tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22610804
11.05.2018
Trần Vàng Sao
Tôi bị bắt (3)


Thằng cha Lai gù vai lạch bạch sau lưng bọn tôi cách mười thước.


Tôi chế một bình trà, mang ghế ra sân chỗ có bóng im ngồi nói chuyện với thằng Ngô.


15 phút sau ông Lai đi vòng ngã sau nhà anh Cận về tới. Thằng Ngô nói:


- Bà Trai và ông Doãn Triều đã cho bọn tao biết chuyện của mi. Bọn hắn làm dữ lắm


phải không. Ông Triều và bà Trai nói là mi bị đấu tố.


- Cả hàng trăm con người nhảy vào chửi mắng xỉ vả tao.


- Kinh. Hắn làm thinh rồi tiếp, nghe bọn hắn đòi bắn mi.


- Thiếu một chút nữa là tao bị xé xác.


- Vì răng tụi hắn không đưa mi đi K3.


- Mi ít biết. Tất cả những người ở đây đều coi tao là kẻ thù, là chó. Để tao ở đây là


một cách hành hạ tao tốt nhất.


- Khiếp!


Tôi hỏi:


- Thằng Thanh, thằng Sở ra sao rồi?


- Hai đứa ở Hà Nội. Thỉnh thoảng có về nơi cơ quan sơ tán.


- Sau vụ của tao, tao nghe mi còn đọc trên đài giải phóng buổi phát thanh cho Huế,


tao mừng. Tao cứ lo bọn hắn làm khó dễ với mi. Lúc hỏi cung tao, bọn hắn có đưa bài


“Cảnh tượng” của mi cho tao đọc và hỏi tao có biết của ai không, bài thơ nói gì? Tao


bảo tao không biết và nói đó là một bài thơ tả cảnh. Mi có nhớ tờ “Hòn Kẽm” mi cho


tao mượn không? Bọn hắn bảo tao có liên hệ với bọn sinh viên Việt Nam phản động


bên Tây Đức.


Thằng cha Lai cứ lảng vảng vô ra trên thềm nhà, ngoài sân, mắt liếc, mặt hầm hầm.


Kẻng báo động có máy bay Mỹ. Tôi với thằng Ngô xuống ngồi dưới hàng tre bên bờ


ao. Tôi nói với thằng Ngô:


- Bọn hắn nghi CIA cài tao vào để phá hoại.


70


Chị Thuận và mấy đứa nhỏ xuống hầm. Ông Lai ngồi bên miệng hầm mắt cứ đảo qua


hai đứa tôi. Kẻng báo động khẩn cấp. Có tiếng bom nổ xa. Súng nhỏ súng lớn bắn


loạn xạ trên trời. Tôi kéo tay thằng Ngô đứng dậy:


- Lên xem tên lửa rượt máy bay.


Anh Đại, anh Sinh và những người hàng xóm đều đứng trên sân ngẩng mặt ngó lên


trời.


Trên trời máy bay Mỹ chao đảo tránh tên lửa.


Tôi hỏi thằng Ngô:


- Mi thấy không chiến lần nào chưa?


- Rồi.


- Ban đêm thấy đạn đan trên trời mới thú.


Đĩ Xuân, con chị Thuận cũng chạy lên sân. Tên lửa nổ lụp bụp trên cao. Tôi hỏi đĩ


Xuân:


- Cháu có phân biệt được tên lửa nổ với máy bay cháy không?


- Khói màu da cam là của tên lửa, khói nâu là máy bay cháy.


Kẻng báo yên. Thằng Ngô về. Tôi đưa nó một đoạn.


- Rảnh, tao tới mi chơi.


Hắn lên pê-đan, đạp xe chậm chậm dưới hàng bạch đàn. Hắn quay đầu ngó lại, đưa


tay khoát khoát. Tôi nhìn theo cho đến khi hắn đi khuất.


Tôi vừa bước chân lên thềm nhà, ông Lai đang ngồi trong nhà đứng dậy hỏi liền:


- Anh đó là ai thế?


- Bạn tôi


- Anh ta ở đâu?


- Đài giải phóng


Một lát sau, ngó lui ngó tới tôi không thấy anh ta ở đâu nữa. Chiều ngày hôm sau, bác


Nhã cho tôi biết: “Tôi nghe mấy ông trong đảng ủy nói rằng lâu nay chúng nó nằm


im, bây giờ đã bắt liên lạc với nhau. Cái anh bạn đến thăm anh đó, họ bảo là đồng bọn


với anh đó”. Tôi bảo họ: “Bạn bè lâu ngày không gặp, người ta đến thăm nhau là


chuyện thường. Có gì đâu”.


Nửa tháng sau thằng Lê Ích Đề đến thăm tôi. Đề đến vào buổi chiều, hắn đem theo


mấy bao Tam Đảo và một gói trà. Hắn nói:


- Tao ở Viện điều dưỡng gần đây. Người ta nghi tao bị phổi nên chuyển lên đó để điều


trị. Vừa rồi có mấy người ở đây chuyển lên chỗ tao. Tao nghe được chuyện của mi.


Bửa ni sơ tán về đây, tao đến gặp mi và hỏi cho ra chuyện.


Tôi kể sơ cho hắn nghe mọi sự của tôi. Hắn ngồi nghe thỉnh thoảng hơi mím môi. Hắn


nói:


- Bọn hắn nói mi dữ lắm. Mi là một tên phản động, một thằng gián điệp, CIA. “Hết ai


mà hắn dám nói xấu cả Hồ Chủ Tịch”. Bọn hắn căm thù mi, coi mi là địch, là Mỹ


ngụy. Hôm đem mi ra đấu ở hội trường K65 có thằng bảo nếu có súng hắn bắn mi


ngay tại chỗ. Bọn hắn cho đảng khoan hồng với mi như thế là quá lắm rồi. Bọn hắn đã


71


đề nghị đưa mi đi cải tạo lao động. Có thằng còn nói những thằng như mi không thể


cải tạo được, nhưng phải “bỏ tù cho nó biết tay”. Tao nghe cũng ớn.


Thằng Đề có tật nói là hay thít tha. Hắn nói bao giờ cũng chậm rãi, sau một câu, hắn


mở miệng ra tưởng như cười. Lê Ích Đề ở trong rừng cũng như ra đây gặp nhiều khó


khăn về lý lịch. Và hình như vì lý do đó mà hắn phải ra Bắc. Tổ chức cho là trong gia


đình hắn có người liên hệ với bọn Đại Việt. Thằng Đề hỏi sinh hoạt hàng ngày của tôi


bây giờ thế nào, tôi nói:


- Tao coi như bị bắt và sống tù. Đi đâu cũng phải xin phép. Ra khỏi chỗ ở là có người


đi theo. Ở đây tao không có bạn bè. Sống như thế này tao nhớ tụi bây quá sức.


- Mi còn ở đây lâu mau nữa?


- Tao cũng chịu, không biết.


Tôi chỉ một cái thùng đang nức dở và mấy cái rổ, rá, nia cũ có, mới có chưa nức có,


nói:


- Hàng ngày tôi ngồi nức rổ rá cho vui. Tao lấy thúng mủng trong nhà ra nức lại hết.


Có mấy ông già người Quảng Ngãi mới đến thường đến đây đan rổ rá. Họ đan, tao


nức giùm.


- Mi mà cũng biết nức đồ rứa à?


- Ngó họ làm mình tập thì biết. Đan thì tao chịu. Tao không kiên nhẫn vót nan. Nhưng


nức và chạy chân rết thì tao làm rất đẹp. Thôi thì những nhà chung quanh đây ai có rổ,


rá, nia hư tao đều nức lại cho hết. Cũng vui. Cắn chặc cặp vành giữa hai hàm răng rút


mạnh sợi mây, nghe kêu rắc rắc… thú vị và sung sướng vô cùng. Có nhiều khi cũng


tức vì nửa chứng đứt mây.


Thằng Đề cười hì hì. Tôi kể cho hắn nghe mới đây thôi, tôi đang ngồi dựa cột đọc báo


trên thềm nhà, hai ba ông bệnh nhân với mấy người hàng xóm, người đứng người


ngồi uống nước chè nói chuyện giữa sân, chị Thuận sửa soạn gì đó trong nhà, ông Lai


gù vai xuống hậm hực bước lên thềm, không nhìn tôi nói lắp bắp: “Anh… anh nên


học đan đát đi. Tôi nói thật, những người như anh sau này không ai dùng đâu”. Tôi


nghe tiếng ông già người Quảng Ngãi đang ngồi đan rá ngoài sân: “Mệt qúa, ông Lai


ơi! Gì đâu không”. Ông Lai hỷ mũi bước nhanh vào nhà.


Thằng Đề cầm gói thuốc xắc mân mê những sợi thuốc nói:


- Mi hút thuốc nhiều quá. Tao cũng cố bớt dần. Thuốc này mi kiếm đâu ra đây?


- Ừ, bây giờ tao chỉ có thuốc với trà. Tao thường ngồi hút thuốc uống trà một mình,


ngó trời đất cây cối, xem bọn trẻ con chơi đùa, cãi nhau. Thuốc đó tao nhờ bà chủ nhà


mua ngoài lò sấy. Mua dễ lắm, một xấp có ba bốn hào. Tao chỉ hút được loại 2, loại 3,


loại 1 quá nhẹ. Có khi mấy ông xã viên hàng xóm cho cả một bó.


- Này, thằng Đề uống một ngụm nước, hai môi chúm lại, này Đính, lúc hỏi cung mi,


bọn hắn có nói chi tao không?


- Có, có. Bọn nó hỏi tao lúc lên K55 gặp ai. Tao bảo lên thăm ở chơi với mi và thằng


Minh mấy ngày.


Hắn chím môi cười hỏi:


- Này, tụi Thừa Thiên hắn đối xử với mi ra răng?


72


- Ui chào, tụi hắn cho tao làm nhục, bôi xấu quê hương. “Cái đồ nó sống làm chi cho


dơ dớp”. Có đứa nhổ nước miếng ngay trước mặt tao. Chẳng có một thằng người


Thừa Thiên nào đến chơi với tao hết.


Thằng Đề ngồi nói chuyện với tôi một lúc nữa rồi về. Hắn đi nhờ xe đạp một người


khác cũng đến đây thăm bạn.


Mãi hơn hai năm sau tôi mới có dịp gặp hắn ở Hà Đông. Thằng Đề là một thằng rất lạ.


Hình như hắn có cái gì đó hơi rắc rối trong cuộc sống riêng tư và trong gia đình nên


trong cách cư xử với những người khác nhiều khi hắn có vẻ khắc khổ. Sau này về Huế


có dạo tôi gặp hắn luôn, rồi biệt đi có hàng tháng hắn mới ló mặt gặp anh em. Hắn cứ


vội vàng nhưng xét ra cũng chẳng có việc gì đến nổi hắn phải hấp tấp.


Hàng tuần thường có người từ bệnh viện E2 ở Hà Nội, E1 ở Thạch Thất chuyển đến,


và những người ở đây chuyển đi nơi khác. Những người thương tôi cũng dần dần đi


hết. Những người mới đến bao giờ cũng được chi bộ cho biết về tôi để cảnh giác và


canh chừng. Hôm nào có người mới đến bao giờ ở nhà ăn cũng có người chỉ chỏ tôi


thì thầm: “đó, hắn đó”, “thằng nó đó”. Phần nhiều những người mới đến đối xử với tôi


ít căng thẳng, vì họ là những người không dự cuộc đấu tố tôi. Hơn nữa, do hoàn cảnh


sơ tán ít thấy nhau, nên cũng đỡ cho tôi.


Hôm đó, Lịnh, Kim và Hiếu đến chơi. Lịnh nói:


- Hôm kia mít tinh bọn tôi không thấy anh. Sáng nay họp chi bộ tôi có hỏi mấy ông:


Vì sao không để anh Đính dự mít tinh? Mấy ông trả lời: “Lệnh của Cục bảo vệ đảng


của Ban thống nhất Trung ương không cho anh Đính tham dự bất cứ một cuộc họp


nào”. Có ông nói: “Mít tinh kỷ niệm Quốc khánh(?), thằng Đính không xứng đáng để


tham dự”. Tôi không đồng ý: “ở trong tù bọn địch bắt chúng ta phải chào cờ ba que


của chúng. Chúng ta phải để cho anh Đính tham dự mít tinh để chào cờ. Mà anh Đính


đâu phải địch. Chúng ta không nên quá hẹp hòi và phải cao thượng. Các đồng chí làm


như thế khó mà cảm hóa được người khác”. Có một ông đã nói: “Đối với thằng Đính


cho nó sống được như thế này là may cho nó lắm rồi”.


Tôi nói:


- Nói thật, lúc này mà tôi phải ngồi giữa đám đông những người ở trong K này, cũng


cực cho tôi…


Kim hỏi:


- Tôi nghe nói có một người tên Tấu hay Tấn gì đó cùng quê với anh nói rằng lúc còn


ở thị xã Sơn Tây, anh đã đến phòng của anh ta chơi, trong lúc nói chuyện anh đã kể


cho một số người nghe nội dung một cuốn phim Mỹ. Anh ta bảo lúc đó và những


người khác không để ý gì về chuyện đó. Nhưng sau khi biết về con người anh, anh ta


mới thấy anh là một tên nguy hiểm. Anh ta đã báo cáo cho lãnh đạo khối bệnh nhân


biết nội dung cuốn phim mà anh kể là phản động, đồi trụy. Và anh bị kết án là đã tìm


cách đầu độc thanh niên bằng phim ảnh của Mỹ ngụy. Các chi đoàn đã họp để vạch


trần những tư tưởng phản động chống đảng của anh và phát động trong toàn các chi


đoàn một đợt căm thù tội ác của Mỹ ngụy và cảnh giác những âm mưu thâm độc của


chúng.


Tôi mở miệng như cười, rồi thở ra một hơi:


- Tôi biết anh ta, tên của anh hơi khó nhớ, Tấn, Tấu gì đó. Anh ta người cao, ốm, đen,


tóc quăn, ít nói, hoặc nói không ra tiếng. Dạo sau này gặp tôi, hắn giả vờ không thấy,


73


rồi lãng đi. Hắn sợ liên lụy. Trước tôi thỉnh thoảng có nói chuyện với hắn. Có một lần


đến chơi ở phòng hắn, tôi có kể cho hắn và một cô bé tên Phương người Quảng Ngãi,


cụt cánh tay phải với một hai người nữa nội dung một cuốn phim mà tôi đã xem ở


Huế. Đó là phim La Strada của một đạo diễn người Ý, Frederico Fellini. Ờ, thì ngồi


với nhau nói chuyện chơi, tôi luôn miệng cũng kể cho vui. Nhiều khi còn kể chuyện


ma nữa chớ.


Nói xong tôi cười ra tiếng, Lịnh nói:


- Người ta cho là anh đã bị nhiễm nặng tư tưởng tư sản phản động, khó mà gột rửa


được.


Rồi Kim hỏi:


- Chắc anh muốn đi khỏi đây cho đỡ căng thẳng?


- Đâu cũng thế thôi. Mà tôi đâu có muốn cái gì được.


Tất nhiên tôi không thể nói hết suy nghĩ của mình với những người bạn này. Cũng


phải bán tín bán nghi chớ. Lâu ngày quá, tôi cũng quen đi cái không khí của những


người chung quanh đối xử với tôi như thế.


Một hôm ăn cơm xong tôi ngồi trước sân uống nước cho mát. Một ông nào đó tôi


không quen mặt, đến kéo ghế ngồi cạnh tôi. Tôi đoán ông ta là cán bộ của Cục đón


tiếp cán bộ B. Ông ta nói ngay liền:


- Tôi tiếc cho anh quá. Nếu anh không phạm những sai lầm nghiêm trọng vừa qua thì


anh đã được đi tham quan ở nước ngoài rồi. Anh Nguyễn Viết Trác cũng đang chuẩn


bị đi Hungary đó.


Ông ta còn nói thêm một lúc nữa. Tôi ngồi yên uống nước không nói gì hết. Rồi ông


ta đứng dậy chào tôi đi.


Tôi thường hay bị hành hạ bằng những cuộc nói chuyện chán ngắt, nhưng vẫn không


đứng dậy đi được, phải ngồi im nghe. Và, những lúc đó, tôi chỉ thấy chung quanh


mình, bàn ghế, bình chén, đất đá cây cối. Những lúc đó, tôi cứ nhìn chăm chăm một


viên sỏi, một cục đất, một rễ cây ở xa, ở ngoài xa, ở ngoài tôi và người tôi đối mặt.


Một đêm tháng 12.1972, Mỹ đánh B52 Hà Nội. Tôi đang nằm liền vùng dậy chạy ra


sân. Lửa chớp sáng rực một dãy dài phía trên nóc nhà chị Thuận. Tiếng nổ xa từng


trận không dứt, rầm rầm.


- B52 rồi!


Những nhà chung quanh người ta gọi nhau thức dậy. Tôi hỏi anh Đại và anh Sinh,


những người hàng xóm của chị Thuận:


- Hướng đó có phải là Hà Nội không?


