tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22320476
16.03.2018
Trần Thanh Phương
Con nuôi



Đầu tháng 8-1967, sinh viên khoa Văn năm thứ tư - Đại học Sư phạm Hà Nội - tập trung về huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên tập quân sự một tháng trước khi ra trường.


Hưng Yên là quê hương của nhiều danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc và đây cũng là nơi phát sinh vốn văn hóa dân gian đặc sắc của nước ta như hát xẩm, hát ả đào, hát chèo… Hưng Yên có di tích Phố Hiến, là một thương cảng sầm uất từ thế kỷ 17: “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến”. Kinh Kỳ là thủ đô Hà Nội ngày nay. Phố Hiến nay là thị xã Hưng Yên. Đền thờ Chử Đồng Tử có nhiều nơi trên đất nước ta, nhưng ở Hưng Yên, bên sông Hồng, có hai ngôi đền thờ Đức Thánh Chử Đồng Tử. Một ngôi đền nhìn ra bãi Tự Nhiên - nơi công chúa Tiên Dung, con gái vua Hùng thứ 18 xinh đẹp kỳ ngộ và nên duyên với chàng Chử nghèo khó; còn ngôi đền thứ hai - nơi chàng Chử cùng phu nhân hóa về trời.


Tại xã Minh Tiến, huyện Phù Cừ, nơi chúng tôi tập quân sự có đền Phượng Hoàng, thờ Cúc Hoa - một người con gái có nhan sắc, con nhà giàu, biết trọng lẽ phải và thương người nghèo.


Chúng tôi là sinh viên học văn, về một nơi “học võ” lại có nhiều di tích văn hóa như vậy rất lấy làm thú vị.


Tôi cùng ba bạn được phân công về ở nhà chị Xuyến làm nghề nông. Chị ngoài 30 tuổi, chồng đi chiến đấu ở miền Nam. Chị có hai con nhỏ một gái, một trai. Cháu lớn 8 tuổi, cháu nhỏ 5 tuổi. Nhà trồng nhiều mít và ổi, rất sai quả. Sau vườn có mấy luống khoai lang. Trong bốn sinh viên ở nhờ, chỉ có tôi là người miền Nam, nên được mẹ con chị Xuyến ưu ái hơn, nghĩa là sáng sáng không phải gánh nước từ giếng đổ vào hai chum (vại, lu) để dùng trong ngày. Thay vào, tôi “chịu trách nhiệm” quét sân và làm những việc lặt vặt khác sau mỗi chiều tập quân sự về.


Chương trình học quân sự rất vui, không nặng nhọc như nhiều bạn lo lắng. Tuần đầu học đường lối quân sự của ta, về chiến tranh nhân dân và lý thuyết một số môn. Sau đó là “lăn lê, bò toài”. Cuối cùng thì bắn đạn thật. Ai bắn trúng ba viên đạn vào vòng 10, được tặng danh hiệu “Xạ thủ Củ Chi”. Thầy dạy là những anh bộ đội cấp đại úy, trung úy được tỉnh đội cử về. Các thầy còn trẻ, nghiêm chỉnh nhưng cũng vui tính, hát hay và rất cảm tình với nữ sinh viên. Những môn như nhảy, chạy vượt rào, lăn lê, bò toài, các thầy châm chước, không để các bạn nữ tập nhiều, nhất là sau khi một bạn nữ tập ném lựu đạn, bị ngã, rách da chân, chảy nhiều máu, phải nghỉ tập hai ngày. Bạn này người Hà Nội, nhà ở đường Nguyễn Du, gần hồ Hale. Các bạn nam được dịp trêu đùa “Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột”.


