tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Doanh nghiệp Sách Thành Nghĩa TP. Hồ Chí Minh

 

 

Nhà hàng Việt Phố

 

Khách thăm: 12487414
Thơ
09.03.2012
Nguyễn Thụy Kha
Trường ca: Màu Quảng Trị

 I. CÁT TRẮNG


Có một mùa hè


Mùa hè 1972


Cát trắng Quảng Trị in bóng những người lính trẻ măng trinh trắng


Những người lính đôi mươi, mười tám


Từ những miền quê phương Bắc tụ quần


Họ nói cười họ hát vang vang


Những hành khúc ra trận


Cát trắng nơi đây ngàn năm xưa cũng đã từng in bóng


Những người lính thời Lý vàng son


Cát trắng nơi đâu từng thấm nước mắt công chúa Huyền Trân


Cuộc hợp hôn thu Châu Ô, Châu Lý về tay Đại Việt


Cát trắng nơi đây bắt đầu chứng kiến cuộc hòa huyết


Đại Việt với Chăm Pa


Cát trắng phau muối trắng mặn hạnh phúc lẫn xót xa


Đã tạc nên gương mặt tổ tiên kiêu hãnh


Cát trắng vun lên những huyền thoại bi tráng


Suốt cuộc hành trình mở nước về Nam


Cát trắng vun lên một Ái Tử kiên gan


Đoan Quận Công Nguyễn Hùng thao lược


Người tuốt kiếm từ khát khao mơ ước


Lật ra trang sử mới huy hoàng


Từ lời khuyên thần diệu Trạng Trình


“Hoàng Sơn nhất đái


Vạn đại dung thân”