- Đúng là Hà Nội


Lửa trên trời phía trên Hà Nội cứ chớp liên tục, đỏ ối.


Tôi cảm thấy mình như tức thở và trong người xôn xao.


Mỹ đánh B52 Hà Nội 12 ngày đêm, hiệp định Paris, tôi vẫn ở Cam Đà. Những ngày


mùa hè nóng rát da ở đây như vẫn còn lại trong trí nhớ của tôi đầy đủ những cảm giác


mệt mỏi buồn chán và xúc động. Tôi thường nằm trên đám lá tre khô trên bờ ao sát


cánh đồng. Buổi trưa nhiều khi gió rất nhiều. Tôi nhìn mấy cây chuối mọc cheo leo


74


bên bờ nhớ lại những ngày còn nhỏ của tôi ở Vỹ Dạ. Bây giờ chắc mẹ tôi vẫn còn đi


bán cháo ở ngoài chợ hay trên Đập Đá, dưới hàng hiên Morin ngoài đường Lê Lợi.


Chiều nào cũng thế đi học ở trường Thế Dạ về, tôi nấu cơm rồi in đầy một đọi, xé


miếng lá chuối đậy lại, một tay bưng cơm, một tay cầm cây đèn bóng đem ra chợ cho


mẹ tôi. Năm lớp nhì, lớp nhất, bốn năm ở Bồ Đề, ba năm ở Quốc Học, công việc đó


đối với tôi hàng ngày vẫn cứ đều đặn. Cho đến năm 1962, tôi đậu tú tài và đi dạy học


ở trường bán công Truồi, thỉnh thoảng lúc nào rảnh tôi mới bới cơm và mang đèn ra


chợ cho mẹ tôi. Vào nhà tôi ăn cơm một mình, lấy sách vở ra học bài, rồi đóng cửa lại


leo lên ngựa nằm ngủ. Khoảng 10 giờ là sớm nhất, thường khi là 11, 12 giờ, có khi 2,


3 giờ sáng, có tiếng chó sủa ngoài xóm, rồi có tiếng hò, rồi một ánh lửa lúc sáng lúc


tối, lúc mất lúc còn lấp loáng qua hàng chè tàu, mẹ tôi về. Tiếng hát vẫn kéo dài mệt


mỏi, áo não cho đến khi mẹ tôi đặt gánh xuống đất, kéo vạt áo lên lau mặt. Những


đêm mùa đông mưa to mới thê thảm. Có khi đến 2 giờ sáng mẹ tôi mới về. Lửa trong


lò vẫn đỏ chập chờn. Cháo còn, lòng còn. Mẹ tôi bảo: con với mấy đứa ăn hết cháo đi.


Còn lòng với thịt thì cái ni xắc ăn hết, còn cái ni luộc lại cho mạ, không thôi siu. Mạ


tôi đi nằm. Tôi kêu thằng Bé, thằng Vinh, anh Tân, những người bạn nghèo khổ hàng


xóm tới ăn cháo. Cháo lúc đó bao giờ cũng ngon. Bốn năm giờ sáng mẹ tôi dậy đi lấy


lòng. Tôi múc nước đổ vào khương đặt lên bếp, nhen thêm một bếp bắc ấm nước sôi,


chế trà. Có mùa mẹ tôi đi bán sớm, có mùa đi bán chiều, mà cũng còn tùy cháo lòng


cháo gà hay cháo vịt nữa. Những buổi trưa ngồi lặt rau sống, những buổi chiều buổi


tối ngồi một mình, mẹ tôi hay hát, khi thì hò mái nhì mái đẩy, khi thì ru em, những


câu hát buồn đau đớn. Mẹ tôi hát và khóc một mình. Những câu hát đó cứ luẩn quẩn


mãi trong trí tưởng tôi suốt cả đời.


Đêm khuya dựa gốc cây bòng


Nước chua gió xuống động lòng em đau


Như lúc này đây tôi đang nằm ở dưới hàng tre ở cái xứ sở xa lạ này, những câu hát đó


vò xé ruột gan tôi. Những câu hát đó lại chập chờn trong ánh lửa thấp thoáng, và mẹ


tôi như một bóng ma, trên vai một gánh cháo mệt mỏi thất thểu giữa đêm khuya mưa


gió, rồi thắp một nạm hương ra sân khấn vài trời đất, khấn vái ba tôi phù hộ cho tôi


còn sống. Sau này tôi mới biết, vì không chịu nổi cái cảnh trống vắng, cô quạnh của


cảnh nhà mà nhìn đâu cũng thấy như tôi có ở đó, mẹ tôi đi bán thỉnh thoảng ngủ luôn


ngoài chợ Vỹ Dạ.


Lần khảo tra tôi ở Hà Nội, thằng cha Lai hỏi vặn tôi: “Anh khai man lý lịch, anh nói


mẹ anh bán cháo ở chợ Vỹ Dạ là nói láo. Chúng tôi biết là mẹ anh mở một tiệm ăn rất


lớn ở Huế”. Tôi nói: “Lúc tôi đi, mẹ tôi bán cháo ngoài chợ. Lâu nay tôi không liên


lạc được với gia đình, tôi không biết gì hết”. Những cái ông này bao giờ cũng muốn


cho người ta nghèo khổ mãi để cho lý lịch được trong sạch. Có nghèo khổ mới căm


thù đế quốc, tư bản, mới trung thành mãi mãi với họ, với cách mạng.


Tôi cứ sống âm thầm một mình thế này, hết đọc sách, đọc báo lại quanh quẩn qua các


nhà hàng xóm uống nước nói chuyện, ngồi xem mấy đứa trẻ chơi đùa. Tôi kiếm giấy


báo cũ xếp tàu bay, tàu thủy cho chúng chơi. Nhiều khi muốn lên chùa Tây Phương


xem cho biết, nhưng phải báo cáo, xin xỏ mấy ông lãnh đạo, tôi cũng chán nên thôi.


Cô Xiêm thỉnh thoảng lén cho tôi Kavet, bismuth.


Một buổi chiều tôi sang nhà anh Cận chơi. Cụ thân sinh anh Cận và anh đang ngồi


uống nước trên bức phản kê sát thềm nhà, thấy tôi ông cụ gọi:


- Chú Đính vào uống chè.


Tôi dạ. Chuyện qua lại một lát. Ông cụ hỏi:


75


- Chắc mấy bác, mấy chú sắp trở về thị xã rồi chớ gì?


Anh Cận nói:


- Mỹ hết đánh bom rồi, các anh cũng không còn ở đây lâu nữa đâu.


Ông cụ nói:


- Chú Đính ạ, tôi cũng như bà con quanh đây, chú Sinh, chú Đại, cô Thuận đều biết


tình cảm của chú. Chú sống ở đây dễ gần một năm rồi. Có một lần, nói thật với chú,


tôi mượn chén rượu làm như tình cờ ngồi nói chuyện với bác Lai. Tôi nói thế này: bác


Lai ạ, việc của mấy bác chúng tôi không dám xen vào, nhưng tôi thấy giữa chú Đính


và mấy bác ở đây có một sự khác biệt về cách đối xử. Các bác, các chú cũng là người


ở chiến trường ra cả, đối xử với nhau như thế cũng không phải cho lắm, củi đậu mà lại


nấu đậu, tôi thấy đau lòng lắm. Chú Đính có những chuyện gì đó chúng tôi không rõ,


tôi chỉ xin nói với bác Lai điều này. Thời gian ở đây chú Đính là một người rất tốt, bà


con ai cũng thương. Bác Lai với bác Nhã sống gần với chú Đính, sau này xin bác báo


cáo lại với tổ chức như thế. Nghe tôi nói thế, ông Lai làm thinh, chỉ ậm ừ những gì đó


rồi nói lãng qua chuyện khác.


Anh Cận nói:


- Nhiều lần nói chuyện với anh tôi cũng hiểu được một phần nào hoàn cảnh của anh.


Bác Nhã cũng đã nói cho tôi biết một ít về anh. Bà con chung quanh họ thấy chứ. Anh


không được đi họp, không được khám bệnh, không được phát thuốc, đi đâu ra khỏi


đây cũng có người đi theo. Bọn trẻ con bảo, chúng cháu thấy chỉ có bác Lai là được


khám bệnh và phát thuốc không thôi. Mà bác Lai lại hay nói tiếng to và nặng lời với


chú Đính. Còn chú Đính thì làm thinh. Nói thật với anh, tôi thấy ông Lai thế nào a. Ở


đây chẳng có ai có cảm tình với ông ấy.


- Cũng may cho tôi, về ở đây có bớt căng thẳng hơn ở thị xã. Tôi cảm ơn hết sức tấm


lòng của ông cụ, của anh, chị Thuận và bà con… với mấy cháu Xuân, Thu, Lan, đĩ


Bình, đĩ Sinh…


Viết đến ngang đây, tôi như đang sống những ngày đó ở Cam Đà với những con


người mà tôi vừa kể tên, tôi thấy rõ từng nét mặt, hình dáng, cửa chỉ, giọng nói của


mỗi người…


Buổi chiều trước khi sáng mai về lại K65 ở thị xã Sơn Tây, tôi nói với ông Lai lấy


cơm về ăn chung một bữa với gia đình chị Thuận cho vui. Tối đó, nhà nào cũng mời


tôi uống nước nói chuyện. Anh Cận cho tôi một lạng chè và một gói thuốc rê. Chị


Thuận cho tôi một bó thuốc lá ngon. Chị nói:


- Khi nào có ai về Sơn Tây tôi gửi thuốc cho chú. Mà chú hút thuốc nhiều quá.


Tôi nói với chị, chị thông cảm cho tôi, về thị xã rồi tôi khó có dịp trở lại thăm chị với


các cháu.


- Thôi, khi nào về thị xã, chúng tôi sẽ ghé thăm chú.


Nói thế, nhưng tôi biết những người ở thôn Cam Đà này có người năm sáu năm chưa


khi nào đặt chân đến thị xã.


Sáng hôm sau tôi dậy sớm cùng bác Nhã đi từ giã hàng xóm. Anh Cận bắt tay tôi:


- Chúc anh mạnh khỏe. Tôi mong mọi sự đều tốt đẹp cho anh. Tôi hy vọng sau này có


dịp vào Huế.


76


Tôi để lại phần bánh mì buổi sáng và buổi trưa cho mấy đứa nhỏ. Tôi xoa đầu đĩ Xuân


và đĩ Thu, rồi bế đĩ Lan lên:


- Chú Đính về thị xã nghe. Khi nào có dịp chú lên thăm mấy cháu. Chúc các cháu học


thật giỏi.


Chị Thuận rơm rớm nước mắt:


- Bác Lai và chú Đính uống một bát chè xanh rồi đi.


Chị quay vào buồng, rồi trở ra:


- Tôi phải ra đồng đây. Bác Lai và chú Đính lên đường mạnh khỏe.


Anh Sinh, anh Đại, anh Cận mang đồ đạt giúp tôi và ông Lai ra xe. Chị Thuận vác


cuốc đi theo, đến ngã rẽ ra đồng, chị nói:


- Chú đi mạnh khỏe, chú Đính nghe. Không lên đây chơi được, chú nhớ viết thư. Mấy


đứa nhớ chú lắm đấy.


Hình như trước ngày chuyển lên K100 một hai hôm tôi có đuồng theo xe đạp một


người nào đó lên Cam Đà thăm bà con.


II – Ở K100 thị xã Phú Thọ


Về lại thị xã, khoảng một tháng sau, ngày 28.03.1973, tôi được chuyển lên K100 ở thị


xã Phú Thọ.


Một buổi chiều, ăn cơm xong, ông Hà, Chủ tịch Hội đồng bệnh nhân, chận tôi ở cổng


nói:


- Anh chuẩn bị đồ đạc sáng mai chuyển lên K100.


Sáng hôm sau, tôi và khoảng 20 người nữa được chuyển lên K100. K100 là nơi dành


cho những người bệnh và sức khỏe đã ổn định ở chờ đi học chính trị hay văn hóa,


nghiệp vụ để vào lại chiến trường hay ra công tác A.


Đối với tôi, việc di chuyển chỗ ở bao giờ cũng thú vị, nhất là ngồi trên xe nhìn những


cảnh vật lạ lùng hai bên đường.


Suốt dọc đường nhiều khi tôi muốn nói một vài câu với những người bên cạnh cho


vui, nhưng tôi ngại là họ sẽ giả lơ, nên thôi. Thỉnh thoảng một vài người trong khi nói


chuyện với người khác quay sang tôi nói một câu, tôi chỉ nghe, hoặc chỉ nói lại một


vài tiếng.


Xe chạy thẳng từ thị xã Sơn Tây dọc theo sông Hồng ngược lên Phú Thọ. Ra khỏi thị


xã 5 cây số là bắt đầu những khoảng không gian rất rộng đầy cây và đồi, cây xanh


từng vùng, từng vạt nhấp nhô, cao thấp theo xe lên xuống trên đường đi. Buổi sáng


trời rất mát, gió thơm mùi lá cây rất lạ, mùi tràm mùi chè, mùi bạch đàn và mùi lúa.


Trên xe chỉ có một người biết rõ những nơi xe đi qua là cô Trai, y sĩ đi theo để săn sóc


bệnh nhân và luôn dịp đi phép thăm quê chồng. Và cô là người duy nhất trong chuyến


77


đi này tôi hỏi chuyện. Cô Trai rất vui, mỗi lần nói là cười thành tiếng. Cô có nước da


trắng mịn, hai má cứ hồng hồng, mũi hơi thấp một chút. Cô có một đứa con trai còn


nhỏ, chồng đi bộ đội. Đúng ra là cô phải đến K100 để bàn giao bệnh nhân, nhưng vì


trái đường, nên giữa chừng cô xin xuống xe. Tôi hỏi cô:


- Gần đến nhà chưa cô Trai


- Dạ, còn 5 cây số nữa cơ ạ. Em phải đi bộ đây.


Đời sống của những người làm việc ở các bệnh viện và các K điều dưỡng của cán bộ


miền Nam làm tôi xúc động và chua xót. Tôi có cảm tưởng không có một người nào


trong họ là giàu hết. Họ chỉ hơn nhau theo bậc lương vài ba đồng. Sự cách biệt lớn


nhất giữa họ quyền lực chính trị, người này là đảng viên, người kia là đoàn viên, quần


chúng. Lương của họ đa số từ 36 đồng đến 50 đồng một tháng; 56 đồng, 64 đồng một


tháng là hiếm, chỉ có những người đã lớn tuổi đã tham gia kháng chiến chống Pháp


mới có số lương này. Tôi không thấy ai trong họ ăn mặt sang hết, hầu hết là kaki màu


bộ đội, vải chéo đen, vải quyến trắng… Những bữa ăn của họ không phải là đạm bạc


mà là tồi tệ, như nhau hết, vài miếng đậu phụ ram, mấy đũa rau muống chấm với một


thứ nước đen sẫm gọi là magi; thỉnh thoảng loáng thoáng một vài miếng mỡ bằng nửa


lóng tay. Họ sống, vẫn sống, vẫn vui vẫn cười, vẫn cố gắng phấn đấu từng ngày từng


giờ từng phút, trong từng cử chỉ, từng lời ăn tiếng nói, từng bước đi, từng cái mỉm


cười, liếc mắt… để được là cảm tình, đối tượng của đoàn, của đảng, để vào đoàn, vào


đảng để trở thành như những người trước kia đã khuyên răn dạy bảo họ, để rồi họ lại


sẽ khuyên răn dạy bảo những người chưa được như họ.


K100 trước kia là trụ sở của Ủy ban hành chính tỉnh Phú Thọ nằm riêng trên một


ngọn đồi cao nhất và đẹp nhất thị xã. Từ đây có thể nhìn bao quát cả thị xã. Tôi và


khoảng mười mấy người ở K65 mới đến, trừ số nữ, được xếp ở trong cái hội trường


rộng thênh thang ngay chính giữa trên gác của tòa nhà một tầng. Khi chúng tôi đến,


các phòng trống không có người ở, chỉ có 32 chiếc giường cá nhân kê sát nhau xếp


thành 3 lối. Tôi chọn cái giường sát tường có lối đi thông cả cửa trước cửa sau. Cạnh


giường tôi sát cửa sau là giường anh Hoàng Huy Bính, người Thọ Xuân, Thanh Hóa.


Một ngày sau, tôi đến gặp ông bí thư chi bộ gác tôi ở, nói: tối nay có chiếu phim ngoài


thị xã, anh cho tôi đi xem cho vui. Ông ta nói: anh cứ đi, lên đây không phải như ở


K65, anh muốn đi đâu thì đi, như anh em khác.


Phú Thọ là một thị xã buồn và yên tĩnh, một thị xã có nhiều khoảng rộng trống không,


và đồi và cây, màu xanh phủ lên màu đất đỏ của những con đường dốc. Lúc mới đến,


xe đi đường sau dọc sông Hồng vào thị xã, tôi hơi sững như cảm giác lúc mới vào thị


xã Sơn Tây. Không thấy phố xá, chỉ loáng thoáng một vài mái tranh rải rác hai bên


đường. Đường thì đất đỏ, dốc, nước chảy xói thành rảnh như những khe diếc. Ở đây


nhà dân, nhà của hợp tác xã hầu hết là tranh tre lá nứa. Nhà ngói là trụ sở của đảng,


chính quyền, là cửa hàng mậu dịch, đồn công an. Ở lâu ngày tôi không thấy có chi


giàu sang với cái thị xã này hết.