Những sinh viên miền Nam tập kết chúng tôi coi kỳ tập quân sự này như lớp huấn luyện thật sự để chuẩn bị cho một chuyến về Nam nay mai. Lần đầu tiên được cầm cây súng thật, viên đạn thật bóng láng, lạnh tanh mùi đồng, ai cũng xúc động. Trên mũ, trên báng súng đều có mảnh giấy với hàng chữ: “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Đơn giản vậy thôi nhưng có cái gì thôi thúc đến thiêng liêng mạnh mẽ. Hồi bấy giờ, chúng tôi chỉ biết có học. Học xong, nhà trường phân công đi đâu, chúng tôi đi đó, ít ai thắc mắc xin xỏ, lo lắng. “Đâu cần thanh niên có! Việc gì khó có thanh niên”, hoặc “Trên phân công đi đâu thì đi đó” rất nhẹ nhàng, thanh thản.


Một tháng huấn luyện trôi qua nhanh. Tôi được Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên cấp giấy chứng nhận mang số 150, với nội dung:


Bộ trưởng Bộ Giáo dục chứng nhận đồng chí Trần Thanh Phương, sinh ngày 23-9-1940 tại Cà Mau, sinh viên khoa Văn khóa 1963-1967 của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã theo học đủ chương trình quân sự hàng năm của trường và đã được Bộ chọn theo học lớp đào tạo giáo viên quân sự phổ thông khóa II trong thời gian một tháng từ ngày 1 đến ngày 30 tháng 8 năm 1967 tại Hưng Yên. Đồng chí Phương đã đạt yêu cầu vào loại khá trong tháng tập luyện quân sự và có khả năng làm được giáo viên huấn luyện quân sự cho các trường phổ thông cấp 3.


Nhận tờ giấy chứng nhận mà tôi cười thầm trong bụng: Học hành như vừa rồi thì sao có đủ trình độ để huấn luyện quân sự lại cho các em ở trường cấp III? Ngay cái chuyện: đứng bắn, nằm bắn, quỳ bắn, bắn có bệ tì như thế nào; hoặc các giai đoạn: tì vai, áp má, nín thở, bóp cò… bản thân làm còn lọng cọng thì hướng dẫn được cho ai! Thôi thì “không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc”. Sau 30 ngày dầm mưa dãi nắng cũng xứng đáng, mình biết thêm chút ít về binh nghiệp.


Ngay sau khi mãn khóa huấn luyện quân sự, tôi được tin báo Nhân Dân xin tôi về báo. Tôi mừng ít, nhưng ngạc nhiên, lo lắng thì nhiều. Không hiểu tại sao báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận lớn như vậy, một tờ báo của Đảng cầm quyền có bề dày từ năm 1951 lại tuyển dụng tôi về làm việc? Tôi là người hoàn toàn chưa biết gì về nghiệp vụ báo chí. Bao nhiêu câu hỏi xáo trộn trong đầu đến ngơ ngác nhưng không biết tâm sự với ai. Một dịp tôi hỏi một anh viết báo, viết văn tự do, không ở cơ quan nào, anh nói tỉnh bơ: “Chỉ sợ cậu không có năng khiếu thôi, chứ làm báo, làm văn không có gì khó lắm, miễn ta đừng để sai quan điểm, lập trường. Cái quan trọng là ở đó. Cậu hãy ghi nhớ câu này: “Ta thắng, địch thua, miền Bắc được mùa, miền Nam thắng lớn, thế giới ủng hộ ta”. Cứ như thế, cậu viết. Không ai dám gạt bài cậu”. Tôi lại càng hoang mang. Chẳng lẽ cuộc đời luôn luôn chỉ có như vậy?