Cát trắng luồn trong gió biển miền Trung


Thổi dựng những Vĩnh Linh, Gio Linh, Đông Hà,


Cam Lộ, Hải Lăng, Triệu Phong


Thổi ra biển thành đảo Cồn Cỏ


Thổi lên rừng làm ra Đăkrông, Hướng Hóa


Thổi ngược sông Gianh sừng sững Lũy Thày


Ôi cát trắng Quảng Trị có một ngày ai hay


Hai bờ ôm một Hiền Lương giới tuyến


Giới tuyến ấy chảy một dòng oán hận


Khi cát trắng bờ Nam hóa một vành đai trắng


Một hàng rào điện tử Mắc Na Ma Ra


Cát trắng, muối trắng trắng nhức vào câu hò


Nghe nghẹn nghẹn những tháng ngày chia cắt


Nghe sôi sục một sắt son thống nhất


Dục bàn chân những người lính lên đường


***


Họ như những cánh chim của rừng núi biên cương


Của Tây Bắc, Việt Bắc, Đông Bắc


Của đất Tổ, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Bắc


Họ là những cánh cò trắng châu thổ sông Hồng


Của Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình


Của đất Cảng Hải Phòng trắng những làn khói trắng


Của Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Nam


Của xứ Nghệ sông Lam Hà Tĩnh


Của Quảng Bình địa đạo Vĩnh Linh


Những cánh cò từ những cây sao đen


Phố Lò Đúc một ngày Hà Nội


Họ là cháu con những người lính Trung đoàn Thủ đô thuở ấy


Ba mươi sáu phố phường dâng chiến lũy hôm nay


Họ bay về phương Nam theo đội hình mùa hè 1972


Rầm rập cờ sao mang nắng vào Quảng Trị


Trong số họ có rất nhiều chiến sĩ


Rời cổng trường đại học ra đi


Xếp nút nghiên như ngày chống Pháp năm xưa


Họ vào trận mang theo bao khát vọng


Khát vọng trong trắng tâm hồn trong trắng và máu họ cũng trắng phải không


Họ thảnh thơi không hề biết sợ giữa trùng điệp đoàn quân


***


Đấy là Nguyễn Thế Thường, Phạm Hải Triều,


Hoàng Nhuận Cầm, Phùng Huy Thịnh khoa ngữ văn


Đào Chí Thành, Trần Quốc Hoàng khoa toán Đại học Sư phạm


Lê Việt đại học Kinh tế Quốc dân


Lê Trí Dũng, Phạm Mai Châu, Lê Duy Ứng Đại học Mỹ thuật


Nguyễn Văn Bằng Đại học Bách Khoa


Hoàng Trần Cương Đại học Tài Chính


Đấy là … đấy là … đấy là


Tất cả đều gọi chung là lính sinh viên


***


Tất cả đều tụ quần về ga Hàng Cỏ


Họ thả lại Hà Nội những lá thư chia tay những rừng bướm trắng


Bay dọc Trần Phú, Điện Biên, Nguyễn Thái Học, Cửa Nam


Tất cả đều dừng chân tại ga Quán Hành


Rồi lớp lớp vừa đi vừa hát


Họ gửi lại những tình yêu, những lời thề thốt


Gửi lại phía sau cả trinh trắng đời mình


Chân họ in trên cát trắng Quảng Bình


Người thì tới bên bờ Bến Hải


Người rẽ lên Trường Sơn bỏng rẫy


Cứ nói cười những nụ cười trắng trong


Đèo dốc đã qua đêm mắc võng giữa rừng


Tất cả cùng hướng về Quảng Trị


Tất cả đều nhận cảm những gì lớn lao tổ quốc đặt nặng vai thế hệ


Biết ra đi rất có thể không về


Thì không chỉ bóng mình mà cả chính thân thể mình cũng thế


Sẽ hòa vào cát trắng vô danh


Sẽ lặng im như hạt cát chân thành


Góp vào đấy một nho nhỏ dị biệt


Góp vào đấy những gì thiêng liêng nhất


Thiêng liêng như lịch sử chúng ta


Họ cứ âm thầm đi để nhận vào mình bão táp phong ba


Bóng họ thấm vào cát trắng


Tinh thần họ cứ bay cùng mây trắng


Hồn vía cha ông tiên tổ cũng dõi theo


***


Có phải không vì biển ở đây, ở Quảng Trị quá cuồng yêu


Đã xô dạt vào bờ mênh mang cát trắng


Lời tình yêu thiên nhiên hòa tình yêu con người nằng nặng


Đã vun lên Quảng Trị kiên cường


Đã làm nên một giao hưởng vô cùng ý chí Việt Nam


Giao hưởng cát trắng những cánh buồm trăng trắng


II. ĐẤT ĐỎ


Từ tạo sơn núi lửa thạch nham


Đất nơi đây đã là đất đỏ


Đất nơi đây đỏ hơn vì máu đổ ra những cuộc chiến tranh


Đến mùa hè 1972 thì đất nơi đây hóa thành siêu đỏ


Chẳng thể nào đỏ hơn được nửa


Đất nơi đây Quảng Trị nơi đây


***


Đất nơi đây bắt đầu đỏ hơn trước đây


Trưa những người lính bắt đầu vượt qua dòng sông giới tuyến


Cả một hàng rào Mắc ra ma ra dằng dặc chết lịm


Dốc Miếu, Đầu Mầu, Ba Hồ, Đồi Tròn, Tân Lâm, Cam Lộ điểm cao 544


Đất nơi đây đỏ hơn vì máu và lửa đạn bom lẫn lộn


Đông Hà, Cầu Dài, Lai Phước, Ái Tử, Thành Cổ, La Vang


Đất nơi đây đỏ ra tận Hải Phòng


Ngày chủ nhật đẫm máu


Đất nơi đây đỏ tới tận bàn thờ những căn nhà yêu dấu


Nơi ra đi của những tân binh mười tám, đôi mươi


Những giọt máu trong trắng đỏ tươi


Nhuộm đỏ Hiền Lương, sông Hiếu, Thạch Hãn


Nhuộm đỏ cả trời xanh


Nhuộm đỏ sang cả Paris bàn đám phán bốn bên


Nhuộm đỏ cả những đoàn biểu tình đất Mỹ


Nhuộm đỏ vào ý chí


Nhuộm đỏ thời gian nhuộm đỏ không gian


Máu người máu ta máu bao dân lành


Hoen đỏ tới cả dòng Mỹ Chánh


***


Máu đỏ thắm cờ bay đỏ thắm


Đêm giải phóng niềm vui mênh mang


Bỗng nhớ về khoảng trời đi học


Khi đọc nơi đây “Cổ học tinh hoa”


Không gian căn nhà chật hẹp bao chồng sách


Bỗng nhớ quê hương khi đọc “Thương nhớ mười hai”