Những ngày ở đây tôi thường lang thang khắp thị xã, buổi sáng ở ngoài chợ, cửa hàng


mậu dịch, trên các con đường yên tĩnh; buổi chiều ngoài sân bay dã chiến bỏ hoang


trên các đồi bạch đàn phía sau thị xã, ngoài sân ga. Tôi ít khi đi một mình, thường khi


nào cũng có thêm một hai người thân quen. Lúc này tôi được tự do đi ra ngoài mà


không xin phép, nói chuyện được với những người quen mà không sợ họ tránh né.


Nhiều khi tôi ngồi hàng giờ một mình trên sân bay, trên những khối bạch đàn, trên


78


khoảng trống gần sân ga, hay dưới gốc cây cạnh thư viện thị xã bên bờ sông Hồng cho


đến tối mới về.


Nơi tôi ở là một rừng long não. Long não ở đây to cao như cổ thụ. Mỗi lần đứng trên


gác nhìn ra, thoảng một cơn gió, lá long não rụng như mưa, lách tách rồi lào rào, lào


rào, vang lên vang lên rồi tỏa lan ra; lá rụng đặc một vùng từ trên cây xuống, cả một


khoảng không trước mặt tôi trùm hết lá. Nhiều khi tôi có cảm tưởng như lá không


phải rụng xuống mà từ dưới đất, trên các ngọn cây bay tung lên, bay lên từng lớp tung


cao khỏi ngọn cây, ngọn lên, ngọn xuống, ngọn qua ngọn lại, chao đảo rồi xoáy tròn


lăn tăn lan rộng ra. Ở phía xa dưới những trũng thấp, nơi những khoảng trống, lá long


não bay loãng ra từng chiếc một, rung lên, liệng qua liệng lại. Dưới mặt đất lá chạy


cuốn như sóng xao, rồi tấp vào gốc cây, dồn đống giữa đường, rải đầy sân những màu


vàng úa, màu nâu sẫm, màu vàng đậm lẫn với màu xanh ngọc, dòn tan. Một vùng


không gian mùa lá bay. Tôi cảm thấy mình nhẹ tênh trong mùi long não. Những lúc


đó mà đang đi giữa đường, cả người mình, chung quanh trước mặt sau lưng, lá trùm


kín hết.


Ngày 21.05.1975, ở Huế, tôi có ghi:


Gần 10 giờ đêm


Khi không tôi nhớ lá cây trong mùa hè ở Phú Thọ. Lá không rũ xuống, lá không động


đậy, lá bạc chợt ra. Nắng sáng trắng khô chốc, không có gió. Lá có màu héo. Buổi


trưa tôi cố ngủ một tí. Căn phòng to và rộng, cả giường và chân người, va ly. Lá, lá


long não. Tôi muốn mệt. Tôi cứ nhìn lá hoài. Mơ hồ tôi tưởng như lá cây động đậy.


Lá chết hết rồi. Gió cho thật nhiều cho lá động đậy. Tới chiều thì trời có gió. Lúc đó


nắng đã vàng và lá trở lại như thường. Những buổi trưa ở Phú Thọ yên tĩnh thật. Tàu


lên dốc ngược Yên Bái, máy móc nặng nề và hồng hộc. Người trong tàu quần áo lộn


xộn, mặt mày thừ ra. Tàu chạy không mau được nên không có gió ùa vào.


Cho đến lúc này tôi cũng không viết được gì, ngoài việc ghi chép khi đọc sách. Đó là


điều khổ tâm nhất của tôi. Tôi bị dày vò trong trạng thái đó.


Cho đến năm 1974, trong quyển lịch ghi chép tôi chỉ viết được mấy dòng:


Ngày 12.04.1974


Ở Phú Thọ


Buổi trưa trời nắng như rất xa rất xa nắng tới.


Ngày 28.07.0974


Mùa hè ở Phú Thọ thật là tuyệt vời.


Những buổi trưa đứng bóng, nắng rất to, lá cây như trong suốt trong ánh sáng trắng


của mặt trời.


Buổi chiều hãy đến một nơi rất rộng cho có thật nhiều gió để nhìn núi ở xa, nơi đó


yên tĩnh là vô cùng, yên tĩnh là một cõi.


79


Cuộc sống của tôi ở K100 dễ thở hơn, tuy thế hàng ngày tôi vẫn bị nhòm ngó rất kỹ.


Ở K100, người ta cho tôi dự các cuộc họp, các buổi mít tinh. Tôi được đi nội trong thị


xã mà không cần xin phép. Nhưng tôi vẫn không được yên. Ngoài ông Thụ, bí thư chi


bộ ra, một số đảng viên ở trong phòng có nhiệm vụ theo dõi tôi. Không bao giờ tôi


khóa va li. Sách vở tôi để cả lên giường. Một hôm, vào buổi chiều lúc đó mọi người


đã đi chơi hết, trong phòng chỉ còn có tôi và anh Sâm. Anh Sâm, đảng viên, người


Phong Điền, da đen sậm có lẽ vì bệnh gan. Anh nói:


- Anh Đính, tôi nói cho anh biết, mỗi lần anh đi dự mít tinh hay họp hành, đều có


người đến lục va li của anh đó. Chỗ anh em tôi nói cho anh biết để coi chừng.


Anh Sâm chỉ nói chừng đó rồi lảng sang chuyện khác.


Tôi cũng vẫn phải sống trong dè chừng như thế. Riêng ở phòng tôi ở hầu hết là những


người ở K65 lên, nhưng dần dần họ cũng đi bớt, số người mới khác lại đến. Phần


đông đều xa lạ với tôi. Tất nhiên trong nội bộ đảng họ cũng đã báo cho nhau biết về


trường hợp của tôi, nhưng ít ai để ý, xem chừng gì tôi cho mệt. Nhưng tôi phải biết


phận mình. Ai đến chơi, nói chuyện với tôi thì tôi nói. Tôi không tự tìm đến những


người khác để làm quen. Ở sát giường tôi là anh Hoàng Huy Bính, trước ở Sơn Tây


tôi đã quen và nói chuyện với anh nhiều lần. Anh Bính quê ở thôn Thành Công, xã


Xuân Phong, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa. Anh là một trong số rất ít những người


thân với tôi ở K100. Anh học trung cấp thủy lợi, rồi tình nguyện vào chiến trường, sau


đó bị bệnh, cơ thể suy nhược và được cho ra Bắc chữa bệnh. Anh Bình người đã gầy


mà còn thấp nữa, mắt cận thị nặng. Anh có một cuộc đời rất chua xót và cay đắng.


Anh là nạn nhân của nạn tảo hôn. Sau 1954 vợ chồng anh có quyền ly dị, nhưng anh


nói: “Tôi bảo nhà tôi, đó là số phận của tôi và nhà tôi, bây giờ con cái đã lớn rồi, mình


phải hy sinh cho con cái”. Có người nói anh dại. Mỗi lần đi phép, bao giờ anh cũng


mua quần áo cho các con, cho mẹ, cho vợ. Có lần anh mua một cái áo vệ sinh và bảo:


“Cái này để cho vợ tôi đi làm đồng vào mùa đông đây”.


- Anh biết không, anh Bính nói, con gái đầu của tôi đã lớn, nhưng cho đến nay nó


chẳng biết phở là gì, quá tội đi. Mà nó có bao giờ lên đến huyện đâu. Chuyến này về


phép, tôi phải đưa chúng nó lên huyện, cho chúng biết phở.


Tôi và anh Bính xuống khu học bổ túc văn hóa của cán bộ B kiếm một cái bàn học trò


hư đem về sửa lại, đặt song song với giường của anh và của tôi làm bàn chung. Tôi


nói chuyện với anh Bính không dè dặt. Cuối năm 1976, anh Bính đến Huế, tìm ra nhà


tôi. Gặp anh, tôi mừng hết sức. Anh nói, anh ở Sài Gòn mới ra. Anh bây giờ thích đi


đây đi đó. Sau chuyến đi phép về thăm nhà này, anh sẽ đi Campuchia. Từ đó, tôi


không biết tin tức gì về anh hết.


Anh Bính cũng như những người có quê hoặc có cha mẹ, anh em, bà con ở miền Bắc


thường hay đi phép. Thời gian đi phép của họ có khi 1 tháng, 2 tháng. Thành ra phòng


có 32 giường, số người ở cao nhất là 10, 15 người, nhưng trong phòng bao giờ cũng


trống, nhiều khi chỉ có năm bảy người.


Một hôm, có một ông ở đâu dưới Hà Nội lên làm việc với ban lãnh đạo K100 đến gặp


tôi. Lúc đó tôi đang đọc báo vào buổi trưa. Ông ta người miền Nam tôi không nhớ ở


đâu, khoảng trên 55 tuổi. Ông ta không tự giới thiệu, ông ta làm như tôi có bổn phận


phải biết ông ta là ai. Ông ta nói bâng quơ gì đó, rồi nói:


- Bây giờ đã có hiệp định Paris rồi, chúng tôi xem anh như thuộc lực lượng thứ ba,


như anh em sinh ở miền Nam có tham gia phong trào đấu tranh. Anh đừng lo gì hết.


Sau đó ông hỏi:


80


- Lâu nay có ai ở Cục hoặc ở Ban (Thống nhất) đến gặp anh không?


- Không, không có ai hết.


- Sao thế nhỉ?


Ông ta chỉ nói như thế, rồi đứng dậy đi ra ngoài phòng.


Một lần khác, ông bí thư đảng ủy đến bảo tôi:


- Tối nay 7 giờ anh đến phòng tôi có người ở dưới Ban Thống Nhất cần gặp anh. Anh


đừng lo gì cả. Ông ấy muốn gặp anh nói chuyện bình thường thôi.


Đúng giờ tôi sang phòng ông bí thư đảng ủy. Ông ta rót nước, rồi ra ngoài để cái ông


cần gặp tôi đó với tôi nói chuyện. Ông ta tự giới thiệu ông là người của Bộ Nội Vụ.


Ông ta nói giọng Thừa Thiên:


- Hôm nay tôi gặp anh để báo cho anh biết là chúng tôi không xem anh là CIA.


Tôi cứ ngồi nghe ông ta nói và hoàn toàn không có thái độ gì cả.


Ông ta nói:


- Hình như lâu nay anh không đi đâu cả. Thỉnh thoảng anh nên về Hà Nội chơi cho


thoải mái đầu óc.


- Tôi đi đâu các anh cũng cho người theo dõi, như thế đi có thú vị gì đâu?


- Không, về Hà Nội anh đến nhà tôi ở cho tiện. Nhà tôi ở số… phố Nam Đồng.


- Về Hà Nội mà đến ở nhà anh thì bạn bè tôi chẳng có ai dám gặp tôi nữa.


Ông ta cười:


- Nhưng anh nên đi chơi. Tôi có nói mấy anh ở Cục là nên để cho anh đi phép về Hà


Nội. Rồi ông ta hỏi tôi về sinh hoạt phí. Tôi nói:


- Tôi được xếp 50 đồng.


- 50 đồng à? Người ta xếp cho anh 50 đồng là xem như xóa bỏ quá trình tham gia


cách mạng của anh đó. Được, được, ông ta gật gật đầu, tôi sẽ đề nghị xếp lại mức sinh


hoạt phí cho anh. Xếp như thế không được đâu.


Tối hôm sau, ông ta đến phòng tôi nói chuyện với một vài người quen, rồi lại chỗ


giường tôi.


- Lần nào đến đây, tôi cũng thấy anh ngồi một mình hút thuốc, đọc sách.


Ông ta nói một vài câu cho có lệ, rồi nói:


- Anh cứ sống và sinh hoạt bình thường như anh em khác.


- Nhưng các anh lại không coi tôi như một người bình thường.


Ông ta làm thinh. Đằng nào đối với họ tôi cũng là địch. Không cách này thì cách khác


họ cũng tìm cách triệt hạ tôi, không để cho tôi tồn tại ở đời này như một người bình


thường ngang bằng họ.


Khoảng tháng 6 tháng 7.1973, Nguyễn Hữu Ngô, Hồ Tính Tình lên K100 thăm tôi.


Sau này mỗi lần nhắc lại chuyện này, thằng Ngô cứ cười to ha ha: “Cái thằng Đính!


Lúc đó, hắn đang đứng nơi lan can thấy tao, thằng Tình và thằng Một lù lù dưới thang


81


gác đi lên, mặt hắn sững ra, hắn khựng đi một lúc, như một thằng mất hồn. Chắc lúc


đó mi không ngờ bọn tao có thể lên Phú Thọ gặp mi. Hắn hỏi: “đi mô rứa bây?”. Tao


nói: “đi gặp mi chớ đi mô”. Hồi đó, tao với thằng Tình đang tìm cách gặp hắn, bày


mưu tính kế cho hắn về Hà Nội, không thôi cứ bị giam trên cái K100 ở Phú Thọ có


ngày hắn điên mất, lại gặp lúc thằng Một ở chiến trường ra nhận xe. Sẵn có xe bọn tao


rũ nhau lên Phú Thọ. Bọn tao đưa giấy giới thiệu của Đài Giải phóng cho bọn lãnh


đạo K đề nghị gặp Đính. Bọn này bảo: “Ở đây cũng có một số anh em học sinh sinh


viên ở trong Nam ra, các anh có thể gặp những người đó. “Bọn hắn nhất định không


cho bọn tao gặp thằng Đính, lý do là gặp anh Đính lúc này không tiện, vả lại không có


ý kiến của Ban Thống Nhất và Cục đón tiếp, bọn hắn không thể giải quyết được. Tao


nói là chúng tôi cần gặp anh Đính để hỏi về phong trào đấu tranh của học sinh sinh


viên Huế để viết bài cho buổi phát thanh dành cho Huế. Rứa là tay bí thư đảng ủy nói


với một tay nào đó ngồi bên cạnh: “Thôi, trưa nay… đừng nghỉ trưa nữa”. Và bọn tao


ngồi nói chuyện với thằng Đính dưới sự giám sát của ba bốn ông cấp ủy ngồi uống


nước chơi”.


Thấy mặt thằng Ngô, thằng Tình tôi mừng hết sức và xúc động vô cùng. Chúng tôi


ngồi nói chuyện với nhau bình thường tại phòng tôi ở. Hai lão bí thư đảng ủy và bí


thư chi bộ ngồi bên cạnh, cứ uống nước, hút thuốc ngó nghiêng, ngó ngửa. Thằng


Tình, thằng Ngô cho tôi biết về tin tức bạn bè anh em ở trong rừng và ở Huế. Thằng


Một thì cười cười: anh em ở trong vui lắm, còn sống cũng nhiều mà chết cũng nhiều”.


Thằng Ngô, thằng Tình làm ra vẻ đi liên hệ công tác hỏi tôi về phong trào đấu tranh


của học sinh sinh viên Huế hồi trước. Hai đứa soạn cassette, máy móc chi đó đặt giữa


bàn cho có lệ. Ông bí thư đảng ủy ngồi cạnh tôi cảm thấy lấn cấn và chướng nên giả


vờ có việc gì đó đi ra ngoài. Còn lại ông Thụ, bí thư chi bộ ở cùng phòng với tôi,


nhưng sau rồi cũng quay về giường của mình lấy cớ là có khách. Thằng Tình:


- Mi phải về Hà Nội một chuyến. Tao thấy cái không khí ở đây quá mệt. Tao sợ mi


điên mất. Ông Tường ra rồi, hiện đang ở Hà Nội, mi biết không?


- Tao có biết gì đâu?


Thằng Ngô:


- Tụi tao cứ tưởng là thế nào ông Tường cũng báo cho mi biết là ông đã ra Bắc. Mi


xin phép về Hà Nội gặp anh em nói chuyện cho vui. Mà rồi… cũng phải tìm cách


thoát khỏi đây. Hình như ông Doãn Triều và bà Trai đang vận động cho mi về Hà Nội


Thằng Tình:


- Tao có nghe nói, nhưng Ban Thống nhất không đồng ý.


Tôi nói:


- Bây giờ tao có xin đi phép họ cũng không cho. Để thủng thẳng đã. Bọn mi thấy đó.


Lúc đưa tụi hắn về, tôi nói:


- Nếu tao không về được, lâu lâu bọn bây lên đây với tao một chút.


Độ gần 1 tháng sau tôi xin đi phép về Hà Nội và được họ đồng ý. Tôi xin đi 3 ngày


nên chỉ ở Hà Nội có 2 đêm 1 ngày. Thằng Ngô nói: mi cứ ở đây chơi vài ngày nữa rồi


lên. Không được, tao phải đi đúng phép. Đằng nào thì mi cũng bị rồi. Sợ cái gì? Tôi


mượn một ít sách báo rồi lên Phú Thọ. Thằng Tình chở tôi ra ga mua vé (hình như hồi


82


đó các tuyến đường phía Bắc, vé bán ở bến Kim Liên thì phải). Thấy hàng người xếp


hàng mua vé, thằng Tình ớn:


- Khiếp quá! Làm sao mi mua cho được?