Từ Phù Cừ, tôi trở về thôn Thượng Bùi, xã Cộng Hòa của huyện Yên Mỹ, làm lễ tổng kết khóa học, chia tay bạn bè, kết thúc đời sinh viên để bước vào đời. Tôi tự thấy mình lớn hẳn lên, cứng cỏi hẳn lên. Rồi bỗng nhiên tôi nhớ lại câu hát đọc được ở đâu, nghe ở đâu từ bao giờ: “Con đi trường học, mẹ đi trường đời…”, nước mắt tôi bỗng ứa ra. Những ngày này tôi rất nhớ nhà, nhớ tía, má tôi và em tôi. Tía má có ngờ đâu con của tía má ngày xuống tàu tập kết ra Bắc, chưa biết làm phép tính nhân, tính chia, vậy mà chỉ sau 13 năm đã tốt nghiệp Đại học! Chưa bao giờ tôi mong ước được bay về mũi đất Cà Mau bằng lúc này, dù chỉ một giờ, một phút.


Tía má tôi sinh được hai người con, tôi và một chú em tên Nguyễn Văn Thành. Tại sao anh em cùng cha, cùng mẹ mà khác họ? Quê gốc của dòng họ bên nội tôi ở Mỏ Cày, Bến Tre. Gia đình nghèo không có tiền đóng thuế thân, ông nội tôi trốn xuống Cà Mau đổi họ, đổi tên để làm mướn được yên thân, từ tên Nguyễn Văn Tánh thành Trần Văn Thọ. Tía tôi Nguyễn Văn Biện thành Trần Văn Biện. Sau này, tía má sanh anh em tôi, chúng tôi cũng mang luôn họ Trần. Năm 1954, tôi tập kết, ở nhà, ông nội, tía và em tôi lấy lại họ chính của gia tộc là Nguyễn. Còn tôi ở miền Bắc mang “chết” luôn họ Trần cho đến bây giờ. Cho nên mỗi lần làm lý lịch, giấy tờ có liên quan đến gia đình, tôi rất khổ sở về cái họ “Trần” của mình!


Gia đình tôi rất nghèo, nói theo cách nói lúc bấy giờ “không có đất cắm dùi”, “không có đất chọi chim”… Ông nội và tía tôi làm mướn cho địa chủ Cả Khuê nhưng cơm không đủ ngày hai bữa, có lúc phải ăn bông súng trộn dừa nạo với mắm kho thay cơm; áo quần mặc bằng bố tời (bao tải). Tôi theo học ở trường làng với đám con nít, không có lớp lang gì. Chiều và tối đi cắm câu, đặt trúm (bắt lươn) và đi lượm trứng chim. Quê tôi, trước năm 1954, chim chích đẻ đầy đồng. Đi lượm một buổi mấy trăm trứng, dễ ợt!


Có một thời gian dài, má tôi chèo xuồng sang vùng Cái Keo, Rạch Chèo, hai mẹ con nhổ cỏ mướn cho những chủ làm rẫy, trồng hành, trồng hẹ, trồng dưa, đậu… Học hành thì “bữa đực, bữa cái”, hơn 10 tuổi mà chữ nghĩa đựng “không đầy lá mít”. Một lần gọi tôi lên bảng làm toán, thầy hỏi:


- Một đồng bạc là mấy đồng?


- Dạ, thưa thầy, một đồng!


- Mười đồng là mấy đồng?


- Dạ, mười đồng!


- Một trăm đồng là mấy đồng?


- Dạ, một trăm đồng!


- Còn một triệu đồng?


Tới câu này thì tôi bí. Tôi nghĩ một triệu đồng chắc nhiều đồng lắm, làm sao đếm được, làm sao tính được?


Cuộc sống và học hành chữ nghĩa như vậy mà nay tôi đã tốt nghiệp Đại học, được về làm việc ở một tờ báo lớn tại trung tâm thủ đô Hà Nội. Tôi nghĩ tận chót mũi Cà Mau, lúc bấy giờ có lẽ chỉ có tôi được vinh hạnh này.


Ơn nghĩa của nơi chôn nhau cắt rốn, của những người sinh thành và nuôi dưỡng tôi, dạy bảo tôi, không có cách gì tôi trả hết.


