tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20542927
Thơ
11.09.2017
Đỗ Phủ
Ngẫu đề



Văn chương thiên cổ sự,


Đắc thất thốn tâm tri.


Tác giả giai thù liệt,


Danh thanh khởi lãng thuỳ.


Tao nhân ta bất kiến,


Hán đạo thịnh ư tư.


Tiền bối phi đằng nhập,


Dư ba ỷ lệ vi.


Hậu hiền kiêm cựu liệt,


Lịch đại các thanh quy.


Pháp tự nho gia hữu,


Tâm tòng nhược tuế bì.


Vĩnh hoài Giang Tả dật,


Đa bệnh Nghiệp Trung kỳ.


Lộc, ký giai lương mã,


Kỳ lân đới hảo nhi.


Xa luân đồ dĩ chước,


Đường cấu tích nhưng khuy.


Mạn tác "Tiềm phu luận",


Hư truyền ấu phụ bi.


Duyên tình uý phiêu đãng,


Bão tật lũ thiên di.


Kinh tế tàm trường sách,


Phi thê giá nhất chi.


Trần sa bàng phong mại,


Giang giáp nhiễu giao ly.


Tiêu sắt Đường Ngu viễn,


Liên phiên Sở, Hán nguy.


Thánh triều kiêm đạo tặc,


Dị tục cánh huyên ty.


Uất uất tinh thần kiếm,


Thương thương vân vũ trì.


Lưỡng đô khai mạc phủ,


Vạn vũ tháp quân huy.


Nam Hải tàn đồng trụ,


Đông phong tỵ Nhục Chi.


Âm thư hận ô thước,


Hào nộ quái hùng bi.


Giá sắc phân thi hứng,


Sài kinh học thổ nghi.


Cố sơn mê Bạch Các,


Thu thuỷ ẩn Hoàng Bi.


Bất cảm yêu giai cú,


Sầu lai phú biệt ly.


Ngẫu đề


偶題 


文章千古事,


得失寸心知。


作者皆殊列,


名聲豈浪垂。


騷人嗟不見,


漢道盛於斯。


前輩飛騰入,


餘波綺麗為。


後賢兼舊列,


歷代各清規。


法自儒家有,


心從弱疲。


永懷江左逸,


多病鄴中奇。


騄驥皆良馬,


騏驎帶好兒。


車輪徒已斫,


堂構惜仍虧。


漫作潛夫論,


虛傳幼婦碑。


緣情慰漂蕩,


抱疾屢遷移。


經濟慚長策,


飛棲假一枝。


塵沙傍蜂蠆,


江峽繞蛟螭。


蕭瑟唐虞遠,


聯翩楚漢危。


聖朝兼盜賊,


異俗更喧卑。


鬱鬱星辰劍,


蒼蒼雲雨池。


兩都開幕府,


萬宇插軍麾。


南海殘銅柱,


東風避月支。


音書恨烏鵲,


號怒怪熊羆。


稼穡分詩興,


柴荊學土宜。


故山迷白閣,


秋水隱黃陂。


不敢要佳句,


愁來賦別離。


Dịch nghĩa


Văn chương là chuyện thuộc ngàn đời,


Thành công hay thất bại là chỉ có tấc lòng biết thôi.


Mỗi người viết một cách,


Tiếng tăm đâu phải nơi ngọn sóng mà tới.


Bậc tao nhã tiếc rằng không được gặp,


Đời Hán rất thịnh về điểm này.


Những người thời trước bay nhảy mà tới,


Vẻ đẹp còn truyền lại như sóng lan.


Người đời sau cứ theo phép cũ,


Nhưng qua thời gian hoàn thành quy luật mới.


Phép tắc là do nhà nho đặt ra,


Lòng theo qua nhiều năm mệt lừ.


Nương náu nơi ven sông thường nói lên nỗi lòng,


Lắm bệnh nhưng trong công việc có lắm cái lạ.


Lộc, ký đều là giống ngựa tốt,


Kỳ lân giữ đúng con nòi.


Bánh xe đã từng đẽo gọt,


Mà con cháu nối theo mãi chưa được.


Viết bừa bài bàn về kẻ náu mình (trùm chăn),


Truyền ẩu về bài văn bia bà trẻ.


Theo tình thì sợ lông bông,


Mà giữ cái lối cũ lại ngại thay đổi.


Giúp đời thì thẹn về sách lược lâu dài,


Bay lên đậu ở một cành.