- Mi đừng lo. Hết vé Phú Thọ, tao mua Đông Anh, Việt Trì. Đông Anh, Việt Trì


không có thì mua Yên Bái, Lào Cai. Thôi mi về đi.


Thằng Tình vét túi còn mấy đồng đưa thêm cho tôi: “Lỡ phải mua vé Yên Bái, Lào


Cai”. Lúc đó vé tàu nhanh Hà Nội-Phú Thọ là 2 đồng 2. Chen lấn lách qua lách lại


một hồi, toát mồ hôi hột, tôi mua được vé.


- Còn vé Đông Anh. Không sao, lên tàu mua tiếp, phạt 2 hào.


- Mi cố gắng tìm cách thỉnh thoảng về Hà Nội cho giãn gân giãn cốt ra, nghe mi.


Tôi quên nói là lúc ở chiến trường ra Bắc, anh Tường (Hoàng Phủ Ngọc Tường) có


cho tôi 1 cái radio bán dẫn hai băng bằng bàn tay. Kể từ khi bị đấu, không cách gì tôi


có thể nghe đài BBC hay đài VOA được. Trước kia nghe những đài này tôi cũng phải


nghe lén. Vì đó là nội quy, cấm tất cả mọi người nghe đài địch. Thời gian này tôi mà


mở đài, dù là đài tiếng nói Việt Nam hay đài Giải phóng, tôi cũng sẽ bị theo dõi, để ý.


Những người chung quanh sẽ coi chừng tôi lợi dụng mở đài ta để nghe đài địch. Để


được yên ổn, tôi cất luôn cái radio vào vali, cho nó nằm yên ở đó. Đến Phú Thọ một


thời gian, thấy không khí chung quanh có bớt căng thẳng, hơn nữa căn phòng tôi ở


quá rộng, giường nằm cách xa nhau, lại thường vắng người, tôi bắt đầu nghe đài. Đài


BBC thì không thể nghe được rồi, vì lúc 18 g 30 trong phòng còn đông người. Nếu


muốn nghe tôi phải đến một chỗ vắng ngoài khuôn viên của K100. Nhưng buổi chiều


đi chơi mà đem theo đài người ta sẽ nghi tôi nghe đài địch. Vì chính bản thân họ


muốn nghe BBC hay VOA cũng phải làm như thế. Tôi chỉ có thể nghe đài VOA. Tôi


nhớ lúc đó đài VOA có buổi phát thanh đến 22 giờ mới hết. Tôi đi nằm và áp sát đài


vào tai mà nghe, những cũng không được thường xuyên. Mỗi lần nghe phải tỉnh ngủ


và ngón tay trỏ luôn luôn đặt trên cái volume.


Từ tháng 1.1972 đến khoảng tháng 7 tháng 8.1973 tôi mới được đi xa một mình như


thế. Gặp bạn bè tôi vui, sống và nói năng chẳng cần che giấu và giữ gìn gì cả. Trở về


Phú Thọ tôi sống làm một người làm thinh như trước, sống hiền, không gây gỗ cãi cọ


với ai. Lâu ngày ở Phú Thọ cũng chẳng ai cần để ý đến tôi cho mệt. Tất nhiên là có


một số người trong cấp ủy được phân công theo dõi tôi. Ở K100 này tôi không còn bị


đối xử một cách khinh bỉ, ghê tỡm ra mặt như ở K65 Sơn Tây. Còn những người đã


từng đấu tố tôi ở K65 vẫn nhìn tôi một cách nặng nề, không ưa, nhưng do cái không


khí chung quanh nên họ đối xử với tôi không căng thẳng, trắng trợn như trước. Nhiều


người vẫn đến nói chuyện chơi với tôi, mời tôi uống nước mà hầu hết là những người


mới đến. Ở nhà ăn bây giờ tôi được coi như bình thường. Mọi người đều ngồi ăn với


tôi, và tôi ngồi với họ mà không dè dặt. Trong bữa ăn hay những lúc ngồi nói chuyện,


những chuyện gì có dính dáng đến thời sự và chính trị tôi không đề cập đến. Mà thật


ra ở những nơi này người ta không bao giờ nói chuyện chính trị, bởi vì tất cả mọi


người đều cùng một chính kiến, một lý tưởng như nhau. Họ chỉ có học chính trị.


Ngoài Lê thị Thu, Nguyễn Thị Mộng, Hoàng Huy Bính và một vài người nữa là thân


mật với tôi, còn những người khác họ vẫn giao tiếp bình thường với tôi, nhưng vẫn


luôn luôn có thái độ dè dặt và thận trọng, không tỏ ra xem tôi là bạn.


Tôi không cố gắng sống cho vừa lòng những người chung quanh. Tôi sống thành thật


với mình. Tôi không dối trá họ, không tỏ ra mình là một người biết ăn năn hối cải


83


trước sự khoan hồng và độ lượng của đảng bằng hành động cử chỉ hay thái độ sợ sệt,


cúi đầu. Tôi sinh hoạt bình thường như từ trước đến nay. Ăn, ngủ, đọc sách, đi chơi


theo giờ giấc. Chỉ tiếc một điều là tôi không làm được thơ, không ghi lại được những


suy nghĩ của mình về mình, về cuộc đời, về cuộc sống chung quanh. Ngày nào tôi


cũng đọc sách. Đến K100 vài ngày, tôi rũ anh Bính ra thư viện thị xã Phú Thọ. Lúc đó


thư viện đang kiểm kê và đóng gói sách để chuyển về thư viện tỉnh ở Việt Trì. Chỉ có


phòng đọc báo và phòng đọc của thiếu nhi do cô Mai phụ trách mở cửa. Thấy anh


Bính và tôi ngày nào cũng siêng năng chăm chỉ đến đọc sách báo và ghi chép, cô Mai


bảo: “Thư viện không cho mượn sách về nhà, nếu các anh cần có thể mang về đọc,


khi nào trả cũng được”. Lúc này tôi đang đọc cuốn 3, tập 3 bộ Tư bản của Karl Marx.


Bà Hồng, phụ trách thư viện, rất tử tế với chúng tôi. Có nhiều cuốn chúng tôi cần đọc,


nhưng đã đóng gói, bà cũng lấy ra cho chúng tôi mượn. Bà dẫn chúng tôi vào kho


sách để chúng tôi chọn.


Mùa đông ở Phú Thọ rất khó chịu, khô và rét. Trời cứ mù mù như có sương và đường


đi vẫn có bụi. Buổi sáng buổi chiều đứng bên này sông Hồng không nhìn rõ bên kia


sông được, cây cối và nhà cửa lờ mờ. Những đêm mưa nghe tiếng còi tàu thức dậy, cả


phòng tôi ở bao giờ cũng trống vắng. Anh đèn lù mù ngoài hành lang. Tàu lên dốc đi


Yên Bái, tiếng máy thở hộc, nặng nề mệt mỏi như tiếng thở của con lợn bị cắt tiết cố


vùng vẫy. Tiếng còi đứt nửa chừng, con tàu khuất sau dãy núi. Rồi tiếng máy lại hộc


hộc, con tàu ra khỏi dãy núi đang uốn cong mình cố trèo lên dốc, tiếng máy nhỏ dần,


cứ khi to khi nhỏ, cho đến khi còn nghe như một mũi kim trong trí óc tôi. Mùa lạnh


tôi hay thức giấc vì cơn dạ dày. Nhiều đêm ngủ không được tôi nằm đợi nghe tiếng


máy thở hộc lên dốc, sắp lòn qua cầu dưới chân dốc, tàu kéo còi…


Ngủ quên thì thôi, thức thì nhớ mà đợi. Tàu vào ga Phú Thọ rồi… tàu sắp chạy… tàu


qua dưới cầu… tàu leo dốc… tiếng máy hộc xa, tiếng máy hộc gần… rồi xa… tiếng


còi the thé… tàu khuất núi rồi.


Tôi không đi đâu hết, không về Hà Nội, loanh quanh luẩn quẩn ở cái thị xã này, mệt


mỏi chán nản, không buồn không vui, nhiều lúc quanh quẩn với một vài người hiểu


mình, thương mình, nhiều lúc buổi sáng buổi trưa buổi chiều, nửa đêm một mình


mình. Có lúc buổi chiều tôi ngồi một mình ngoài sân bay bỏ hoang cho đến bảy tám


giờ tối. Có lúc tôi lang thang trong các đồi bạch đàn vào buổi sáng sớm, rồi ngồi dưới


một gốc cây trên triền dốc ngó qua bên kia sông Hồng. Có lúc nửa đêm ngủ không


được, tôi dậy nấu nước pha trà uống một mình ngoài hành lang. Tôi cảm thấy mình


không muốn gì cả. Tôi như cứ chập chờn vừa thức vừa ngủ trong cuộc đời này. Tôi


không khuây khỏa được.


Tết này (Giáp Dần 1974) chắc cũng nên về Hà Nội lang thang với bọn thằng Ngô ít


ngày cho vui. Nói thế thôi, rồi tôi cũng chẳng nghĩ tới chuyện đó nữa. Còn 1 tháng


nữa mới Tết, những người quê ở Quảng Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Lào Cai, Hà


Bắc, Lạng Sơn, Cao Bằng… đều đã đi phép. Khoảng 15 tháng chạp, căn phòng tôi ở


đã trống vắng. Người nào đi cũng nói với tôi: “Gói đồ đạc cho anh đó, anh Đính


nghe”. Trước khi về quê ăn tết, anh Bính bảo tôi: “Tôi biết Tết này anh ở đây một


mình rồi. Tôi cố lên sớm với anh cho vui”. Những ngày giáp tết, thị xã Phú Thọ cũng


như ngày thường, tôi không thấy có chi sửa soạn, dọn dẹp hết. Chỉ ở cửa hàng mậu


dịch, người ta đông đảo chen lấn mua tiêu chuẩn hàng tết, nhưng toàn là cán bộ công


nhân viên. Sáng 30 tết tôi mua 1 lạng cà phê ở một quán nước dưới dốc bên kia cầu để


uống mấy ngày tết. Tôi chặt một cành trúc đào thật lớn và kiếm một cái thùng thiếc


hư đổ cát vào cắm lên để sát tường ngay giữa phòng. Cành đào này có đến 15 tháng


84


giêng âm lịch mới nở bông, và nở đều rất đẹp. Trưa 30, trong phòng chỉ còn một


mình tôi. Tôi kiếm dây cột chặt các cửa sau, cửa giữa và cửa hông lại, chỉ chừa một


cửa ra vào. Tôi dồn vali, chăn màn của những người đi phép vào một góc. Đến bữa ăn


trưa nhà ăn chỉ có độ mươi người ăn. Những người không đi phép cũng đã đi chơi


quanh quẩn ngoài thị xã. Buổi chiều tôi cũng không buồn đi đâu. Trời lạnh lắm. Căn


phòng rộng thênh thang này bây giờ chỉ còn tôi với ông già Tuần, người Quảng Ngãi,


mà ông ta cũng đã vào thăm bà con ở trại thương binh gần đó. Khi đi ông bảo tôi, có


thể về, có thể không, khi nào về ông kêu cửa.


Tối đến tôi tính ra thị xã chơi, nhưng rồi thôi. Tôi bỏ cà phê vào một miếng vải, cột


túm lại, chế một cốc thật đậm, rồi pha vào một ít rượu chanh ngồi uống một mình. Cà


phê trộn gạo rang hay một thứ bột gì đó, cũng đỡ, có còn hơn không. Tôi uống từng


ngụm, đăng đắng, chát chát, cay nồng, hơi chua. Gió thổi qua những lỗ trống của dãy


cửa kính vỡ phía sau nghe hù hù, có khi lặng đi một lúc rồi cành lá bên ngoài lao xao,


một cơn hú vào phòng rung cánh cửa lách cách lục cục. Ngoài hành lang phía trước


đèn sáng. Ở đó, giữa ban công của tòa nhà, người ta bày một bàn thờ, có cờ đảng, cờ


tổ quốc và chân dung chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi ra ngoài đứng ở phía không có ánh


sáng nhìn ra xa. Gió cứ lào rào trên những hàng long não. Thấp thoáng ở xa nữa dưới


chân dốc một vài ánh đèn dầu. Trước mặt tôi, tối đen, chỉ có gió và lá cây rụng.


Không nghe một tiếng pháo. Khác với những ngày thường, chung quanh đây, dưới


kia, lúc này bao giờ cũng ồn ào, tiếng rađio, tiếng cười đùa la hét của những người


đánh bài, tiếng gọi nhau… Bây giờ thì im vắng, loáng thoáng có tiếng radio rất nhỏ.


Tôi vào phòng đóng cửa lại, ngồi lên giường nhấp rượu nghe gió hút qua phòng. Tôi


chẳng thấy ngon lành gì cả. Một chút cay cay nồng xé ở mũi, nóng ở cổ, ấm trong


bụng. Tôi cứ uống từng chút, từng chút, rồi pha một ấm trà. Ngoài hành lang thỉnh


thoảng có người đi qua đi lại. Tôi tắt bớt đèn, rồi đi nằm. Thôi ngủ cho rồi. Không


biết bao lâu nữa, có tiếng gõ cửa và gọi tên tôi. Tôi dậy mở cửa.


- Anh ngủ rồi à?


- Không, tôi nằm chơi


- Gần giao thừa rồi. Anh ra uống trà, nghe chúc Tết.


Đó là ông bí thư đảng ủy. Ông ta không đi phép. Cực chẳng đã tôi ra ngoài. Hết


chương trình chúc Tết của Đài tiếng nói Việt Nam tôi vào nằm ngủ. Tôi cứ chập chờn


mơ mơ màng màng. Tiếng cửa lạch cạch, tôi mở mắt nhìn quanh phòng. Tựa hồ như


có tiếng mở dây thép ở cửa ra vào không phải. Gió. Tôi nhắm mắt lại.


Sáng mồng 1 Tết tôi ra thị xã, đi hết các ngả đường, ra ga, ra chợ. Không thấy Tết gì


hết, không thấy cái gì mới hết. Cờ treo trước các cơ quan. Mọi người vẫn như thường.


Không thấy trẻ con đi chơi Tết. Cửa hàng công nghệ phẩm mở cửa, ít người tới. Cửa


hàng ăn uống ngoài ga vắng khách. Buổi trưa ở nhà ăn chỉ lèo tèo ba bốn người.


Chiều mồng 1, sân vận động Phú Thọ tổ chức đá bóng. Hết chuyện chơi. 9 giờ tối,


ông già Tuần về. Ông cho tôi 1 đùi thịt vịt nướng.


- Đêm giao thừa tôi định ra, nhưng mấy đứa cháu không cho. Tết gì mà ở cái thị xã


này chẳng thấy Tết gì cả. Ai đời mồng 1 Tết mà lại đá banh. Tức cười.


Ông Tuần lấy cái bi đông Mỹ rót cho tôi một chén rượu. Tôi uống một hơi:


- Ngon thiệt. Tiếc là tôi không sành uống rượu.


- Quốc lủi đó. Dân họ cất lấy. Anh làm thêm một chén nữa. Mồng 3 tôi mới về Hà


Nội. Anh không đi đâu cho vui?


85


- Tôi không có bà con ở ngoài này.


- Kệ, tới nhà một thằng bạn nào đó cũng được.


Sáng mồng 2 tết, ông già Tuần lại vào chỗ mấy đứa cháu. Tôi còn một mình. Đang


loay hoay lục soạn mấy cuốn sách, thì anh Bính xách ba lô chạy ào vào.


- A, anh Bính, sao lên sớm thế?


- Tôi biết anh ở đây một mình buồn. Tôi đã hứa là lên sớm với anh cho vui.


- Tôi nghĩ sớm lắm là mùng 5, mùng 6 anh mới ra.


Anh Bính ngó chung quanh:


- Chưa ai về hết à?


- Còn lâu.


Tôi chỉ những chồng bánh chưng để trên bàn:


- Có phần của anh, phần của những người khác đó. Ăn chi hết.


Anh Bính lục ba lô lấy mấy thứ của ngon vật lạ ở quê ra:


- Tôi đem cả bánh chưng ra nữa đây.


Tôi chế trà. Anh Bính lau mặt rồi hỏi:


- Tết ở đây thế nào, có vui không?


- Buồn và vắng hơn ngày thường.


- Ở trong tôi cũng thế. Trẻ con chẳng có gì mới cho ra Tết hết cả.


Có hơn nửa năm sau, ngày 18.04.1974 tôi mới về lại Hà Nội. Lần này tôi xin đi 1


tuần, nhưng ở Hà Nội đến 14 ngày. Đến Hà Nội tôi tìm gặp thằng Ngô và thằng Tình


ở 58 Quán Sứ. Thằng Ngô bao giờ cũng cái giọng:


- Tao tưởng mi bị đi cải tạo ở K3 rồi. Răng lâu rứa mi?