Có thời gian nhỏ chậm giọt giọt cà phê


Có không gian ám ảnh gương mặt em giận dỗi


Đến khi rời giảng đường, thày giáo và sinh viên


Đều là binh nhì, đều là bộ đội


Mới thoát ra những nhỏ hẹp xưa kia


Cuộc đời rộng rinh ý nghĩa lớn vô bờ


Khi được bên nhau được là người trong cuộc


Cả sung sướng, khổ đau, mất mát


Nước mắt, nụ cười trả bằng giá máu những ai


Nào ngờ vào Quảng Trị được uống bia Lave


Được đọc “Bác sĩ Jivago” của Pác Tê Nác


“Chùm nho nổi giận” của Sten-bếch


“Tội ác và trừng phạt” của Đốt stôi ép xki


Từ điển Pháp – Anh vãi vương nhặt lấy đi


Để biết đâu sẽ trở về, có lúc


Vào Quảng Trị mà như bước sang một đất nước khác


Dù đất dưới chân vẫn đất ngàn năm đỏ máu Việt Nam


Vào Quảng Trị để ngắn dần ngày thống nhất


Dẫu hy sinh thịt nát xương tan


***


Khi lịch sử chúng ta không chấp nhận cắt chia


như Bắc Triều Tiên – Nam Hàn


Càng không chấp nhận có Đông Berlin – Tây Berlin


và Đông Đức – Tây Đức


Thì Quảng Trị giới tuyến chính là nơi đối đầu, khốc liệt


Pháo chụp hạm đội Mỹ ngoài biển dội vào Thành cổ băm nát từng ngày


Bom dù máy bay Mỹ trên trời cao dội xuống Thành cổ băm nát từng giây


Lịch sử ngẫu nhiên lại lặp lại cuộc trụ bám Thành cổ Quảng Trị


mùa hè 1972 như cuộc trụ bám Hà Nội mùa đông 1946


Những căn nhà gục ngã gạch chảy ra như máu


Những tường thành đổ xụp gạch chảy ra như máu


Máu thì dựng lên che chở đất vừa giành về mình


Dù đất đỏ nhức vụn ra thành bụi đỏ bám vào áo xanh


Những người lính vẫn đứng chân Thành cổ


Những người lính từng ngày vẫn vượt sông


Thay những tay súng từng ngày thưa dần


Cái bến Vượt đến con đò cũng đỏ


Từ cái bến Vượt thôn Đầu Kênh bé nhỏ


Lịch sử cứ trườn chậm chạp qua mỗi giờ


Trườn từ mùa hè sang đến mùa thu


Trườn qua máu 81 ngày đêm trụ bám


81 ngày đêm màu thời gian nhuộm thắm


Không gian nhờ nhờ màu đen, màu tang


Mất mát chất chồng ở trên thua, thắng


***


Ở Quảng Trị những ngày này tìm sự vụn tan, sự mong manh dễ lắm


Tìm sự vẹn nguyên có khi chỉ còn nụ cười binh nhì


Mười tám, đôi mươi trong veo như mưa


Ngã xuống thì nhập ngay về đất đỏ


Còn đứng chân thì vẫn đùa cười hồn hậu


Nụ cười càng trắng tinh giữa máu đổ, lửa thiêu


Mười tám, đôi mươi chưa hề biết yêu


Chỉ biết tự nguyện chết


Như biết yêu tha thiết


Lý tưởng thiêng liêng


Lý tưởng chưa phai nhạt


Ở Quảng Trị những ngày này gặp sự dũng cảm thường nhật


Bất kỳ đâu cũng chứng kiến anh hùng


Một Vũ Trung Thướng chốt ngã ba Long Hưng


Một Kiều Ngọc Luân tập kích Bích La đông


Một… và một… và một nhiều… ngỡ như vô tận


Những người lính bình dị mà thản nhiên xung trận


Những chỉ huy lẫn giữa lính khó nhận ra


Họ như từ đất đỏ đúc ra


Phút ngã xuống lại hóa thành đất đỏ


Họ vô danh để những địa danh bước vào bất tử


Nhan Biều, Trí Bưu, Chợ Sải, An Tiêm…


Họ chịu pháo dập, bom vùi nhưng vẫn bới đất tìm bé em


Có đứa trẻ Quảng Trị lớn lên từ đấy


Họ đói, họ khát, họ cầm hơi bằng lương khô, gạo sấy


Nhưng còn đứng chân thì Thành cổ vẫn còn


Họ là lính những sư đoàn lẫy lừng


304, 312, 320B, 325, 308