Trong đám cát bụi gần với ong nọc,


Và nơi sông ngòi thuồng luồng rình rập.


Rầu rĩ vì quá xa vời thời Đường, Ngu,


Rối beng giống như thời Hán Sở.


Đời thánh lại kèm theo cả đạo tặc,


Các tục khác nhau cứ rối beng lên.


Rờ rỡ gươm thiêng át cả ánh sao,


Mờ mờ ao đầy mây mưa (có rồng ẩn).


Hai kinh đều lập dinh trại,


Các nơi cờ hồng phất phới.


Phía biển nam, cột đồng bị gãy,


Gió đông tránh giặc Nhục Chi.


Thư tín mãi không có nên giận chim thước,


Giống hùm beo cứ gào thét hoài.


Tôi tìm được hứng thơ trong việc trồng gặt,


Nơi thôn quê sống phù hợp với khung cảnh đó.


Núi cũ không phân biệt được Bạch Các,


Sông thu thấp thoáng bóng Hoàng Bi.


Không dám chau chuốt từng câu,


Vì cơn buồn tới nên nói đến cảnh biệt ly thế thôi.


ĐP.


Năm Đại Lịch thứ 2 (767), tại thảo đường ở Thành Đô.




Bản dịch của Phan Ngọc


Văn chương là chuyện ngàn xưa


Dù hay dù dở lòng ta hỏi lòng


Kẻ sáng tác chẳng cùng một loại


Tiếng tăm truyền còn lại khác nhau


Bậc tao nhân làm sao thấy lại


Thơ Hán còn thịnh mãi tới nay


Người xưa thi tứ cao bay


Sóng thừa tươi đẹp nay ta giữ gìn


Người hiền sau quen kiêm phép cũ


Các đời xưa quy chế đều hay


Nho gia phép tắc đã bày


Từ khi tuổi nhỏ miệt mài bao năm


Tứ siêu dật mải ham Giang Tả


Thơ Nguỵ triều thích lạ không say


Đều là ngựa quý xưa nay


Toàn hạng tài giỏi sánh tài kỳ lân


Đẽo trục xe khó khăn hết mực


Mấy ai làm cho được vẹn toàn


Thơ ta viết, cách ta làm


Đâu mong nghĩ chuyện thế gian lưu truyền


Để an ủi nỗi buồn trôi dạt


Lang thang hoài, bệnh tật nhọc lòng


Kế cứu nước thẹn mình không


Một cành nương náu chỉ mong qua ngày


Cát bụi bay một trời giặc giã


Bên hẻm sông bạn có thuồng luồng


Thuấn, Nghiêu đâu dám chờ trông


Sở, Hán tai ách vẫn thường gặp luôn


Triều thánh lẫn với quân đạo tặc


Sống thấp hèn, tục khác cũng đành


Kiếm thần khí bốc mây xanh


Giao long ủ rũ nương mình trong ao


Hai kinh đô giờ sao quân đóng


Vạn ngõ chờ chỉ bóng cờ bay


Cột đồng Nam Hải lắt lay


Nhục Chi lẩn tránh những ngày gió đông


Giận chim thước thư không mang lại


Lạ thay nghe gấu sói gào la


Cấy cày xen với thi ca


Cửa sài học việc nông gia vẫn làm


Nơi núi cũ mơ tìm Bạch Các


Nhìn nước thu những tiếc Hoàng Pha


Thơ đẹp hay chẳng dám mơ


Buồn sang ngâm khúc biệt ly giải buồn


Nguồn: Đỗ Phủ - Nhà thơ thánh với hơn 1000 bài thơ, 2001


Bản dịch của Anh Nguyên


Văn chương sự việc ngàn đời,


Dở hay chỉ biết ở nơi tấc lòng.


Mỗi người riêng một văn phong,


Tiếng tăm há thả theo dòng sóng đâu.


Tao nhân chẳng gặp được nhau,


Văn đời Hán thịnh đạt mau điểm này.


Người xưa bay nhảy vào ngay,


Như tơ lụa đẹp đến nay chưa mờ.


Người sau vẫn giữ phép xưa,


Nhiều thời đã trải, luật giờ còn đây.


Nhà Nho đặt các luật này,


Bao năm theo đuổi, đến nay mệt nhoài.


Bên sông ngâm vịnh dài dài,


Bệnh nhiều, nghề nghiệp chuyện hay lạ lùng.