Tôi hỏi thằng Thanh (tức Tình) đâu không thấy, hắn nói đi mô đó. Bữa ni hắn có bồ


rồi nghe mi. Đứa mô rứa? Con… con nớ đó. Mi gặp rồi chớ. Có, loáng thoáng… hình


như có đi thanh niên xung phong, bây giờ đang viết văn phải không?


Tôi với thằng Ngô ra ngoài uống nước chè.


- Mi có quen thằng Thái Ngọc San không?


Thằng Ngô hỏi tôi.


- Không, hồi ở trong Nam tao có đọc thơ hắn đăng trên Văn, Văn học hay đâu đó. Tao


chưa gặp hắn bao giờ.


- Hắn ra đây rồi. Thằng San vui lắm. Mai đi gặp hắn nói chuyện cho vui. Hắn ở K5B.


Cả thằng Võ Quê cũng ra rồi.


Sáng hôm sau thằng Ngô chở tôi về K5B ở Quảng Bá. K5B là nơi dành cho cán bộ


trung cấp ở miền Nam chữa bệnh và an dưỡng. Thằng San cao dềnh, khác với trí


tưởng tượng của tôi hình dung qua thơ và cái tên Thái Ngọc San của hắn, một anh


chàng nhỏ thó, vừa phải. Thằng San lúc đó mặc quần áo bệnh viện. Hắn, thằng Ngô


và tôi ngồi trên ghế đá cạnh bụi trúc bên hồ Quảng Bá nói chuyện. Tôi có cảm tình và


thân ngay với thằng San từ đó. Đến giờ khám bệnh bọn tôi về và hẹn dịp khác gặp lại.


86


Tôi ở Hà Nội chơi với bọn thằng Ngô, Tình, đến chơi nhà chị Ngọc Trai, anh Doãn


Triều, đến với mấy đứa nhỏ ở trường Chu văn An… Gần hết phép tôi sang K10 ở Gia


Lâm, nghe nói có nhiều anh em ở Huế mới ra ở bên đó. Tôi gặp thằng Nguyễn Đắc


Xuân ở đây. Hắn đau gan thì phải, trông hắn xanh và ốm. Hắn mới được kết nạp đảng


và đang còn thời kỳ dự bị. Tôi hỏi thăm bạn bè, hắn nói:


- Thằng Điềm ký giấy sinh hoạt đảng cho tao đó.


Trước đó ngày 30.07.1973, thằng Điềm có viết cho tôi:


“Vừa rồi anh Tường ra Hà Nội, Đính có gặp không?... Tháng 4.1973, đổ về trước


mình đi đồng bằng, có về Ưu Điềm. Ngày Hiệp định có hiệu lực là ngày mình ở đó,


nhưng lại là ngày choảng nhau. Từ đó đến nay mình về rừng làm báo Cứu Lấy Quê


Hương.


………. “Mình vẫn ở trong rừng. Chuyện phục hồi của mình vẫn chưa giải quyết


được. Chỉ vì mình đi ở nhiều cơ quan, đi công tác luôn. Mình không buồn rầu lắm vì


mọi người chung quanh cũng hiểu mình”.


Hết phép, tôi định lên Phú Thọ, thì ông Hoàng Lanh, Phó bí thư thành ủy Huế ra công


tác ghé lại K10. Ông Lanh nói tôi ở lại để làm việc với ông. Tôi bảo tôi phải đi đúng


phép, không được trễ hạn. Nếu ông muốn tôi ở lại làm việc với ông, ông phải báo cho


Ban Thống Nhất và Cục đón tiếp cán bộ B biết. Ông Lanh nói: “Cậu đừng lo, tôi sẽ


điện báo cho các anh biết là cậu phải ở lại Hà Nội để làm việc với Thường Vụ Thành


ủy Huế”. Ý ông Lanh lúc đó là muốn tôi vào Quảng Trị làm công tác giáo dục. Ông


nói: “Cậu cứ yên tâm về K100. Có gì tôi sẽ báo. Hiện nay Quảng Trị đang cần những


người như cậu”.


Về Phú Thọ, Lê Thị Thu một lần đi chơi với tôi có nói: Lần nào anh về Hà Nội cũng


có đứa đi theo. Anh có biết đứa nào không? Cái thằng mê con Đào Quảng Ngãi đó.


Anh đừng tin mà nói chuyện với hắn chi hết đó. A thằng Tân, phải thằng Tân. Hắn


đâu có phải là đảng viên. Thu: không đảng viên mới phấn đấu. Phấn đấu thì vô trong


rừng mà phấn đấu. Ưng vô đảng mà lại sợ chết. Tôi sực nhớ ra thằng Tân ở cùng một


phòng với ông bí thư đảng ủy. Vậy là hắn bị dụ. Hắn là 1 thằng khoảng gần 30 tuổi,


ốm yếu cả về cơ thể lẫn tinh thần. Giọng nói hắn cụt và nghe những tiếng cuối cùng


hay bị mắc trong cổ. Cười, thì hắn cười rộng miệng. Tôi nghi là hắn hoàn toàn bị động


về việc theo dõi tôi. Khoảng năm 1978, 1979 tình cờ tôi gặp hắn ở Ty thương binh xã


hội. Hắn đã có vợ người Hà Nội. Hắn vẫn ăn mặc tươm tất, đầu chải ướt và vẫn không


vào đảng được.


Ngày 20.05.1974, tôi nhận được thư của Nguyễn Đình Nghĩa đề ngày 14.05.1974 ở


Lệ Kỳ, Quảng Bình. Nghĩa báo tin cho tôi biết người anh bạn con dì của tôi là Lê Văn


Sắc vẫn còn sống. Tôi mừng vô cùng. Lâu nay bạn bè chúng tôi vẫn nghĩ là Lê Văn


Sắc đã chết ở Phú Vang lúc rút ra khỏi thành phố trong đợt tổng tấn công đầu xuân


Mậu Thân 1968. Có người bảo là đã thấy Lê Văn Sắc ôm khẩu AK chết gục đầu trên


giường ruộng. Thật ra lúc đó anh bị bắt và bị giam ở Phú Quốc. Sau hiệp định Paris,


anh được trao trả và bây giờ đang an dưỡng ở T72, Sầm Sơn – Thanh Hóa. Lê văn


Sắc, Nguyễn Đình Nghĩa và tôi cùng thoát ly lên chiến khu 1 lần, 6-1965. Cuối năm


1966 trên đường đi công tác, Lê Văn Sắc lọt vào ổ phục kích của địch ở Châu Chữ –


Nam Hòa, bị bắt và bị giam ở lao Thừa Phú. Đầu năm 1968, giải phóng nhà lao, ra tù


87


chưa được 1 tháng, anh lại bị bắt. Nghĩa cùng bị bắt trong đợt này lúc trên đường rút


lên xanh. Cả hai đều được trao trả cùng một lúc.


Sau khi trình bày với ông trưởng phòng và bí thư chi bộ, tôi đến gặp ông bí thư đảng


ủy trình dơn xin đi phép vào Sầm Sơn thăm người anh. Ông Bí thư đảng ủy phê trong


đơn: “Đồng ý. Đề nghị K100 cấp giấy phép cho anh Đính”. Ông Hý, trưởng K100,


người Bình Định, nhìn tôi:


- Anh đi gì mà đến nửa tháng?


- Tôi phải về Hà Nội hỏi thăm tin tức về anh tôi và đường đi đến T72.


- Thôi được. Anh đi 10 ngày là đủ rồi.


Sáng 22.05.1974, tôi về đến Hà Nội. Đây là lần thứ hai trong năm 1974 tôi về Hà Nội.


Tôi loanh quanh ở Hà Nội hỏi thêm tin tức về Lê Văn Sắc và Nguyễn Đình Nghĩa cho


đích xác. Ngày 27.05.1974 tôi về Sầm Sơn. T72 là nơi đón tiếp những người được


trao trả từ Phú Quốc. Sau thời gian bồi dưỡng sức khỏe, học tập chính trị, những


người này sẽ được phân loại để sắp xếp công tác. Nhà cửa ở đây làm theo kiểu láng


trại dã chiến, tranh tre lá nứa. Chung quanh không có cây cối, nhưng vì sát bờ biển


nên rất thoáng mát. Cuộc gặp gỡ không ngờ giữa anh em bạn bè chúng tôi quá xúc


động. Có thằng mình không ngờ lại gặp được ở đây. Thằng Nghĩa, anh em trong xóm


gọi là Chó Chữ (lúc nhỏ tên Chó, con bác Chữ) bị Mỹ bắn què chân, bây giờ phải đi


cà niễng, ôm vật tôi trên sạp tre, chảy nước mắt. Ông anh bạn con dì tôi, mới trên


dưới 35 tuổi mà tóc bạc trắng, má tóp, răng hư, người gầy như que củi. Những cuộc


tra tấn và những ngày biệt giam ở Phú Quốc đã làm cho con người anh ta như thế.


Thằng Nguyễn Đình Nghĩa có khá hơn, còn sức, nhưng cũng đã đừ ra rồi. Rồi cùng


với những anh chị em mới quen biết khác, chúng tôi quây quần nói chuyện, chuyện


cũ, chuyện mới, lúc buồn có người khóc, lúc vui chùi nước mắt cười to tiếng. Ba bốn


cô gái ngồi đó, cô nào cũng ốm tóp, xanh xao, đôi mắt cũng chưa hết vẻ thất thần.


Mấy cô nói: “Có ở tù như bọn em đây mới hiểu được nhau. Nói thật, bọn con gái


chúng em chẳng có đứa nào còn tốt lành hết. Như em thì cũng bị mấy chục thằng.


Thân tàn ma dại hết rồi. Đứa nào bây giờ cũng bịnh. Bọn con gái phục vụ ở đây


không dám đi chung nhà tiêu với tụi em. Bọn hắn sợ lây. Nói vô duyên chớ, sau này


ai mà thèm lấy bọn em”. “Thôi tù lấy tù cho rồi”. “Chưa chắc”.


Anh Sắc cho tôi biết là người em ruột của anh tên là Lê Văn Tư cũng đã chết. “Ra


khỏi nhà lao, tao về nhà kéo thằng Tư đi theo. Trên đường rút lên núi, lúc lội qua sông


ở Hà Trữ – Vinh Thái, thằng Tư bị trực thăng bắn chết, tìm không ra xác”.


Tôi ở Sầm Sơn được năm, sáu ngày. Đáng lẽ tôi ở thêm vài ngày nữa, nhưng một đợt


học tập, kiểm điểm ở đây sắp bắt đầu. Trong thời gian học tập, mọi người phải hạn


chế việc tiếp khách và không được ra khỏi trại. Anh Sắc bảo tôi: Khoảng 1 tháng nữa,


học tập xong, anh sẽ ra Hà Nội.


Từ đó, 1 vài tháng tôi lại về Hà Nội. Chị Trai và anh Doãn Triều cho tôi biết là Ban


Thống Nhất không đồng ý cho tôi về Trại sáng tác B ở Hà Nội. Anh Triều nói: “Chỉ


có cách về Trại sáng tác B mới cứu được mầy. Mầy còn ở các K điều dưỡng thì có


ngày khô xương”. Chị Trai nói: “Mình sợ cậu sẽ điên mất”.


Khoảng tháng 6, 7, Thái Ngọc San lên Phú Thọ gặp tôi. Một buổi sáng, khoảng 5 giờ,


lúc đó trong phòng mới có 1 vài người dậy, tôi đang ngồi uống nước với anh Bính,


thằng San lù lù bước vào. Mi mò cách răng mà lên đến đây? Tao lên Hương Canh,


88


nhưng đến Hương Canh nghĩ lui nghĩ tới tao ngồi luôn trên tàu, đi thẳng lên đây.


Thằng San ở chơi với tôi gần một tuần.


Tôi ở Phú Thọ thêm một mùa xuân, một mùa hè, một mùa thu và một mùa đông nữa.


Trong trí nhớ của tôi, chỉ còn những hình ảnh về mùa hè và mùa đông ở đây là rõ


ràng. Tôi nhớ lẫn lộn bầu trời, cây cối giữa mùa thu và mùa đông. Còn mùa xuân thì


hầu như tôi không nhớ gì hết. Tôi ghi trong cuốn sổ lịch.


Ngày 14.10.1974


Buổi sáng mùa đông đầu tiên ở Phú Thọ, gió dư của cơn bảo số 8 đang rớt ngoài vịnh


Bắc Bộ. Lạnh trong con mắt, nơi vết loét cũ của dạ dày tôi rồi. Những buổi sáng mùa


đông ở Vỹ Dạ, trời lạnh và cây cối khô ráo; những hàng sầu đông rất buồn.


Ngoài a-trô-pin ra tôi không còn một thứ thuốc dạ dày nào khác.


Trong tình cảnh của tôi lúc này tôi chẳng viết gì được. Kinh khủng nhất là tôi không


nghĩ tới chuyện làm thơ. Tại sao lúc đó tôi không nghĩ cách viết lén lút, rồi nhờ bạn


bè cất giấu. Tôi mệt mỏi. Tôi không làm thơ, tôi không viết nhật ký, tôi chỉ ghi chép


lúc đọc sách. Tôi cứ sợ nếu sau này tôi có cơ hội viết thì biết đâu tôi đã rã rời rồi. Óc


não tôi đã lỏng ra. Những tư tưởng, suy nghĩ của tôi không biến được thành chữ


nghĩa. Tôi bị dồn nén, tôi quẫn trí, tôi quanh quẩn với mình. Dạ dày tôi cứ rỉ máu,


những cơn đau lên ngực, thốn thấu não. Lửa bốc trong đầu tôi. Tôi rã rời. Tôi điên rồi.


Nhiều khi tôi muốn hét lên một tiếng thật to rồi hộc ra một đống máu. Quá tức, tôi là


một thằng tù không bị giam trong ngục và những người chung quanh không bao giờ


thả tôi ra.


**************


III. Về Hà Nội


Sáng 17.01.1975, ông Thụ, bí thư chi bộ gác tôi ở bảo tôi xuống văn phòng lãnh đạo


K để làm việc. Không biết có chuyện gì đây? Tôi nói với anh Bính: Chắc tôi sắp


chuyển đi đâu đây. Anh Bính nói: tôi mong mọi việc đều tốt lành cho anh.


Tôi xuống văn phòng. Ông Hý, trưởng K100 và ông bí thư đảng ủy khối bệnh nhân đã


ngồi đó. Ông Hý nói:


- Có lệnh chuyển anh về Cục.


Ông đưa cho tôi 1 tờ giấy. Đó là công văn số 104CB/CĐ ngày 15.01.1975 của Cục


đón tiếp cán bộ B do ông Phan Văn Thuận, Cục phó, ký điều tôi về Cục, không nói để


làm gì.


Ông Hý nói:


- Anh chuẩn bị đồ đạc khi nào có xe về Hà Nội chúng tôi báo. Về đó anh sẽ biết lý do.


89


Tôi đoán là anh Triều và chị Trai vận động cho tôi về Hà Nội đây.


2 ngày sau, người ta báo cho tôi hiện nay K không có xe về Hà Nội, do đó tôi phải đi


tự túc, tiền tàu xe Cục sẽ thanh toán. Tôi biết ngày hôm trước có một chuyến xe đưa


mấy ông lãnh đạo ở đây về Hà Nội họp nhưng họ không muốn cho tôi đi cùng với họ.


Nhân cô Thu và cô Đào về Hà Nội, tôi nhờ hai người mang vác đồ đạc giùm. Trước


khi đi tôi tặng anh Bính cuốn Tự do của Roger Garaudy. Đưa tôi ra ga, anh Bính nói:


“mong anh đi một nơi nào khác không phải là 1 K điều dưỡng. Bọn mình sẽ gặp nhau,


tôi sẽ vào Nam lại”.


Ngày 21.01.1975 tôi về đến Hà Nội, vất vả nhất là bọn tôi phải ôm đồ đạc từ ga Hàng


Cỏ đến chợ Đồng Xuân để lên tàu điện về trường Chu Văn An (?) rồi từ đó đi bộ qua


11A Hoàng Hoa Thám.


11A Hoàng Hoa Thám – Cục đón tiếp cán bộ B, cái cổng mở toác hoác, đường qua


cổng không có bực cấp mà chỉ là một cái dốc chuồi xuống. Tôi quá ớn và quá chán cái


chỗ này rồi. Tôi vào gặp ông Phan Văn Thuận, Cục phó.


- Anh mới về à? Mấy bữa ni tôi chờ anh. Thôi thế là tốt rồi.


Ông Thuận cho tôi biết là Tiểu ban văn nghệ miền Nam thuộc Hội liên hiệp văn học


nghệ thuật Việt Nam xin tôi về Trại sáng tác B và các anh trên đã đồng ý. Ông Thuận


bảo:


- Tôi sẽ báo cho anh Doãn Triều và chị Ngọc Trai biết. Anh cứ ở lại đây. Cứ thong


thả. Anh muốn đi đâu cũng được. Giấy tờ chuyển anh về đã xong hết. Đây, anh cầm


lấy.