Một buổi sáng tháng 9-1967, sau khi tập thể dục xong, tôi cầm chiếc ca bước xuống mấy bậc thang của cái giếng nước khá sâu ở thôn Thượng Bùi, để lấy nước đánh răng, rửa mặt. Bỗng một cơn choáng, tôi ngã úp mặt xuống giếng. Anh em trong lớp nhanh chóng kéo tôi lên. Và tôi không nói được tiếng nào. Tôi hoàn toàn cấm khẩu. Bạn Nguyễn Hoàng Long, quê ở Quảng Nam - sau này là phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng - cùng hai bạn nữa trong lớp khiêng tôi ra bến xe Bần Yên Nhân, đưa đi cấp cứu ở bệnh viện Hữu Nghị Việt-Xô (tôi không hiểu tại sao tôi được nằm điều trị ở bệnh viện này. Đây là bệnh viện dành cho cán bộ trung cao cấp. Sau này, tôi nghe nói lại, tôi là học sinh miền Nam được Trung ương quản lý, có tiêu chuẩn trị bệnh ở đây).


Người trực tiếp chữa bệnh cho tôi là bác sĩ Dinh, người Nam Bộ, chủ nhiệm khoa Thần kinh. Ngay buổi trưa cấp cứu, bác sĩ Dinh khuyên tôi hãy yên tâm, đừng quá lo lắng, bệnh nặng thêm. Sau đó, ông cho hai cô y tá đến châm cứu ở mặt, ở hai bàn tay của tôi và bảo tôi nó a… a… a… Lập tức tôi phát âm được, mặc dù còn rất yếu, chưa rõ tiếng. Sau đó ông tiếp tục điều trị bằng châm cứu và thuốc uống, thuốc chích. Nhiều bác sĩ, y tá đến thăm tôi, kể cả bác sĩ Phó giám đốc bệnh viện Trịnh Kim Ảnh  mà sau này tôi còn gặp ông rất nhiều lần trong những chuyến công tác. Chắc tôi là bệnh nhân nhỏ tuổi nhất nằm ở đây, nên được ưu ái chăng?


Sau 10 ngày điều trị, tôi nói được bình thường và xuất viện. Tôi mừng không thể tưởng tượng được, rằng bao điều chưa được nói ra chẳng lẽ im lặng luôn?


Tôi tìm đến nhà bác sĩ Dinh để cảm ơn ông. Nhà ông ở khu tập thể bệnh viện Việt-Xô, số 104, phố Lò Đúc, Hà Nội. Tên ông đầy đủ là Bùi Viên Dinh, rất ít nói. Gặp lại ông, tôi hết sức cảm động, gọi ông bằng chú, xưng cháu, và nói những lời chân tình nhất để cảm ơn ông đã chữa tôi lành bệnh. Biết tôi vừa tốt nghiệp khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ông tỏ ý mừng rỡ và cho biết:


- Vợ chú là nhà thơ, cũng rất yêu văn học. Bà ấy đang đi thực tế, nay mai về.


Tôi hỏi:


- Thưa chú, nhà thơ nào ạ?


- Anh Thơ!


Người tôi nổi gai ốc hết! Nhà thơ Anh Thơ trong Tự lực văn đoàn, tôi đã đọc, đã học và biết khá nhiều về bà. Bà có tập thơ Bức tranh quê nổi tiếng, sau này có Kể chuyện Vũ Lăng, bất kỳ người nào yêu thơ ca, văn học nước nhà đều biết đến. Không ngờ bà lại ở đây, lại là vợ của một bác sĩ người Nam Bộ. Bao nhiêu ngạc nhiên, bao nhiêu sự tình cờ thúc giục tôi muốn gặp gỡ, muốn tìm hiểu về đôi vợ chồng già này càng sớm càng tốt.