Ngựa hay, Lộc, Ký, đều cùng,


Kỳ Lân cũng được tiếng chung ngựa nòi.


Thay nhau đẽo gọt chưa rồi,


Luật Đường gây dựng hẳn hoi chưa thành.


‘‘Bàn người ở ẩn’’ viết nhanh,


Bia truyền bà trẻ rành rành đó thôi.


Theo tình thì sợ nổi trôi,


Ngược ngang lại bị đổi dời khác đâu.


Giúp đời thẹn kế dài lâu,


Bay lên đứng đậu ở đầu cành cây.


Bên sông mờ cát bụi đầy,


Thuồng luồng, sông nước từng bầy lâu nhâu.


Đường, Nghiêu, buồn cách đã lâu,


Rối ren Hán, Sở, bắt đầu hiểm nguy.


Thánh triều, trôm cướp như di,


Khác nhau các tục, nhiều khi ồn ào.


Kiếm đeo sáng rỡ như sao,


Mây mưa phủ khắp trên ao xanh mờ.


Hai kinh đều lập dinh cơ,


Khắp nơi cờ xí phất phơ đầy trời.


Cột đồng Nam Hải gẫy rồi,


Nguyệt Chi, tỵ nạn đầy trời gió Đông.


Không tin, chim thước giận không,


Kêu la, lũ gấu, ngắm trông lạ kỳ.


Lúa trồng, thơ hứng nhiều khi,


Sống nơi thôn xóm, thổ nghi học hoài.


Núi xưa, Bạch Các, quên dài,


Sông thu lại tưởng đến hoài Hoàng Bi.


Câu hay chẳng dám nghĩ chi,


Buồn buồn nói cảnh biệt ly mấy hàng...


Bản dịch của Phạm Doanh


Văn chương chuyện ngàn đời,


Thành bại lòng biết thôi.


Mỗi người viết một khác,


Danh tiếng há sóng dồi.


Tao nhân không được gặp,


Việc này lối Hán noi.


Người xưa bay nhảy tới,


Dư âm thật sáng ngời.


Người sau theo phép cũ,


Qui củ phải theo thời.


Luật do nhà nho đặt,


Lòng theo đến đứt hơi.


Cảnh sông thường mô tả,


Trong nghề mắc tật hoài.


Lộc ký giống ngựa quý,


Kỳ lân giữ con nòi.


Bánh xe vẫn đẽo gọt,


Nếp nhà cố gắng noi.


Truyền bừa bia bà trẻ,


Viết bậy "bài ông chui".


Theo tình sợ lang bạt,


Giữ tật chịu đổi rời.


Kiếm sống không có kế,


Bay đậu cành chơi vơi.


Ong nhện đầy đất bụi,


Thuồng luồng lượn sông ngòi.


Hán, Sở sao rối rắm,


Đường, Ngu thật xa vời.


Tục khác đều cùng sống,


Thời bình giặc như rươi.


Rờ rỡ kiếm sao sáng,


Mờ mờ ao mưa rơi.


Hai kinh dinh đầy đất,


Vạn xứ cờ rợp trời.


Nam Hải cột đồng gãy,


Nguyệt Chi gió đông lơi.


Tin tức giận chim thước,


Hò hét lũ gấu voi.


Hứng thơ nổi, đồng ruộng,


Thổ nghi học, cỏ gai.


Bạch Các quên núi cũ,


Hoàng Bi nhớ sông dài.


Đâu giám đòi câu đẹp,


Buồn, tả cảnh chia phôi.


Bản dịch của Nguyễn phước Hậu


Văn chương chuyện tự ngàn đời


hay dở tuỳ lòng hiểu biết


Phong thái khác theo người viết


Tiếng tăm há để sóng trôi.


 


Than ôi! Tao nhân nào thấy


Thơ Hán đến nay thịnh hành


Người xưa dấu ấn in hằn


Sóng thừa đẹp xinh còn đấy.


 


Sau hiền tài gom lề lối


dần dần thành luật rõ ràng


Phép tắc đạo Nho sẵn sàng


Từ nhỏ ta theo mệt mõi.


 


Giang Tả phóng dật còn nhớ


Nghiệp Trung bệnh tật lạ lùng


Sánh ngựa Lục, Ký nòi hùng


So bằng kỳ lân tuổi nhỏ.


 


Bánh xe đã hẳn vết mòn


Tiếc rằng người theo thiếu ít


« Tiềm phú luận »tuỳ hứng viết


Bia văn cho gái trẻ con.