Tôi ra chỗ hội trường là nơi tạm nghỉ báo cho Thu và Đào biết. Đào nói:


- Bọn em mừng cho anh.


Tôi cười, chắc là tôi còn nhiều gian nan nữa. Đào bảo Thu ở lại giúp tôi sắp xếp lại đồ


đạc một chút, Đào có việc phải đi.


Trưa đó cả chị Trai và anh Doãn Triều đến.


- Cảm ơn anh Triều và chị Trai vô cùng.


Chị Trai nói:


- Điều quan trọng là cậu phải về với bọn mình cái đã. Sau đó thì thế nào hẵng hay.


Anh Triều:


- Chỉ có cách đưa mầy về đây mới cứu được mầy. Mầy ở đây nghỉ. Sáng mai tao lấy ô


tô đưa mầy về. Mầy sẽ để đồ đạc ở nhà bà Trai. Mọi việc sẽ sắp xếp sau.


Tôi nói:


- Ngày mai tôi sẽ mang đồ đạc đến nhà chị Trai. Tôi sẽ nhờ bọn thằng Ngô.


Chiều hôm đó, tôi đến 56 Quán Sứ gặp thằng Ngô. Sáng hôm sau hằn với thằng Tình


xuống 11A Hoàng Hoa Thám, chở đồ đạc của tôi về nhà chị Trai ở 6 Lý Thường Kiệt.


Thấy tôi, thằng Ngô cười:


- Răng rứa mi? Tụi hắn buông tha giả dớm mi rồi à? Thoát được, ở gần với bọn tao là


vui rồi. Dù sao thì cũng đỡ khổ.


Thằng Tình nói:


90


- Theo bà Trai thì mi coi như công tác A, nhưng vẫn hưởng chế độ B.


Thằng Ngô:


- Tức là Ban Thống nhất với cái Cục đón tiếp vẫn quản lý mi.


Tôi cười:


- Tao đã được thả ra đâu. Đời nào tụi nó chịu buông tha tao.


Buổi trưa hôm đó, thằng Ngô, thằng Tình và tôi ăn cơm ở nhà chị Trai. Tôi nói với


chị Trai trong lúc chờ đợi sắp xếp việc làm, tôi ở chơi với bọn thằng Tình. Mới đầu


anh Triều và chị Trai định đưa tôi ở một căn phòng nào đó của một đoàn văn công,


nhưng đoàn này đi diễn xa chưa về. Sau đó, chị Trai bảo tôi tạm thời ngủ tại phòng


làm việc của Tiểu ban văn nghệ miền Nam ở 51 Trần Hưng Đạo. Nhưng ở đó việc đi


lại hơi vất vả, đi chơi khuya về kêu cửa rất khó, mà bạn bè đến gặp cũng quá phiền.


Cuối cùng anh Triều và chị Trai đưa tôi về ở nhờ nhà anh Châu Đình Du trong khu


tập thể bên ngoài phòng triển lãm Vân Hồ. Ngày 27.01.1975 tôi về nhà anh Du. Anh


Châu Đình Du, người Huế là một nhà điêu khắc nổi tiếng ở Hà Nội. Vợ anh là người


Hà Nội. Vợ chồng anh có hai đứa con gái còn bé và một đứa con trai đang ăn bột. Nhà


anh chật. Anh cho tôi mượn cái ghế bố kê ở lối ra vào cạnh cái bàn tiếp khách nhỏ


làm chỗ ngủ. Anh chị Du đi làm suốt ngày. Cả hai vợ chồng đối đãi với tôi rất tốt. Nói


là ở trại sáng tác B, nhưng thật ra tôi cũng chẳng biết mặt mũi cái Trại sáng tác này


như thế nào. Tôi biết anh Triều và bà Trai tạo điều kiện cho tôi về Hà Nội, thoát khỏi


cái cảnh tù túng lâu nay của tôi. Công việc của tôi được giao là tìm đọc những bài viết


về văn học và triết học ở miền Nam trên sách báo miền Bắc và ghi lại những nhận xét


của mình.


Ông Bảo Định Giang, Ủy viên thường trực Đảng đoàn Văn nghệ, bảo tôi:


- Chúng tôi đã tìm cách đưa anh về đây. Anh còn ở các K viện miền Nam là anh còn


bị hành hạ, cho đến khi nào anh phẳng như tờ giấy… thế này.


Ông đưa bàn tay xa xa trên mặt bàn


- Chị Trai và anh Triều sẽ sắp xếp công việc của anh. Nếu có ai hỏi anh về đây làm gì,


anh cứ bảo là hỏi chúng tôi. Chúng tôi là người chịu trách nhiệm về công việc của


anh.


Chị Trai nói:


- Nếu họ biết công việc của cậu, họ sẽ phản đối và gây khó khăn cho cậu. Tôi ăn cơm


ở nhà ăn tập thể của Hội nhà văn, 49 Trần Hưng Đạo. Mọi tiêu chuẩn, chế độ ăn uống


do Cục đón tiếp cán bộ B chịu. Tôi vẫn hưởng chế độ B, 1 tháng 21 đồng tiêu vặt.


Hàng ngày thỉnh thoảng tôi đến tiểu ban văn nghệ miền Nam nói chuyện, mượn sách.


Không vào thư viện, gặp lúc bọn thằng Ngô rảnh tôi đi chơi với chúng. Lâu lâu tôi về


Hà Đông gặp thằng Lê Ích Đề (lúc này Lê Ích Đề đã ra công tác A, làm việc ở Ty


giáo dục Hà Tây). Nơi tôi hay đến ngoài bọn thằng Tình, thằng Ngô là nhà bà Trai và


nhà anh Triều. Nhà anh Doãn Triều ở phố Bà Triệu gần nhà anh Châu Đình Du, tối tối


tôi hay sang uống nước nói chuyện. Tôi với thằng Ngô cũng hay ghé nhà Nguyễn


Xuân Thâm ở Bà Triệu. Khi nào có hảo mấy đứa ra Cổ Tân hay các quán dọc đường


uống bia hơi. Chen lấn bở hơi tai mới mua được mấy ly, đã thèm. Lúc này thằng Thái


Ngọc San đi tham quan ở Hungary hay đi chữa bệnh ở Quế Lâm thì phải.


Tôi về Hà Nội gặp lúc các cơ quan làm việc thông tầm. Sáng nào tôi cũng dậy sớm đi


bộ từ khu triển lãm Văn Hồ đến 51 Trần Hưng Đạo ăn cơm. Nhiều buổi sáng ăn


không nổi, nhưng tôi không có cà mèn để bới nên buổi trưa đành chịu đói. Buổi chiều,


91


có lúc đi chơi về trễ, nhà ăn đóng cửa, thấy cơm để trong tủ mà chịu. Vì làm việc


thông tầm, nên mỗi khi đến thư viện, tôi mua một ổ mì nhỏ bán tự do, bốn hào, hoặc


hai ba cái bánh rán, mỗi cái 2 hào để ăn trưa. Khi hết tiền thì nhịn.


Về Hà Nội tôi thoát được tình cảnh bị nhòm ngó của những người chung quanh.


Ngoài những lúc đi chơi với bạn bè, tôi vẫn giữ thói quen đọc sách. Chỉ có về đêm tôi


phải đi ngủ sớm để tránh gây phiền hà cho vợ chồng anh Châu Đình Du. Đó là điều


cực khổ của tôi. Và, tôi viết, tôi làm thơ. Tôi muốn đọc lại những gì tôi viết, nhưng tôi


không còn 1 cái gì hết, thơ tôi đã bị tịch thu. Tôi chỉ còn lại một bài duy nhất, bài


“Chiến tranh nhân dân và đồng chí” chép trên tờ giấy croquis. Sau những ngày bị


khảo tra ở K65, tình cờ tôi nhặt được tờ giấy đã bị vò nhàu này trong góc phòng dưới


giường thằng Nguyễn Viết Trác. Lúc nhìn thấy bài thơ này tôi xúc động, như thể lâu


nay mình đánh mất mình bây giờ tìm thấy mình. Tôi viết, tay tôi chưa cứng. Tôi viết,


lâu quá, lâu quá, máu óc, tinh thần tôi không ra chữ được. Tôi phải bình tĩnh. Tay tôi


chưa cứng, nhưng óc não và miệng lưỡi lâu nay bị nén lại, tôi chưa lấy được đà. Tôi


ghi ở đầu 1 cuốn sổ tay:


Có một lúc lâu tôi không nhớ mình


ra ngoài đường gặp ai tôi cũng ngó


cứ vác mặt đứng như người lạ


không biết đi đâu không biết đi đâu.


Ở Hà Nội những ngày này tôi mang cái tâm trạng đó.


Không có điều chi buồn


không có điều chi vui


không mệt mỏi


không chán


không no


không bình thường


không quá độ


không biết mình đang đi đang ngồi đang nói đang thở


tôi không là gì hết


(26.02.1975)


Tôi muốn được yên ổn. Những cơn dạ dày thỉnh thoảng lại hành hạ tôi toát mồ hôi.


Tôi uống Atropine, trước 1 ống, bây giờ phải 2 ống mỗi khi đau. Loáng thoáng một


hai lần tôi thấy 1 người tên Sung trên 40 tuổi thường đội mũ cát dạ màu đen ở 51 Trần


Hưng Đạo. Có lần thấy tôi ở trong đi ra, hắn đứng phía ngoài đường một bên cửa


hông ra vào ngó chăm hăm tôi. Tôi nhìn hắn như hắn là ai. Anh Triều nói: “thằng


Sung hỏi tao: hiện nay mày làm gì? Hắn nói với giọng dọa dẫm. Tôi báo cho các anh


biết, Cục 78 vẫn theo dõi thằng Đính đó. Tao bảo hắn, việc của các anh các anh cứ


làm. Tôi nói với anh Triều và chị Trai: “Tôi chẳng sợ gì cả. Đằng nào thì tôi cũng bị


đối xử như một con vật rồi. Tôi phải sống để gặp mẹ tôi”.


Từ những ngày đầu tháng 3, sau khi quân giải phóng đánh chiếm Buôn Mê Thuột,


ngày nào ở Tiểu ban Văn nghệ miền Nam cũng đông người. Các văn nghệ sĩ tấp nập


92


đến đây để xin vào Nam, trong số này có những người mới ở chiến trường ra chữa


bệnh hoặc an dưỡng. Mặt mày ai cũng hớn hở. Người nào cũng nói tiếng to và cười


luôn miệng, chuyện nói là xoay quanh của cải, vật chất ở các đô thị miền Nam, vùng


hiện bị địch tạm chiếm.


Những ngày tháng 3 này chúng tôi thường gặp nhau ở nhà chị Trai, nhà anh Triều, ở


quán cà phê hầm Trần Hưng Đạo. Sau ngày 26.03.1975, ngày Huế được giải phóng,


chúng tôi gặp nhau hầu như hàng ngày. Lúc này San, Quê đang tập trung ở K10 chuẩn


bị vào Huế, nhưng thường xuyên có mặt ở Hà Nội.


Những ngày này Hà Nội ồn ào. Ở 51 Trần Hưng Đạo, người ta xúm bên cái radio bán


dẫn, chúi đầu, chổng tai, la hét, nghiến răng, vỗ tay, hoan hô, chửi đổng. Người ta


sướng, người ta nhảy, người ta cười. Có được 1 miền Nam Mỹ ngụy để lại là miền


Bắc có thêm của cải vật chất. Các văn nghệ sĩ háo hức muốn vào Nam ngay để viết,


vẽ, làm thơ, làm nhạc. Miền Nam sẽ có nhiều đề tài, miền Nam sẽ là chất men để sáng


tạo.


Lúc đó tôi ghi: ngày 23.3.1975, BBC nói: “Huế gần như trống không, không chợ


búa”.


Huế, im và câm.


Thành phố: nhà, tường và ngói, những phết sơn bất động


đường cứ dài, mất và đứt ở đầu xa


người chạy trốn vội vã;


người ở lại: những con mắt sau khe cửa – những cái tròng giả


im lặng, câm chờ


những cái đầu quay lại


những con mắt quay lại, không có nước mắt


thù ghét


căm giận


tủi hờn


nhục nhã


hy vọng


chết



ngục


không khóc


không cười


không la hét


Cách mạng


Chiến thắng


Ngày 28.03.1975, trong buổi phát thanh 21 giờ 30, đài tiếng nói Việt Nam đưa tin:


3000 người ở Thừa Thiên theo nhau lên tàu chạy trốn, tàu chìm, chết hết. Tin loan


theo các hãng thông tấn phương tây. Cô phát thanh viên khi đọc tin này, giọng tàn


nhẫn. Cô cố nhấn mạnh con số 3000 nhằm tố cáo tội ác của Mỹ ngụy, nhưng lạnh quá,


tàn nhẫn quá. Nghe tin này, một nhà thơ nổi tiếng lâu nay buột miệng: “Đồ ngu”.


93


Thời gian này, cán bộ miền Nam ở các viện điều dưỡng lục tục tập trung về K15, K10


chuẩn bị vào Nam. Khoảng đầu tháng 4, Thái Ngọc San, Võ Quê vào Huế. San gửi


thư ra cho tôi báo là có về nhà tôi và đã gặp mẹ tôi. San nói là tôi phải tìm cách mà


vào, trong này (Huế) không có vấn đề gì nghiêm trọng đối với trường hợp của tôi.


Đúng lúc đó, một số cán bộ văn nghệ của Thừa Thiên Huế ra Bắc chữa bệnh và dưỡng


sức hiện ở trại sáng tác B đang làm thủ tục vào Nam. Nhân đó, anh Doãn Triều thảo


một công văn (do ông Bảo Định Giang ký) gửi Ban Thống nhất trung ương và Cục


đón tiếp cán bộ B xin cho tôi đi cùng với những người này. Tôi cầm công văn lên Cục


đón tiếp cán bộ B gặp ông Phan Văn Thuận, Cục phó và ông Hai (tôi không rõ chức


vụ của ông Hai, chỉ biết ông ta có quyền quyết định trong việc điều động cán bộ B).


Hai ông đồng ý. Đầu tháng 4.1975, tôi cùng 1 lần với những anh em quen biết là


Nguyễn Quang Hà,Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Đệ được chuyển về K15 ở thị xã Hà Đông


để bồi dưỡng và chờ ngày vào Huế. Đến K15 vài ngày, tôi sang Ty Giáo dục Hà Tây


bảo thằng Lê Ích Đề lên Cục xin vào Nam ngay. Cục đón tiếp đồng ý và hắn về K15 ở


cùng phòng với tôi.


Những ngày chờ đợi ở K15 thỉnh thoảng tôi về Hà Nội kiếm thêm 1 ít sách để vào


Huế tặng bạn bè. Ngày đi chưa biết, nhưng có thể đi bằng máy bay. Nếu đi máy bay


mỗi người ngoài ba lô, túi sách tay, có thể mang theo thêm 20 kg nữa. Ngoài những


thứ cần dùng lúc đi đường tôi bỏ vào ba lô, còn toàn bộ là sách. Tôi đựng sách trong


một cái bao lớn và lấy 1 cái ba lô cũ cắt hết quai và túi ngoài bỏ sách vào, thắt miệng


lại, nặng, nhưng vẫn là túi xách.


Ngày 6.4.1975, ông Bảo Đình Giang, Ủy viên thường trực đảng đoàn văn nghệ gửi


công văn cho Cục đón tiếp cán bộ B và K15 đề nghị “sắp xếp cho tôi, Tô Nhuận Vỹ,


Quang Hà, Nguyễn Đệ được vào Huế gấp trong đợt đầu tiên vào ngày 18.4.1975” để


kịp triển khai công tác. Anh Triều và chị Trai sợ có những trắc trở bất lợi cho tôi nếu


ở K15 dài ngày. Nhưng rồi đợt đó chúng tôi không đi được.


Khoảng sau ngày 20.4, tôi về Cục đón tiếp nhận sinh hoạt phí. Tôi gặp ông Hai.


- Anh cho tôi nhận quyết định sinh hoạt phí để lảnh tiền.


Ông Hai nhìn tôi ngậm ngự một lát, kéo hộc bàn rồi đóng lại, nói:


- Chiều, chiều hai giờ cậu lại đây.


- Người nào cũng nhận tiền lâu rồi mà tôi vẫn chưa có.


Ông Hai:


- Ờ, ờ, thì chiều, chiều…


Chiều tôi đến. Ông Hai nói:


- Quyết định sinh hoạt phí của mi có lâu rồi, vẫn là quyết định cũ, 50 đồng. Với mức


lương này khi vào Huế sẽ không có lợi cho mi cả về mặt chính trị và về việc xếp


lương cho mi sau này. Ông Bảo Định Giang có gửi công văn đề nghị xếp cho mi 68


đồng trước khi vào nam. Nhưng Ban thống nhất không đồng ý. Mấy lần tao định đưa


quyết định cho mi, nhưng nghĩ cũng tội mi. Tao nghĩ thôi mi cứ vô Huế đi, không cần


quyết định nữa, sau răng đó hãy hay. Nhưng không có quyết định thì mi không có tiền


đi đường. Thôi, tao cứ đưa cho mi, ít ra mi cũng có được vài chục.