Bộ đội địa phương, thường dân và dân quân du kích


Đều giống nhau sức chịu đựng phi thường


Và bất chợt họ hát giữa chừng


Khoảng im lặng hiếm hoi giữa hai lần nổ súng


Họ ngâm thơ lúc bình minh chốt chặn


Họ vẽ tranh trước hoàng hôn nhá nhem


Người chụp ảnh rửa ảnh lúc vào đêm


Giữa khuya khoắt soi đèn pin trong hầm ghi nhật ký


Giữa toàn quân có hơn ngàn sinh viên làm chiến sĩ


Giữa Thành cổ ngàn chiến binh có bao nhiêu lính sinh viên


Hiện thực này khiến 81 ngày đêm trụ bám Thành cổ có ý nghĩa hơn


Có ý nghĩa như thời chiến tranh chống phát xít vang dội


Để đất đỏ Quảng Trị in dấu son vào thế giới


Trên hành tinh một vết sẹo đỏ câm


***


Sẹo của vết thương Thành cổ rộng hơn một cây số vuông


Chịu nhận vào mình bao nhiêu tấn bom, bao nhiêu tấn pháo


Chôn vùi bao nhiêu con người, thấm bao nhiêu lít máu


Sẹo làm bằng bạt ngàn hy sinh không tuổi, không tên


Và bằng cả những tuổi tên không thể nào quên


Sơn, Triệu, Tiến, Long, Tạo, Lâm, Chiến, Hùng,


Tuấn, Nguyên, Dũng, Dưỡng


Những cái tên gắn với bao miền quê vương vấn


Nông Quốc Dịch – Cao Bằng, Lùa A Vảng – Hà Giang, Dy Á Liên – Bắc Cạn


Nông Văn Chuyên – Lạng Sơn, Hồ Tắc Phù – Quảng Ninh


Nông Văn Thành – Lào Cai, Lý Văn Ánh – Yên Bái, Sa Đình Mạn – Phú Thọ


Hà Văn Hiến – Hòa Bình, Chu Văn Dịt – Thái Nguyên


Đàm Cường – Tuyên Quang, Hoàng Văn Séo – Vĩnh Phúc


Mẫu Xuân Nghĩa – Bắc Giang, Sài Văn Khái – Bắc Ninh


Đàm Văn Giang – Hải Phòng, Vũ Xuân Hiến – Hải Dương, Tạ Hữu Tý – Hưng Yên, Nguyễn Văn Bộ - Thái Bình


Hoàng Quốc Bảo – Hà Tây, Trần Mạnh Cường – Hà Nam, Nguyễn Văn Binh – Nam Định, Chu Kỳ Dự - Ninh Bình


Lê Binh Chủng – Nghệ Ạn, Mai Văn Đế - Hà Tĩnh, Nguyễn Xuân Thi – Quảng Bình


Trần Thị Tâm – Quảng Trị, Hoàng Hải Vân – Thừa Thiên


Hồ Công Anh – Đà Nẵng, Nguyễn Phương Đông – Quảng Nam, Lê Thanh Viễn – Quảng Ngãi


Lê Trung Nỉnh – Phú Yên, Đinh Huy Lục – Kon Tum


Y Đô, Đinh La – Gia Lai


Những giáo viên đại học binh nhì


An Văn Nhân, Lê Văn Thúc, Nguyễn Trọng Vinh, Nguyễn Đức Tiến


Biết bao những sinh viên binh nhì như Nguyễn Chí Thành


Nguyễn Kỳ Sơn, Nguyễn Văn Thạc ghi nhật ký, làm thơ


Lê Văn Huỳnh để lại lá thư tuyệt mệnh trong lòng đất


Lê Kim Thoại và Nguyễn Văn Ngọc


Từ căn hầm bị vùi lấp ở Như Lệ Tích Tường báo mộng, hiển linh


Khi hy sinh lớn quá sự hy sinh


Có thể nào nói cách nào cho hết


Vết sẹo ấy còn được làm bằng những phần xương thịt


Bao nhiêu thương binh để lại nơi đây


Cứ mùa thu đau buốt vò dày


Vết sẹo ấy còn hằn những đòn roi tra tấn


Những người lính bị đối phương bắt trong trận đánh


Đưa đi các nhà tù Côn Đảo, Biên Hòa


Họ tiếp tục phải trụ vững mình giữa chốn lao tù


Như trụ vững những ngày Quảng Trị


Để rồi mùa hè 1973 buộc đối phương phải trả về Quảng Trị


Họ lội qua Thạch Hãn vất quần áo tù giữa dòng


Mùa hè trước máu đổ, mùa hè này nước mắt tuôn


Khi ngã vào vòng tay đồng đội


Vết sẹo ấy còn là niềm nhức nhói


Của bao cựu binh Quảng Trị còn sống hôm nay


Họ chẳng thể nào thoát khỏi quá vãng này


Quá vãng binh nhì làm sẹo trong ý nghĩ.