 


An ủi kiếp sống nổi trôi


Bệnh nhưng chỗ ở di dời


Thẹn không mưu sinh ổn thoả


Thăng trầm chỉ dựa mình thôi.


 


Bò cạp, ong trong bụi cát


Dưới sông dòng kẽm thuồng luồng


Xa rồi đàn sáo Ngu Đường


Hán Sở cơn nguy cạnh sát.


 


Quan triều kiêm luôn cướp trộm


Phong tục thấp hèn khác nhau


Ánh kiếm sáng ngời sao sớm


Mây mưa xanh biếc bên ao.


 


Trong hai kinh dựng lều trại


Vạn nhà thành bộ chỉ huy


Đã gãy cột đồng Nam Hải


Về đông tị nạn Nguyệt Chi.


 


Bặt tin giận chim ô thước


Gấu hung gào thét khác thường


Lúc gặt lúa, khi văn chương


Nhà tranh học hành ruộng nước.


 


Còn mê Bạch Cúc núi cũ


Hoàng Pha ẩn khuất sông thu


Chẳng dám cầu kỳ thi tứ


Buồn đến viết văn giã từ.


Bản dịch của Nguyễn Minh


Chuyện văn chương ngàn xưa đã có


Hay dở tuỳ theo tấc lòng mình


Văn phong người viết không cùng


Tiếng tăm há để theo dòng nước trôi!


Nhà thơ hay làm sao thấy lại


Hán đến nay vẫn thịnh hành thơ


Người xưa bay lượn nhởn nhơ


Sóng thừa lan tới bây giờ vẫn hay


Người hiền tài gom lề lối cũ


Rồi đặt ra qui củ rõ ràng


Đạo Nho phép tắc chuyển sang


Ta theo từ nhỏ nay đang mệt rồi


Giang Tả nhớ hoài thơ phóng khoáng


Thơ Nghiệp Trung mới lạ nhưng nhu


Ngựa hay Lục, Ký ví như


Có người còn sánh như là kỳ lân


Vết xe trước đi hằn đã rõ


Tiếc rằng người nối chí không nhiều


“Tiềm phu luận”, viết phiêu phiêu


Bài văn bia đá để chiều bà con


Lấy tình an ủi đời trôi giạt


Bệnh trong người nên đổi chỗ hoài


Không kế sách, tự hổ ngươi


Bay lên đậu xuống không ngoài cành quen


Ong, bò cạp kề bên cát bụi


Dưới sông rồng, trong kẽm thuồng luồng


Xa rồi tiếng sáo Ngu, Đường


Hiểm nguy Hán, Sở thì đương sát gần


Quan trong triều cũng kiêm trộm cướp


Ồn ào vì phong tục khác nhau


Sáng ngời ánh kiếm như sao


Mây mưa lớp lớp bên ao xanh màu


Hai kinh đô chứa đầy trại lính


Nhà lớn thành bộ chỉ huy quân


Cột đồng Nam Hải đã tàn


Nguyệt Chi tị nạn chạy càn gió đông


Giận quạ thước không loan tin tức


Gấu các loài thấy lạ hú la


Chia giờ gặt luá, làm thơ


Ở nhà cây, học hỏi về nghề nông


Vẫn còn mê núi xưa Bạch Cúc


Nhớ dòng sông thu núp Hoàng Pha


Chẳng làm trác tuyệt câu ca


Khi buồn ly biệt dăm ba bài sầu.



 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cây bàng cuối thu, Cảm tác - Nguyễn Bính 18.09.2017
Trường huyện, Chân quê, Một trời quan tái, Giời mưa ở Huế - Nguyễn Bính 18.09.2017
Nhớ cha - Hoàng Kim Vũ 18.09.2017
Thu hứng kỳ 1 秋興其一 • Cảm xúc mùa thu (1) - Đỗ Phủ 11.09.2017
Ngẫu đề - Đỗ Phủ 11.09.2017
Thương Mẹ - Hoàng Kim Vũ 10.09.2017
Chân quê - Một trời quan tái - Nguyễn Bính 10.09.2017
Chùm thơ Phạm Sỹ Sáu - Phạm Sỹ Sáu 22.08.2017
Điểm danh đồng đội - Phạm Sỹ Sáu 21.08.2017
Muôn đời đã vậy, không quên! - Phạm Sỹ Sáu 21.08.2017
xem thêm »