Ông Hai đưa cho tôi bản sao Quyết định số 1097 QĐ của Ủy ban thống nhất do Phó


chủ nhiệm Phan Triêm ký ngày 31.12.1974 (Bản sao do Cục phó Võ Công Nghị ký


ngày 1.1.1975). Vẫn là Quyết định cũ, xếp tôi 50 đồng sinh hoạt phí.


94


Sáng 28.4.1975, đoàn đi Nam được thông báo: 10 giờ sáng 30.4.1975, đoàn sẽ lên


đường tại sân bay Gia Lâm. Máy bay sẽ hạ cánh tại sân bay Phú Bài, Huế. Sau đó, các


đoàn Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định… sẽ đi đến địa phương của mình bằng ô-


tô. Để tránh bị tắc đường ở cầu Long Biên, 3 giờ sáng ngày 30.04, đoàn sẽ xuất phát.


Ngày 29.4.1975, 17 giờ 20, còn 10 phút nữa là hết giờ làm việc, một ông bước nhanh


vào phòng tôi ở, qua khỏi cửa dừng lại, ngó quanh. Đó là ông trưởng đoàn của đoàn


Thừa Thiên. Thấy tôi, ông ta bước thêm ít bước nữa. Ông ta chỉ tay vào mặt tôi:


- Ngày mai anh ở lại, anh không đi nữa. Có lệnh đình chỉ chuyến đi Nam của anh.


Tôi hỏi ngay:


- Vì sao?


- Tôi không biết, đó là lệnh trên. Tên anh đã bị gạch trong danh sách của đoàn.


Hết giờ làm việc rồi. Tôi có chạy đi kêu cứu ở Hà Nội cũng không kịp. Mấy thằng


Vỹ, Hà, Đệ nhìn tôi chỉ “ủa” một tiếng. Tôi lên văn phòng. Văn phòng K đóng cửa.


Văn phòng đảng ủy cũng đóng cửa. Tôi xuống nhà ăn, chỉ có mấy người phục vụ


đang dọn dẹp. Tôi quay lại văn phòng, cũng không có ai. Tôi hỏi 1 người làm việc


trong K tình cờ đi qua. Cô ta bảo: Các ông về nhà hết. Vô ích, chẳng được gì đâu. Tôi


trở về phòng. Thằng Phương, phóng viên quay phim mới tập trung để di chuyển sau,


nói:


- Tôi biết trước rồi là ông Đính không được đi. Trưa nay, đến văn phòng đảng ủy có


việc, tình cờ tôi nghe mấy ông nói với nhau rồi.


Mấy thằng Vỹ, thằng Hà, thằng Đệ, đứa nào cũng: “tại sao thế?”, “vì sao nhỉ”, “sao


lại có chuyện này?”… chẳng có đứa nào bận tâm thêm nữa, đứa nào cũng lo sắp xếp


đồ đạc để sáng mai đi sớm.


Ba giờ sáng ngày 30.04.1975, tôi đưa mấy đứa ra xe. Xe chạy, có đứa nói với: “ở lại


mạnh khỏe nghe!”.


Tổ cha bây.


Khoảng 8 giờ sáng ngày 30.4, một vài người mang vác ba lô, đồ đạc vào phòng.


Người chỉ dẫn, nhân viên của K15, bảo tôi:


- Anh mang đồ đạc đi nơi khác, để chỗ này cho người khác nằm.


- Đi nơi khác là đi chỗ nào? Tôi sấn lại trước mặt anh ta.


- Tôi không biết.


Tôi không nói thêm với hắn nữa. Tôi lên văn phòng. Ông Thiệt, trưởng K đang đứng


trước cửa ra vào. Tôi hỏi liền:


- Tại sao các anh lại không cho tôi đi?


Ông ta nói:


- Tôi không biết, đó là lệnh trên.


- Thế bây giờ tôi ăn ở ở đâu?


- Chúng tôi xem như anh đã vào Nam. Anh không có tên ở K15 nữa. Chúng tôi không


có trách nhiệm gì về anh hết.


Tôi tức rồi:


95


- Ông nói cái gì lạ thế?


Ông ta khiểng cái chân gỗ quay vào phòng:


- Anh lên Ban thống nhất mà hỏi.


Tôi về phòng thì thấy ba lô đồ đạc của tôi đã dồn đống trong góc dưới sàn nhà. Một


thằng cha nào đó ló mặt vào:


- Anh Đính lên phòng làm việc.


Hắn đưa tôi đến văn phòng đảng ủy. Một ông mặt to, người béo ngồi sẵn sàng ở đó.


Tôi biết rồi, ông ta là ủy viên thường vụ đảng ủy phụ trách tổ chức. Ông ta nói giọng


Quảng Nam.


- Anh ngồi xuống đó. Tôi báo cho anh biết hiện nay anh không được ở đây nữa.


Chúng tôi coi anh như đã vào Nam.


Tôi nói to:


- Tôi không nói với anh. Tôi không cần phải gặp anh. Anh không có quyền gọi tôi đến


đây.


Ông đứng dậy:


- Tại sao tôi lại không có quyền. Tôi là trưởng ban tổ chức, anh nên nhớ như vậy.


Tôi cười:


- Anh là trưởng ban tổ chức của Đảng, mắc mớ gì đến tôi.


Tôi bỏ đi ra ngoài. Ông ta nói giọng giận dữ:


- Tôi biết anh là ai rồi?


Tôi quay lại, đứng trước bàn, chỉ tay vào mặt ông ta:


- Tôi là ai, anh nói nghe nào? anh dọa tôi hả?


Ông ta hừ hừ . Tôi bỏ đi ra. Về phòng, tôi mang đồ đạc gửi cho Hoàng Thị Thọ ở một


dãy nhà gần đó. Thọ ở Huế vừa mới ra, chuẩn bị đi học 1 lớp gì đó. Tôi về Hà Nội.


Chị Trai, anh Triều thấy tôi thì chưng hửng. Anh Triều nói:


- Mấy thằng cha ở K15 chơi mầy đó. Tụi nó ghét mầy.


Chị Trai lắc đầu:


- Tụi thằng Vỹ, thằng Hà, thằng Đệ quá tệ, chẳng có phản tứng gì cả. Nếu mầy ở K10


mà bị như thế, thằng San, thằng Quê cũng bỏ ba lô xuống không đi, đấu tranh cho kỳ


được.


2 giờ chiều tôi xuống Cục đón tiếp, nhưng không gặp ông Thuận. Tôi ghé qua thằng


Ngô. Thằng Tình và thằng Ngô thấy tôi cũng ngã ngửa ra.


- Tưởng bở, cứ tưởng bở!


- Nguyễn Đính đi Nam, đánh dấu than 1 cái! A ha!


Thằng Ngô lắc đầu:


- Tụi hắn chơi quá thiểm mi hí. Kêu trời không thấu.


Chiều, tôi đến nhà ông Thuận. Ông Thuận nói:


96


- Đây là do mấy cha ở K15 tự tiện không cho mi đi. Tao có biết gì đâu. Nếu biết sớm


thì có thể can thiệp được.


- Gần hết giờ làm việc họ mới báo cho tôi biết.


Ông Thuận chắc lưỡi:


- Tao sẽ tìm cách đưa mi về Huế.


Ngày 9 hay 10.5.1975 tôi về K15 với giấy giới thiệu của Hội Liên hiệp văn học nghệ


thuật Việt Nam:


Ban thường vụ Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam xin giới thiệu đồng chí


Nguyễn Đính là cán bộ trại sáng tác B đến K15 hỏi ngày và phương tiện đi lại. Nếu


K15 không giải quyết được phương tiện xin cho biết lý do và trả lời bằng công văn.


Yêu cầu các đồng chí giúp đỡ đồng chí Đính làm tròn nhiệm vụ.


Hà Nội, ngày 8.5.1975


TL Ban TV Hội LHVHNT VN


Nguyễn Xuân Bàng


Ông Thiệt, trưởng K15, nói:


- Tôi đã nói với anh rồi. Chúng tôi không có trách nhiệm gì với anh nữa. Anh lên Ban


thống nhất mà hỏi.


Hai ngày sau, tôi đi với chị Trai về K15. Chị Trai vào gặp ông Thiệt. Chị kể:


- Mình báo cho ông ta biết rằng, chính ông và ban lãnh đạo K15 đã tự tiện không cho


cậu đi. Cục đón tiếp và Ban Thống nhất không biết gì về chuyện này. Mình nói,


không cho đi, các anh cũng không nói lý do tại sao. Đã không cho đi, các anh lại


không cho người ta ăn ở. Thế bây giờ anh Đính sẽ sống như thế nào? Mình làm một


trận thật dữ. Nếu các anh cho thằng Đính là phản động, các anh cứ bắn chết nó đi. Các


anh đừng hành hạ người ta như thế.


Tôi về Hà Nội để đồ đạc ở nhà chị Trai, sống lang thang với thằng Ngô. Thỉnh thoảng


tôi đến nhà chị Trai, anh Triều, tạt qua nhà Nguyễn Xuân Thâm ăn cơm, ngủ.


Kệ cha mệ nội, có ra sao thì ra. Tôi cũng chẳng ngọ ngoạy gì được. Tôi thường ăn


cơm với thằng Ngô, những bữa cơm tồi tàn, dộng vào cho đầy bụng, rồi ra khỏi nhà


ăn, vác mặt ngó cây cối Hà Nội lá xanh màu ngọc. Những bữa cơm tập thể, những


bữa cơm làm tê liệt sức phản kháng, chống đối. Thần kinh, sinh lý đều mỏi mệt, lỏng


ra hết cả, tê ra hết cả. Ăn cho có ăn, nói là đã ăn. Đến nhà ăn, không nhìn ai, không


hỏi ai, chìa phiếu lấy phần, cái muỗng trong túi, cúi mặt ăn, nuốt, nghỉ một lát, ngó


mặt vào khoảng không, xọc xọc cái muỗng vào cái tô men, rau, đậu phụ, su hào, bắp


cải, magi, ngậm miệng lại nuốt những thứ còn lại trong miệng, rồi cúi đầu, xúc, ăn.


Rồi 1 bữa, đã ăn rồi. Ra vòi nước, rửa muỗng bỏ vào túi áo, túi xách. Về phòng nằm


một chút, đi làm. Sáng, trưa, chiều lại như thế.


Ăn cơm với thằng Ngô cũng kẹt. Hắn có tiêu chuẩn. Tôi thì chẳng còn mấy đồng, lại


không có tem gạo. Nhiều bữa tôi lang thang ngoài phố, buổi sáng ăn một bát mì nước


97


hai hào, no. Thằng Ngô nói: mi liệu thế nào, chứ sống thế này thì ăn ở ra sao đây. Tôi


làm thinh. Thằng Ngô thường đưa tôi đến nhà bà Thúy Hà ở khu tập thể của Công ty


quốc doanh phát hành phim nói chuyện chơi. Có lần bà Hà lục túi xách của thằng Ngô


thấy có 1 ổ bánh mì, bà lắc đầu:


- Cái ông Ngô, ông Đính này, cứ bánh mì thế này thì sống sao nổi. Trưa nay hai ông ở


lại đây ăn cơm.


Tôi mới mua gạo đấy. Bà mở nắp cái thùng thiếc để trên đầu giường:


- Đấy, gạo đấy. Các ông thấy chưa? Trưa nay tôi đãi hai ông ăn cơm, không độn đâu


nha!


Bà Hà nói chuyện rất vui, giọng bao giờ cũng dữ dằn, nóng nảy đầy vẻ chống đối.


Bà nói:


- Mấy thằng ở bên Tây về bao giờ cũng giở cái giọng dạy đời, động viên lên lớp bọn


này. À, các anh các chị phải biết hãnh diện mình là những người Việt Nam được sống


ngay trên đất nước mình vào thời đại này… Đủ thứ chuyện. Nói gì chúng nó cũng


không chịu nghe, chịu hiểu. Chỉ khi về nhà bọn mình thấy những bữa ăn như thế này


chúng nó lại tỏ ra ngơ ngác, chẳng hiểu gì cả.


Bà quay sang chuyện khác:


- Bây giờ miền Nam của các ông đã được giải phóng rồi. Các ông vào sẽ thấy, những


đám thanh niên nam nữ cứ ùa ra đường, nhảy cỡn lên, reo hò: “như có Bác Hồ trong


ngày vui đại thắng…” và rồi sau này sẽ sáng mắt ra… như bọn này hồi năm tư.


Tôi nhớ 1 lần quá tức cười và cũng quá cực cho tôi với thằng Ngô. Hôm đó hai đứa


tôi đi chơi đến hơn 8 giờ tối mới về 6K, nơi ở và ăn tập thể của đài Giải phóng. Thằng


Ngô nói:


- Tao có báo cơm cho mi rồi.


Nhà ăn vắng và tối, ghế đã để lật ngửa lên bàn. Chỉ còn 1 ngọn đèn không sáng lắm


và 1 cái bàn ăn có đậy lồng bàn trong góc phòng gần cửa ra vào nhà bếp. Tôi và thằng


Ngô ngồi xuống. Thằng Ngô giở lồng bàn.


- Răng nhiều và ngon rứa mi?


Thằng Ngô hất cái đầu lên ngúc ngúc:


- Hôm nay ăn tươi! Mi không biết à?


Ăn tươi là ăn sướng và có thịt! Chừng được nửa bữa ăn, 1 bà ở sau bếp chạy lên. Tôi


nghe tiếng cái cán chổi vất cạch xuống nền nhà. Bà ta nhảy dựng lên:


- Chết tôi rồi, ông Ngô ơi! Những 4 phần đấy, ông Ngô ơi! Làm sao bây giờ đây, ông


Ngô ơi! Thằng Ngô cũng sửng ra. Hắn ngừng nhai, nhướng mắt lên:


- Tôi có biết đâu, cứ tưởng 2 phần. Sao bác không ghi lên bàn cho tôi biết. Thôi được,


bọn tôi ăn lỡ rồi, để tôi đền sau.


Bà ta cứ la lên:


- Đền, sao mà đền được. Bây giờ đêm hôm tôi đào đâu ra 2 suất thức ăn chứ? Mà hôm


nay lại ăn tươi, mới chết tôi chứ!


Hai đứa tôi cứ ăn, lỡ rồi. Về phòng thằng Ngô nói:


- Đã mi hí!


98


- Quá no!


Đầu tháng 5, chị Trai cho biết là sẽ có một đoàn cán bộ của Hội Văn nghệ Việt Nam


đi vào Nam do nhạc sĩ Đỗ Nhuận làm trưởng đoàn. Ngày 5.5.1975, anh Doãn Triều đã


viết thư cho ông Phan Văn Thuận nhờ ông nói với ông Hưng, Cục trưởng Cục đón


tiếp xin ông Đặng Thí cấp cho tôi 1 giấy giới thiệu để tôi có thể đi phép với đoàn của


Hội Văn nghệ. Tôi đã gặp ông Thuận hai ba lần. Ông nói:


- Ở đây người ta xem danh sách của mầy đã chuyển vào Huế trong chuyến đi ngày


30.4. Tao sẽ cố gắng giúp mi.


Tôi đoán ông Thuận có cấn cái gì đây trong việc này. Không có đầy đủ giấy tờ, tôi


khó đi được và vào Huế sẽ gặp nhiều rắc rối. Anh Triều nói:


- Tao đi khắp, cục trưởng, cục phó gì cũng bảo: giấy tờ của mầy đã chuyển về Huế.


Tao đề nghị họ cho 1 công văn xác nhận điều đó, họ không làm.


Ngày 19.5.1975, Đảng đoàn văn nghệ có gửi cho ông Phan Triêm, Phó chủ nhiệm Ủy


ban thống nhất, 1 công văn như sau:


Kính gửi:


Đồng chí Phan Triêm


Ủy ban thống nhất của Chính phủ


Sau khi nghiên cứu thẩm tra trường hợp đồng chí Nguyễn Đính, chúng tôi xét thấy


không có vấn đề gì quan trọng, đây chỉ là vấn đề cũ ở K như các đồng chí biết mà


thôi.


Chúng tôi xét thấy có thể đưa đồng chí Đính trở về công tác ở Huế tùy theo sự phân


công của địa phương. Vậy trân trọng đề nghị các đồng chí giải quyết thủ tục cho đồng


chí Nguyễn Đính có thể kịp đi theo đường giao liên của đoàn cán bộ Hội Văn nghệ


chuyến chiều ngày 21.5.75.


T.M Đảng đoàn Văn Nghệ


U.V Thường trực


Bảo Đình Giang


Tôi lại đi gặp ông Thuận. Ông Thuận nói:


- Chịu. Tao cũng hết sức với mi đó. Mi cứ đi theo đoàn Văn nghệ. Miễn là mi đến


Huế. Đính ơi, tao mong mi qua khỏi cầu Mỹ Chánh, qua khỏi cầu Mỹ Chánh là cứt


hết, ỉa hết. Thôi mi đi mạnh giỏi.


Chỉ có cách đi duồng với đoàn của Hội Văn nghệ, tôi mới vào Huế được. Chị Trai và


anh Triều muốn làm cho tôi yên tâm. Mi cứ đi không can chi đâu.