III. CÂY XANH


 Thanh bình đã dần dà loang xanh Quảng Trị


Một màu xanh thân thuộc quê hương


Vĩnh Linh xanh nối liền Gio Linh xanh qua dòng xanh Hiền Lương


Xóa đi vết cắt chia giới tuyến


Một màu xanh chiến công của cuộc chiến tranh còn đang tiếp diễn


Giữa những người lính công binh với hàng rào điện tử Mắc Na ma ra


Họ đối chọi từng giờ với bom mìn lầm lì


Trả lại cánh đồng cho ngô, khoai, lúa


Máu đã nhuộm đỏ Thạch Hãn, Thành cổ


Giờ vẫn gieo mầm ươm mầu xanh hôm nay


Ai đến Hiền Lương sau năm 1972


Không thể nào nhận ra cánh đồng xanh Gio Linh xưa kia là hàng rào điện tử


Là lớp lớp kẽm gai, bom mìn dày đặc


Mà màu xanh thanh bình đã xóa dần đi


Màu xanh từ Trường Sơn tràn về


Trời lại xanh một màu xanh Quảng Trị


Những dòng sông xanh thảnh thơi ra với biển xanh


Cũng màu xanh, nhưng màu xanh ở Quảng Trị


khác bao lần màu xanh nơi khác


Bởi tất cả đều xanh lên từ máu xương đổ nát


Ngút ngàn xanh từ Hướng Hóa, Khe Sanh, Lao Bảo, Tân Lâm


Những rừng cây xanh, những vườn hồ tiêu xanh


Thứ hạt cay như chất người Quảng Trị


Ngút ngàn xanh từ Đắkrông, Cam Lộ


Những nương ngô xanh, những cánh đồng lúa xanh


Cát trắng, đất đỏ thấm máu lửa chiến tranh


Cùng hồi sinh càng thanh xuân trở lại


Càng xanh thẳm một màu xanh hy vọng


Rũ khổ đau xanh ngắt ước mơ xanh


Những đứa trẻ sinh năm 1972 được phục sinh như Trần Thị Trà Liên


Đã lớn dần trong màu xanh làng xóm


Đã đến trường trong màu xanh lời thày cô giảng


Và thoắt nhanh đã mười tám, đôi mươi


Như những binh nhì trụ bám năm 1972


Mang sức mạnh dựng xây cường tráng


Quảng Trị cứ thế sau chiến thắng 1975 chầm chậm


Dần dà loang xanh một sắc thanh bình


***


Sau chiến tranh những người lính còn vẹn nguyên


Người trở về nhà, người trở về giảng đường cũ


Người lại về Quảng Trị những tháng năm gian khổ


Cùng nơi đây ươm những mầm xanh


Họ cùng dân khai hoang trồng sắn Cồn Tiên


Họ lặn lội khắp nơi quy tập mồ liệt sĩ


Họ xây lên nghĩa trang Trường Sơn lặng lẽ


Dưới vòm xanh miền Bến Tắt thâm u


Họ xây lên nghĩa trang đường Chín giữa hoang vu


Họ kéo đường dây thông tin qua những vùng chiến địa


Cột đường dây cắm lên nhiều cao điểm


Cắm qua Lai Phước, Ái Tử, Nhan Biều


Sừng sững cột cao vượt đôi bờ Thạch Hãn


Vượt đôi bờ Mỹ Chánh, sông Bồ, sông Hương


Đường dây thông tin nối tới Phú Bài


Những người lính về Quảng Trị những ngày này


Mới thấm thía khi nhìn lại đổ nát


Không có lời nào rõ bằng cái nhìn của mắt


Khi thả bộ đi cho hết những chốn xưa


Mới thấy quý những mầm non lưa thưa


Mạ xanh lại trên cánh đồng vừa ải


Mới chia sẻ cùng những người dân tìm đường trở lại


Vun đắp cho quê hương từ mất mát tan tành


Cứ đi trên cát trắng gặp trắng trong đồng đội


Cứ đi trên đất đỏ gặp máu ai còn hoen


Nhưng vượt lên tất cả là những cây xanh


Hình như cây biết mình xanh ở đây sẽ xanh hơn nhiều nơi khác