*


Một buổi sáng chủ nhật, tôi trở lại 104, phố Lò Đúc thăm chú Dinh. Cô Anh Thơ vừa đi thực tế khu Bốn về chiều hôm qua. Lần đầu tiên được diện kiến nữ sĩ Anh Thơ, tôi cảm thấy rất sung sướng, hạnh phúc. Hôm đó có cả nhà thơ Xuân Diệu cũng vừa đi thực tế khu Bốn với cô Anh Thơ, đến chơi. Lúc tôi đến thì hai nhà thơ “tiền chiến” đang say sưa kể lại chuyện bom đạn, chuyện gặp người này, người khác ở tuyến lửa; chuyện ăn uống, chuyện nhảy xuống hầm cá nhân dọc đường để tránh máy bay Mỹ oanh kích như thế nào… Xuân Diệu lâu lâu lại lắc lắc cái đầu tóc quăn rất nghệ sĩ. Ông kể nhiều câu chuyện rất văn hoa, bóng bảy, giàu hình tượng về cuộc sống, cuộc chiến đấu của bà con trong ấy. Rằng có một chị dân quân ở Quảng Bình bắt được lá “bùa” hộ thân của một tên giặc lái Mỹ bị ta bắn rơi. Lá “bùa” đó in bằng ba thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, chúng mang theo bên mình để đề phòng nếu rơi vào tay ta thì đưa ra, may ra được tha chết. Lá “bùa” đó có nội dung rất thảm thiết mà qua giọng đọc của Xuân Diệu, nghe càng buồn cười: “Tôi là người Mỹ, gặp bước không may. Không nói được tiếng Việt Nam. Tôi nhờ quý ông, quý bà giúp đỡ cho thức ăn, chỗ ở, rồi tôi muốn nhờ quý ông đưa đến người nào có thể che chở cho tôi và đưa tôi đến cơ quan nào đó có thể đưa tôi về nước Mỹ. Chính phủ tôi sẽ cảm ơn quý ông, bà”. Xuân Diệu vừa nhớ lại vừa đọc, thỉnh thoảng chen một hai câu tiếng Pháp giải thích cho đúng nghĩa của nội dung lá “bùa” hộ thân đó. Rồi nhà thơ bình một câu, cười rung cả đôi vai:


- Chưa ra trận mà chúng nó đã sợ chúng ta bắn rơi như thế thì ta thắng là phải!


Xuân Diệu cáo chào ra về; đến xoa xoa đầu tóc tôi rồi hẹn với chú Dinh chủ nhật tuần sau trở lại uống bia. Tôi nghĩ bụng và lấy làm tiếc sao Xuân Diệu không ở lại chơi lâu hơn nữa để kể chuyện và đọc thơ cho vui. Đúng là con người tài hoa.


Xuân Diệu ra về. Cô Anh Thơ bắt đầu hỏi chuyện tôi. Rằng tôi tập kết ra miền Bắc có bà con thân thuộc nào cùng đi, có sáng tác văn thơ không, có đọc nhiều sách không, chừng nào nhận công tác và cuối cùng là sức khỏe. Chắc được chú Dinh kể lại, cô Anh Thơ hỏi rất nhiều về bệnh tình của tôi vừa qua. Cô nói nhanh và thường hay mất chữ sau cùng của câu nói. Cô mong tôi thường xuyên đến chơi và ăn cơm với gia đình. Cô chú không có con, nhà vắng vẻ, cô tỏ ý muốn có mặt tôi ở căn phòng này càng nhiều càng tốt. Tôi rất cảm ơn tình cảm của cô chú…


*


Cô Anh Thơ và chú Dinh nhận tôi làm con nuôi. Tôi rất ngại vì tôi và cô chú hiểu nhau chưa nhiều, vả lại tôi đã gần 30 tuổi, sợ tình cảm khó gắn bó lâu dài. Đọc được suy nghĩ của tôi, cô Anh Thơ tâm sự:


- Cháu cứ coi đây như gia đình cháu. Chú Dinh người miền Nam, cháu cũng người miền Nam, sẽ rất hợp nhau không gì phải ngại. Chú cũng rất thiếu thốn tỉnh cảm quê hương như cháu. Cô nhà thơ, cháu cũng học văn chương, nay lại là nhà báo, chắc cô cháu mình dễ hiểu nhau, thông cảm nhau.