Tối 20.5.1975, tôi ở lại nhà chị Trai. Thằng Tình, thằng Ngô thấy tôi cả hai đứa đều


cười to:


- Được đi thiệt hả mi?


Hai đứa nói chuyện với tôi tới khuya mới về.


99


- Thôi mai đi mạnh giỏi.


Thằng Tình cho tôi 10 đồng, thằng Ngô cho 10 đồng. Thằng Xuân tới sau cùng cho 10


đồng. Sáng mai, chị Trai dúi vào tay tôi 1 xấp, có tới ba bốn chục. Lúc này tôi chẳng


đồng nào hết.


Sáng sớm 21.5, tôi ra 51 Trần Hưng Đạo. Khoảng 7 giờ 1 chiếc ô tô con đến, có 4, 5


người đã ngồi ở trong. Trong số này tôi có quen 1 vài người. Trưởng đoàn là ông Đỗ


Nhuận không biết lý do gì không đi. Ông Chế Lan Viên đến tiễn anh em, thấy tôi,


cười:


- Bà Trai, ông Triều tài thật. Thế là anh Đính đi được rồi.


Thằng Ngô và thằng Tình lay hai vai tôi, cầu mong tôi đi trót lọt.


Anh Triều và chị Trai lên xe đưa đoàn đi. Khi chúng tôi đến Giáp Bát, một đoàn tàu


quân sự đã đậu sẵn ở đó. Tàu sắp chạy, chị Trai bảo:


- Mình mong rằng trên đường đi mình không nhận được một cái điện nào ách cậu lại.


Anh Triều trước khi xuống tàu bảo:


- Tao gửi lời thăm mạ.


Rồi anh bỏ vào tay tôi 1 gói giấy nhỏ, tôi biết anh cho tôi tiền.


- Đến Huế là viết thư báo cho tụi mình biết ngay nghe.


Tàu chạy. Mỗi lúc tôi mỗi xa dần Giáp Bát. Tôi xúc động. Người tôi như rung lên. Tôi


bàng hoàng ngơ ngác. Tôi vui và tôi sợ, tôi lo. Không ai ở trong toa tàu cùng đi với tôi


biết tâm trạng của tôi lúc này. Họ đang náo nức về 1 chuyến đi xa hoàn toàn kỳ lạ


chưa từng có trong cuộc đời họ. Cả thảy là 17 người, họ là nhà thơ, nhà văn, họa sĩ,


nhà nhiếp ảnh, cán bộ giáo dục, văn hóa… Không có ai là người Huế, có 1 người quê


ở miền Nam, nhưng sau năm 54 tập kết ra Bắc. Tôi có quen 1, 2 người, trong đó có


anh Ngô Văn Phú 1 người làm thơ tiếng tăm ở Hà Nội. Suốt dọc đường đi tôi hay nói


chuyện với Ngô Văn Phú. Quân số trong giấy tờ là 32, nhưng có lẽ những người kia


vì biết chuyến đi này vất vả qua nhiều trạm bằng nhiều phương tiện khác nhau nên


không đi.


Tàu chạy, tôi cứ không yên trong bụng. Tàu dừng ở 1 ga nào đó tôi nhấp nhỏm. Tôi


chỉ có 1 giấy giới thiệu do ông Bảo Đình Giang ký. Cứ mỗi lần tàu dừng, cứ mỗi lần


có người đi qua tôi cứ phập phồng. Tôi sợ bị lôi cổ xuống. Nhưng suốt ngày hôm đó


chỉ có 1 lần người kiểm soát vé xem giấy của đoàn. Đến Vinh, chúng tôi vào trạm


nghỉ đợi xe. Chúng tôi được phân tán ở trong nhà dân. Người phụ trách trạm thông


báo cho đoàn biết: tất cả đồ đạc, quân trang phải quân sự hóa để khi có xe là đi ngay;


phải đề cao cảnh giác, coi chừng bọn trộm cắp, nhất là khi lên đường vào lúc tảng


sáng; phải đề phòng kẻ gian có thể giả gây ra những đám cháy hoặc những vụ ẩu đả


để thừa cơ dễ bề trộm cắp đấy.


Ngày đi càng kéo dài, càng qua nhiều trạm càng chờ đợi, tôi càng lo. Đang nằm đu


đưa trên võng, 1 người ở trạm bước vào thông báo 1 điều gì đó, tôi giật mình. Đang


ăn cơm, ông trạm trưởng đi ngang qua nhìn vào, tôi ngừng nhai, bỏ chén xuống. Biết


đâu mình bị chận lại giữa đường. Ở 1 binh trạm cuối cùng, đoàn phải chờ hơn 2 ngày


mới có xe. Lần này, vì không có xe lẻ, chúng tôi phải đi ghép theo 1 đoàn xe bộ đội


chuyển quân. Xe chúng tôi đi không có mui trần và đi gần sau cùng. Chúng tôi ngồi


bệt giữa sàn. Sắp qua cầu Bến Hải, cả đoàn xe dừng lại. Không biết có chuyện gì đây?


Đây vẫn là miền Bắc, mình vẫn có thể bị bắt và buộc phải quay về Hà Nội. Một vài


100


người đứng dậy nhìn ra trước. Tôi vẫn ngồi yên, lấy thuốc hút. Tin được chuyển từ xe


chỉ huy dẫn đầu: qua miền Nam, đường tốt, không được chạy nhanh, phải giữ đúng cự


ly. Xe qua cầu Bến Hải. Gió mát. Tôi đứng dậy nhìn chung quanh. Bên kia là miền


Nam. Xe qua cầu, xuống dốc. Chạy 1 đoạn xe dừng lại. Hàng quán 2 bên đã khác,


màu sắc đã có xanh đỏ tím vàng, lủng lẳng cái treo, cái xếp chồng, trong tủ, trên


sạp… Và lần đầu tiên tôi thấy những cô gái đội mũ mặc đồ bộ. Vài người trên xe nhảy


xuống. Tôi bước vào 1 cái quán. Hàng hóa lạ mắt. Tôi hỏi mua 1 bao Bastos xanh.


Biết tôi là ở miền Bắc vào bà bán hàng nói giá tiền Bắc, hình như 5 hào thì phải. Xe


chạy. 1 người trên xe chỉ xuống đường.


- Kìa, xe hoong đa!


Và cũng là lần đầu tiên tôi thấy 1 chiếc xe Honda.


Sắp qua hết Quảng Trị rồi. Đoạn đường này trong trí nhớ của tôi chỉ mơ hồ; thị xã


Đông Hà loáng thoáng còn lại cờ và khẩu hiệu. Ở 1 đoạn trống 2 bên nhà cửa thưa


thớt mới dựng vội vã bằng gỗ, tôn, gót cũ chắp vá, 1 đoàn người mặc quần áo lính


ngụy lếch thếch, người có mũ, người vấn khăn trên đầu, người đi giày, người đi dép,


người nào cũng có 1 cái bọc nhỏ mang, xách trên lưng trên tay, rải rác bên cạnh là


những anh bộ đội mang súng đi kèm. Tù binh. Đoàn người đi ngược chiều với xe


chúng tôi, phía bên phải sát lề đường. Họ lầm lũi như những cái bóng màu đất đen,


trước mặt là 1 vùng đất trống, cát và cây dại, không xa lắm là núi. Tôi cứ cố nhìn


những cột cây số. Trời, cầu Mỹ Chánh, cầu Mỹ Chánh!. Xe qua cầu rồi, xe qua cầu


rồi! Tôi thoát thiệt rồi à? Tôi vui, tôi sướng, tôi hết phập phồng. Có bị lôi cổ xuống


đây thì cũng cứt hết, chẳng có chi mà sợ nữa. Đã tới An Lỗ, bên kia là Sịa, nhất Huế


nhì Sịa. B. K dix-sept. Tôi mở bi đông ực 1 ngụm nước. Xe xóc, nước tràn cả mặt


mũi, chảy xuống cổ. Tôi mát. Trường trung học Hương Điền rồi. Tôi thấy núi Kim


Phụng, độn Ngang và dốc Kết Nghĩa mà dưới chân dốc này tháng 6.1966 tôi đã bị


thương. Và cầu An Hòa, bên kia là đường xe lửa và ga An Hòa. 1 tấm bảng to bằng xi


măng đựng bên đường: ĐỊA PHẬN THÀNH PHỐ HUẾ, chữ trắng trên nền lục đậm.


- Đến Huế chưa?


Tôi nói


- Coi như đây là Huế rồi.


Nắng, trời nắng như nắng to của những ngày tháng 11. Mây đục nên không chói. Tôi


cứ tưởng là xe sẽ qua đường Trịnh Minh Thế rồi qua cầu Trường Tiền. Xe đi thẳng,


qua cầu Giả Viên. Nước chảy dưới cầu, cứ xuôi nữa là Vỹ Dạ. Ông trưởng đoàn nói


với lái xe đổ chúng tôi ở Ga Huế. “Biết rồi, tôi đã đi lại nhiều lần trên tuyến đường


này”. Xe dừng lại. Chúng tôi vội vã xuống xe. Cảm ơn đồng chí lái xe. Có 2, 3 người


đi thẳng về trạm Phú Bài để đi Quảng Nam. Tôi, ông Ngô Văn Phú và 1 người nữa đi


bộ về 26 Lê Lợi để xin xe lên đón đoàn. Tôi đã ngửi được cái mùi của Huế. Quen mà


lạ. Trong lòng tôi cứ lao xao như lá long não lao xao hai bên đường tôi đi với những


tiếng nói quen thuộc chung quanh. Và con sông trước mặt, con sông mà cách đây 10


năm mỗi buổi chiều từ Hải Cát trở về cơ quan C90, tôi với Nguyễn Thiết ngồi trên


đỉnh Ba Dốc, bên chân núi Kim Phụng chỉ thấy thấp thoáng qua những rặng cây.


Trường Pellerin, Cư Xá giáo sư đại học, Phủ Thủ hiến, ngã 3 qua cầu Nam Giao lên


Từ Đàm, rẽ vào chùa Vạn Phước là nhà của ngoại tôi. Trường Luật, trường Quốc


Học, trường Đồng Khánh, Thừa Phủ, tỉnh đường. Bệnh viện Huế là lạ và mới đối với


tôi. Đến đây, đường Lê Lợi sáng ra và bị cắt bằng 1 khoảng rộng.


- Cầu gì đây?


101


Tôi nói:


- Chắc là Cầu Mới. Lúc tôi đi chưa có cầu này. Hết Cercle, Trung tâm Văn hóa Pháp,


Thư viện Đại học, 1 đoạn qua khỏi trường Thành Nhân nữa là đến 26 Lê Lợi, trụ sở


của Ban Vận động thành lập Hội Văn nghệ Thừa Thiên – Huế. Người quen có, người


lạ có, gặp ai tôi cũng mừng, cũng cười, cũng vui. 26 Lê Lợi cho 1 chiếc ô tô lên ga


chở đoàn về. Tôi nhờ Võ Quê điện báo cho Thái Ngọc San. Quê bảo San đi vắng và


có nhắn lại. Tôi mượn Quê chiếc xe đạp đi về nhà liền. Tôi chỉ mang theo cái ba lô,


còn mấy bao sách gửi cho Quê. Lúc này khoảng 3 giờ chiều ngày 25.05.1975.


Con đường Thuận An cao hơn và rộng ra. Hai bên đường không có gì thay đổi lắm.


Tôi ghé vào quán chị Thuận. Chị Thuận la lên:


- A, thằng Đính đây ni!


Những năm tôi thi thành chung và tú tài, lúc đi coi bảng về ngang qua quán chị, chị


hỏi: răng, Đính? Tôi ngúc đầu. Chị vội vã chạy ra chợ báo cho mẹ tôi biết: “thằng


Đính đâu rồi”.


Tôi vào xóm. Đoạn đường này trước kia đâu có rải nhựa. Tôi rẽ trái, đường đất như


cũ. Hình như chiều hôm qua ở đây có mưa. Nhà cửa vẫn như cũ, có 1 vài nhà xây lại.


Đến nhà tôi rồi. Vẫn hàng chè tàu; hai cột trụ vàng mốc rêu. Mấy hòn đá kê làm bậc


cấp vẫn còn, trong đó có 1 hòn như con số 1 lùn cụt nằm giữa. Bốn năm đứa nhỏ đang


chơi dưới gốc cây vú sữa. Những đứa nhỏ ngưng chơi vây quanh tôi. Ngôi nhà bây


giờ so với ngôi nhà trong trí nhớ của tôi còn lại nhỏ đi rất nhiều. Cây vú sữa che kín


gần hết sân. Và mặt trước ngôi nhà, màu vôi hơn 40 năm không quét trông lại âm u


hơn. Tôi bỏ cái ba lô xuống đất, đu người lên song cửa sổ nhìn vào trong. Nền nhà


như mới chùi, có chỗ còn ướt. Sau này tôi mới biết là ngói trụt nên nhà bị dột. Tôi


bước lên hiên nhà. Tôi hỏi mấy đứa nhỏ cứ luẩn quẩn bên tôi:


- Này mấy em, con Bi đâu rồi?


Con Bi là con o Lài của tôi. 1 đứa chỉ 1 đứa con gái khoảng 12 tuổi đứng cạnh tôi:


- Đây, con Bi đây!


- Anh Đính đây Bi nờ! Bi có chìa khóa không?


Con Bi đưa cho tôi chìa khóa. Nó không nói gì hết, cứ ngó tôi. Tôi mở cửa. Tôi vẫn


nhớ cách mở cửa. Cái cửa này mở ở ngoài rất khó. Vào nhà tôi mở hết các cửa sổ.


Mọi vật vẫn như này tôi còn ở nhà, vẫn để nguyên chỗ cũ. Chỉ có trước bàn thờ che


một tấm màn bằng vải bông màu xanh nhạt lẫn màu lục đã ố vàng, cũ hết rồi. Bức


kính thờ thì đã mờ bụi. Tôi ngồi lên bức ngựa gõ. Những đứa trẻ vẫn cứ nhìn tôi. Tôi


nhìn quanh trong nhà. Tôi xuống nhà bếp. Tôi đi lên nhà; có 1 mùi ẩm mốc dễ chịu.


- A, mệ Đính nơi tề!


1 đứa nhỏ bước xuống 1 bậc cấp trước hiên la to. Tôi bước ra cửa. Chị Thuận cầm tay


dắt mẹ tôi lên thềm. Mẹ tôi vừa bước vừa khóc:


- Thằng Đính mô rồi, mô rồi.


Tôi cầm hai tay mẹ tôi, dìu mẹ tôi ngồi lên ngựa. Mẹ tôi cứ khóc:


- Mạ tưởng con không về nữa.


Chị Thuận cũng rơm rớm nước mắt. Mẹ tôi lấy trong túi áo ra 2 gói bastos luxe để


giữa ngựa:


102


- Chị Thuận cho đó. Con hút đi.


Tôi bóc thuốc hút. Mẹ tôi ốm và đen, tóc bạc gần hết rồi. Bây giờ mẹ tôi ngồi đó, hai


bàn tay cứ mở ra nắm lại, khi để trên chân, khi để trên ngực, lâu lâu lại đưa tay áo lên


lau nước mắt. Sông mang phù sa đỏ, chảy ra biển muôn năm, người mang hồn sông


đỏ, lòng như biển vô cùng.


- Mạ đang bán trên Đập Đá, chị Thuận chạy lên nói con về rồi. Chị gánh về dùm cho


mạ.


Chị Thuận cười:


- Chị lên nói với mạ: Chị Đính ơi, thằng Đính về rồi. Mạ cuống lên. Mạ bán gần hết


rồi.


Tôi hỏi mẹ tôi:


- Rứa bữa ni mẹ bán cháo chi rứa.


Chị Thuận nói giùm:


- Thôi thì đủ thứ. Khi thì cháo gà, khi thì cháo lòng. Bánh bột lọc nữa. Bữa ni rứa là


mau hết đó, chớ thường khi mô cũng 10, 11 giờ đêm. Có khi tới gần sáng.


(còn tiếp)


TVS.


Talawas 2005


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Viết ngắn: Cuối tuần máu chảy về chân... - Triệu Thiên Hương 15.05.2018
Phượt Hữu Lũng - Lạng Sơn - Triệu Thiên Hương 14.05.2018
Tôi bị bắt (2) - Trần Vàng Sao 11.05.2018
Tôi bị bắt (1) - Trần Vàng Sao 11.05.2018
Tôi bị bắt (tiếp và hết) - Trần Vàng Sao 11.05.2018
Tôi bị bắt (3) - Trần Vàng Sao 11.05.2018
Mấy đoạn văn ngắn của nhà văn Orhan Pamuk - Nobel Văn Học 2006 - Orhan Pamuk 05.05.2018
Hút thuốc lào bên mộ Karl Marx - Nguyễn Duy 04.05.2018
Sơn Tây Tứ quý - Nguyễn Xuân Diện 19.04.2018
Con nuôi - Trần Thanh Phương 16.03.2018
xem thêm »