02.05.2018
Nhà thơ Ngô Thế Oanh: “Mưa đập mãi trên những cơn mất ngủ” - Nguyễn Việt Chiến 02.05.2018
Nhà văn, Dịch giả Phan Quang: tác phẩm, nhân cách, tấm lòng - Triệu Xuân 22.04.2018
Truyện Tỳ Bà, từ Trung Quốc vào Việt Nam - Lại Nguyên Ân 19.04.2018
Sự có mặt của Nguyễn Bính - Lại Nguyên Ân 19.04.2018
Nhớ về Maxim Gorky - Nguyễn Văn Chiến 12.04.2018
xem thêm »