Tôi định trình bày thêm điều gì đó, nhưng cô Anh Thơ nói luôn:


- Từ nay trở đi, cháu gọi chú Dinh bằng ba, gọi cô bằng má. Đừng gọi cô chú nữa! Gọi ba má cho thân mật.


Thế là hầu như chủ nhật nào tôi cũng đến thăm ba má nuôi. Sau vài lời hỏi thăm, tôi xắn quần đi lau nhà, tưới mấy giò phong lan treo cạnh cửa sổ, sắp xếp lại sách vở trên giá, nếu má Anh Thơ bảo. Tốn nhiều thời gian nhất là mang can đi xếp hàng mua bia hơi cho ba Dinh tại cửa hàng bia ở đường Nguyễn Công Trứ, gần Bộ Nông trường . Người cần uống bia thì nhiều, nhưng bia bán ra có hạn, mỗi người chỉ mua được hai vại (hai cốc lớn). Tôi thường phải xếp hàng hai lượt để mua đủ bốn cốc bia (khoảng 2 lít). Khổ nhất là món tiền lẻ. Nhiều khi xếp hàng tới nơi rồi, nhưng không có tiền lẻ cũng phải đứng qua một bên chờ đến khi người bán có tiền lẻ thối lại , mới tới phần mình. Anh em thương binh, đưa thẻ ra thì được ưu tiên số một, nhưng cũng phải có tiền lẻ mới được bán trước. Cho nên dân uống bia hơi có câu nói vui “Tiền lẻ hơn thẻ thương binh” là vậy.


Lần nào mua bia mang về nhà, ba Dinh mừng trông thấy. Hầu như bữa ăn nào ông cũng phải có cốc bia nhắm với mấy hạt lạc rang trước rồi mới dùng cơm.


Một hôm má Anh Thơ đi vắng, ba Dinh ngồi uống bia, tâm sự với tôi: “Hơn mười năm trước, má Anh Thơ con có một cơn bệnh cho nên phải mổ. Ba má không có con là vậy. Con chỉ biết thế thôi, đừng tỏ mò hỏi, má sẽ buồn”.


Sau này đọc ba tập Hồi ký Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, và Bên dòng chia cắt của Anh Thơ, tôi mới thấy một đoạn “hồi tưởng của ba Dinh ghi như nội dung ba nói với tôi trước đây, nhưng cụ thể hơn, chi tiết hơn:


“Năm 1959, hay có lẽ là năm 1960, Anh Thơ thấy không biết lý do gì không có thai nên muốn cả hai vợ chồng đi khám. Vợ tôi đi khám ở bệnh viện Việt-Xô, bác sĩ Trí phát hiện có một khối u dạ con. Sau khi đã xác định thì chỉ định của bác sĩ Cẩn là bác sĩ Viện Bà mẹ và Trẻ em để thực hiện phẫu thuật. Lúc bấy giờ tôi được đồng chí cho phép thăm mổ, khi mổ ra thì thấy có hai cái u xơ ở tử cung. Bác sĩ Cẩn có hỏi ý kiến tôi là nếu một cái thì có thể cắt một phần có thể giữ lại một phần tử cung, nhưng hai u to thế thì không thể giữ lại được, phải cắt hoàn toàn tử cung. Lúc bấy giờ, trong khi người ta mổ, tôi còn nhìn thấy gì nữa mà cứ nghĩ buồn bực vì mình không có con cái nữa. Tôi cũng như mọi người đều muốn có con nối dõi tông đường. Cắt bỏ tử cung thì vợ chồng sẽ tuyệt tự, tôi buồn lắm, sẽ không có con và về già sẽ cô đơn, nhưng tôi lại thương vợ tôi vì nếu em biết thì khổ sở thế nào? Anh Năm và anh Bảy của tôi đều có con để nối dõi tông đường, nhưng tôi cũng buồn vì hai anh và các cháu của tôi lại theo chế độ cũ, còn tôi thì không có con. Đó cũng là do trời định. Sau đó tôi tiếp tục phải phấn đấu và giải quyết, nhất là sau có người khuyên tôi nếu như thế thì nói cho Anh Thơ biết và đề nghị Anh Thơ cho cưới vợ lẽ để có con.