Hình như người biết mình sống ở đây dẫu vất vả,


đói nghèo vẫn thích hơn nhiều nơi sung sướng


Bởi được xanh tự nhiên trên chính quê hương


Em phương xa em có biết chăng


Khi em nhìn ra cây xanh trước cửa


Chính là khi em thấy được màu xanh Quảng Trị nơi anh yên nghỉ


Nơi linh hồn anh đã hóa cây xanh


Nơi linh hồn anh tan vào trời xanh, sông xanh, biển xanh xanh mãi mãi


***


Ở Quảng Trị ngoài những nghĩa trang đã xây


cho người viếng thăm hương khói


Còn có dòng Thạch Hãn xanh một nghĩa trang sông


Phải chăng dòng sông đỏ máu này đã chảy ngược Trường Sơn


Thả màu xanh về đồng bằng ruộng rẫy


Còn có Thành cổ Đinh Công Tráng cũng là một nghĩa trang


Dẫu bây giờ bao tòa cao dựng trên đất ấy


Và có khi tất cả diện tích Quảng Trị


Cũng đều là nơi bao người yên giấc ngàn thu


Điều này có khi chỉ có cỏ mới hiểu hết thực hư


Mới âm thầm mọc xanh khắp nơi khắp chốn


Cỏ cứ thế vá dần mồ từng nấm


Cỏ xanh Thành cổ


Cứ lang thang xanh, cứ lãng du xanh


Nhạc sĩ nhắc cỏ xin chớ vô tình


Là nhắc người từng vô tình hãy hồi tâm, chuyển ý


Còn cỏ làm sao vô tình được nhỉ


Vì cỏ với người ngã xuống kia là hình bóng của nhau


Cứ nhìn cỏ mong manh thì biết người vui hay người sầu


Cứ nhìn cỏ héo hon là biết người còn trách nơi trần thế


Hãy nhìn cỏ non tơ mà nhớ người lính trẻ


Trinh trắng hy sinh dâng hiến cho đời


Hãy nhìn cỏ kết lại nhau mà hiểu những lời


Những đồng đội sát vai chung nhau cái chết


Cỏ Quảng Trị viết xanh bản giao hưởng không đoạn kết


Về một thời máu xanh


Về một thời mỗi người lính là một giọt máu xanh


Chảy lặng lẽ trong thân hình bán đảo


Đã từng chảy cắt ngang Thạch Hãn


Và máu xanh đã hóa máu đào


***


Hỡi các trai thanh nữ tú đầy khát khao


Lại ríu rít tan trường như một thời trường Nguyễn Hoàng xa lắc


Nếu còn nhớ dưới chân mình,


dưới mảnh đất này máu xương đã thấm vào sâu thẳm


Thì hãy ra Thạch Hãn những con đò xanh


Hãy thả xuống cho chúng tôi tận đáy cùng mát lành


Những lá cây xanh như tuổi chúng tôi như khát vọng


Để khát vọng được gửi ra biển xanh vỗ sóng


Để khát vọng gửi lên trời xanh


Không bao giờ hoài phí sự hy sinh


Rằng cái chết bắt đầu cho sự sống


Rằng Quảng Trị mãi là niềm xúc động


Của muôn đời một thánh địa xanh


27.11.2011


NTK.


vanvn.net

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thơ Xuân - Trương Tuyết Mai 18.12.2014
Nghe trăng (4) - Trương Tuyết Mai 17.12.2014
Chùm thơ Trương Thiếu Huyền - Trương Thiếu Huyền 10.12.2014
Nghe trăng (3) - Trương Tuyết Mai 08.12.2014
Nghe trăng (2) - Trương Tuyết Mai 06.12.2014
Nghe trăng (1) - Trương Tuyết Mai 05.12.2014
Chùm thơ Trúc Linh Lan - Trúc Linh Lan 21.11.2014
Chùm thơ tự chọn: Gửi lại đời - Huy Dung 20.11.2014
Chùm thơ Ngân Vịnh - Ngân Vịnh 10.11.2014
Chùm thơ Phan Thành Minh - Phan Thành Minh 08.11.2014
xem thêm »