Nhưng tôi quan niệm nếu hai vợ chồng như vậy thì không có hạnh phúc và nếu lấy thêm người khác chắc gì mình đã có con? Vì thế tôi đã xác định chỉ cần có hai vợ chồng và tôi càng yêu vợ hơn. Biết rằng lúc nào vợ cũng buồn phiền vì không có con do mình, tôi tự xác định là không nghĩ đến cưới vợ khác để có con hay là vấn đề quan hệ sinh hoạt với người phụ nữ khác. Tôi cũng tự xác định đó là đạo đức của người cộng sản”.


Hồi tưởng này má Anh Thơ phát hiện khi ba Dinh mất, nghĩa là hơn 30 năm sau khi ba Dinh ghi lại những dòng trên đây.


… Hôm ấy ba Dinh và má Anh Thơ không được vui. Tôi đến, ba má hỏi qua loa vài câu về công việc của tôi và không nói gì thêm. Linh tính cho tôi biết hình như có chuyện gì căng thẳng giữa hai người. Như thường lệ, tôi hứng nước, bước ra cửa sổ tưới mấy giò phong lan, sau đó lau sàn nhà rồi hỏi ba Dinh:


- Con đi xếp hàng mua bia cho ba nhé?


Ba Dinh nửa muốn, nửa không:


- Để trưa trưa một chút cũng được, Phương. Hôm nay tự dưng ba không muốn uống bia.


Sau đó ba Dinh mặc áo, đội mũ bước ra ngoài. Đoạn ông quay lại nói:


- Trưa nay Phương ở nhà ăn cơm với má, ba đi đằng này gặp mấy ông bạn già.


Ba Dinh đi rồi, má Anh Thơ gọi tôi lại nói rất dài về quan hệ tình cảm giữa ba má trong hơn mười năm qua. Nghe tới đâu, tôi cảm động rưng rưng thương má tới đó, kể cả những lúc hai người giận nhau. Sau cùng, má Anh Thơ đưa cho tôi một bức thư dài 8 trang giấy pơluya má viết cho tôi ngay sau khi má đi công tác ở Bắc Giang về. Má bảo tôi đọc ngay và giữ lấy bức thư ấy coi như những gì tình cảm má dành cho tôi trong hơn một năm qua.


Ngồi nhớ lại và viết những dòng này, xin phép vong hồn ba Bùi Viên Dinh và má Anh Thơ cho con được không nhắc lại những gì má Anh Thơ nói về ba trong buổi sáng ấy và viết về ba trong lá thư hiếm hoi đó. Trên trang sách này, con đã gần 70 tuổi, một lần nữa con cảm ơn ba Dinh đã chữa lành bệnh cho con và cám ơn ba má đã dành cho con những tình cảm gia đình hết sức đặc biệt mặc dù rất ngắn ngủi, để bù đắp sự thiếu thốn tình mẫu tử trong những ngày con sống và làm việc ở miền Bắc.


Sau ngày giải phóng miền Nam, ông bà Anh Thơ vào Sài Gòn sống một thời gian ở đường Trần Hữu Trang (quận Phú Nhuận), sau đó trở ra Hà Nội, sống tại khu tập thể cũ kỹ trong ngõ Văn Chương chật hẹp. Được ít lâu sau, ông Bùi Viên Dinh mất. Bà lại càng cô đơn. “Tuổi già giọt lệ như sương”.


Báo Văn nghệ công an (của Bộ Công an) số 4, ra tháng 4-2004, trước khi nhà thơ Anh Thơ mất một năm, đã viết:


“… Chúng tôi bắt đầu từ khu tập thể nằm sâu trong ngõ Văn Chương, Hà Nội, chúng tôi men theo lối cầu thang xây theo kiểu cổ và đã lung lay tay vịn dẫn lên tầng 3. Ở phía cuối dãy hành lang, chỉ đủ một người đi ấy là căn hộ 13 m2 với một bà già 84 tuổi đau yếu. Đó là cuộc sống hiện tại của nữ sĩ Anh Thơ. Căn hộ được che chắn bởi một tấm liếp cói, từ ngoài đi vào người ta ngửi thấy mùi ẩm thấp, mùi dầu gió của người già, mùi chăn đệm, mùi bếp núc, mùi sách cũ lâu ngày. Không gian chật hẹp và thiếu ánh sáng. Đồ đạc chồng chất lên nhau, cái tủ đựng đầy sách chất ngất, cái bếp chỉ đủ một người đứng, bếp ga đơn gỉ đen… Chỉ thừa ra đúng một lối nhỏ để đi lại, mọi công việc của bà Anh Thơ được diễn ra trên không gian “thoáng” nhất trong nhà, đó là… chiếc giường. Trông bà nhỏ bé và già yếu. Mấy hôm trời nắng lại, cái khớp chân hành hạ, bà không thể đi lại trên cái cầu thang xây kiểu cổ đã lung lay tay vịn. Tuổi già nhiều bệnh, từ thấp khớp đến huyết áp, dạ dày, tiền đình… bà lúc nào cũng tư lự, buồn phiền. Tai không còn nghe rõ, mắt không còn nhìn rõ, cuộc sống cô đơn, chỉ biết làm bạn với những hồi ức xưa, sâu thẳm… có lẽ ngoài kỷ niệm, bà chẳng còn gì. Kể cả căn hộ 13 m2 cũng sắp bị phá đi xây lại. Bà đang lo sẽ đi đâu, về đâu?”.


Tác giả Bức tranh quê những ngày trên giường bệnh vẫn luôn tỏ niềm khao khát được hoàn thành phần bốn bộ hồi ký văn học của mình (ba phần trước đã được xuất bản như đã nêu trên).


Hồi 7 giờ ngày 14-3-2005, nữ sĩ Anh Thơ trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng ở Hà Nội. Trong lễ viếng nhà thơ hôm 18-3-2005, có rất nhiều người đến thắp hương tiễn biệt bà.


TTP.


Rút từ Ngòi bút và cây kéo, NXB. Văn Nghệ, 2008


Nguồn: Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê. Tập bút ký chọn lọc của Trần Thanh Phương. NXB Hội Nhà văn, sắp phát hành.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sơn Tây Tứ quý - Nguyễn Xuân Diện 19.04.2018
Con nuôi - Trần Thanh Phương 16.03.2018
Giáo sư Trần Văn Giàu – cây đại thụ của ngành Sử học Việt Nam - Trần Thanh Phương 08.03.2018
Cà Mau có thầy Phan Ngọc Hiển - Trần Thanh Phương 07.03.2018
Cao Xuân Huy và Cao Xuân Hạo - Trần Thanh Phương 07.03.2018
Cha tôi - Nguyễn Thế Thanh 25.02.2018
Người Trung Quốc xấu xí (7) - Bá Dương 25.01.2018
Chuyện trà - Triệu Xuân 25.01.2018
Trường Sa mùa biển lặng - An Bình Minh 25.01.2018
Chuyện nhân thế đời thường, chuyện facebook - Triệu Xuân 04.12.2017
xem thêm »