tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22328717
25.01.2018
Bá Dương
Người Trung Quốc xấu xí (7)



Nếu chúng ta muốn người Trung Quốc có thể mở rộng cái tấm lòng nhỏ hẹp ra, chúng ta phải


học tập của người phương Tây sự vui vẻ phóng khoáng, tấm lòng thích giúp người. Nếu chúng


ta muốn người Trung Quốc thân thể cường tráng tất phải học tập người Tây phương dùng thì


giờ để vận động chứ không phải để xâu xé lẫn nhau.


Tất cả những thứ này có gì là nịnh ngoại đâu? Đứng trước người Tây phương, lễ độ, lịch sự,


có thật là chúng ta không cảm thấy thẹn vì mình thấp hèn không? Thế mà chúng ta chỉ biết


phản ứng bằng cách cho đến đít vẫn "không quên cái gốc của mình", đến cùng vẫn cau mày,


quắc mắt. Sách cổ có câu: "Biết xấu hổ tức là có can đảm", thế mà cho đến chết cũng không


nhận cái sai của mình, chỉ biết kích động giận dữ và cho rằng như vậy là viên mãn, đạt đạo rồi.


Thật ra biết xấu hổ, không chỉ cần có can đảm mà thôi, còn cần có cả trí tuệ nữa.


Ông Đạc Dân cho là "tự thẹn vì mình thấp hèn" sẽ dẫn đến chỗ "tự hạ mình", nhưng thật ra hai


ý niệm này hoàn toàn không có liên hệ nhân quả. "Tự cảm thấy mình chưa được" cố nhiên có


khả năng đưa đến chỗ "tự xem mình không ra gì", nhưng cũng có thể đưa đến chỗ tự biết mình


và vì vậy có thể tự sửa mình cho khá hơn. Trường hợp Minh Trị Duy Tân của Nhật Bản cũng


như thế thôi.


Trói buộc con người vào trong cái vòng của tâm tình kích động, cái đó thuộc về chiến thuật


phong hỏa liên hồi của thời đại Phiên Thiên Ấn nhưng đồng thời cũng là một trong những đặc


tính của người Trung Quốc.


Có vị giáo sư người Mỹ viết một quyển sách nhan đề "Nhật Bản là số một", thế mà không có


một người Mỹ nào tức giận bảo rằng ông ta là đồ phản quốc hoặc đi làm bồi cho nước ngoài.


Bá Dương tôi bất quá chỉ viết một vài thiên phóng sự dựa trên những ấn tượng hoàn toàn hời


hợt mà cái Phiên Thiên Ấn kia đã bay xuống chực chụp vào đầu không biết bao nhiêu lần.


Than ôi! Dù anh có nhắm vào cổ tôi mà giáng xuống thì tôi vẫn cứ kêu lên rằng: "Tuyệt đối


phải bắt chước phương Tây, nhưng không làm nô lệ cho họ".


Xin độc giả lượng thứ!


Trích từ "Dẫm lên đuôi nó"


KỲ THỊ CHỦNG TỘC


Vốn là một thứ thâm thù huyết hận giữa các dân tộc, sự kỳ thị chủng tộc trên thế giới hiện nay


đang trên đà được khắc phục bởi ý thức con người và sự phát triển của nhân quyền.


Nhưng đối với người Trung Quốc vốn thông minh tuyệt vời - vừa làm ra vẻ ta đây rất trịnh


trọng, vừa tính toán rất chi ly, nhưng chung quy vẫn chỉ luẩn quẩn trong cái quan niệm khu


vực đầy cảm tính của cái nước tương kia - thì cách tốt nhất không gì hơn là tự than khóc cho


số phận hẩm hiu của mình. Người Trung Quốc cơ bản không có một tư cách gì để công kích


và phê bình sự phân biệt chủng tộc của người Mỹ da trắng cả. Mà hiện nay nước Mỹ có lẽ là


một trong những nước mà sự kỳ thị chủng tộc được xem là ít nhất trên thế giới.


Cứ nhìn thử chung quanh, nước lớn nước bé, nước mạnh nước yếu đếm không xuể, nhưng e


rằng chỉ có nước Mỹ là nước còn tiếp tục chấp nhận người Trung Quốc nhiều nhất. Giả sử


không có nước Mỹ thì không hiểu tất cả những người Trung Quốc ngày đêm mơ tưởng như


điên cuồng đến việc rời bỏ nước để di dân không biết sẽ đi đâu?


Tôi nói như vậy không có nghĩa là người Mỹ da trắng không kỳ thị chủng tộc, hoặc không kỳ


thị gì đối với người Trung Quốc.


Tôi chỉ muốn nói cái đầu óc kỳ thị nơi người Trung Quốc, so với kỳ thị chủng tộc, còn ở mức


độ thấp kém hơn, vì nó là đầu óc kỳ thị địa phương. Ở bất cứ một nước nào đã đạt đến một


nền văn minh cao, cái đầu óc kỳ thị địa phương này tự nhiên biến mất để nhường chỗ cho lợi


ích của những đảng phái chính trị.


Có bao giờ anh nghe nói người Mỹ của tiểu bang Virginia tẩy chay người của tiểu bang


Arizona chưa? Hoặc người Nhật ở đảo Honshu (Bổn châu) tẩy chay người ở đảo Shikoku (Tứ


Quốc) không? Thế mà cái kỳ thị chủng tộc của người Trung Quốc so với cái kỳ thị của người


Mỹ còn kinh khủng hơn nhiều.


Nếu ta đem kết hợp lại với nhau những ý niệm rất hẹp hòi kiểu "Con cháu của Hoàng Đế và


Thần Nông", "Đại Hán oai trời", "Không phải là tộc loại của chúng ta", "Lòng dạ khác chúng


ta" thì chỗ còn lại cho người các dân tộc khác sống sẽ chẳng còn gì?


 


Có một số người Trung Quốc ở Mỹ - địa vị xã hội cũng chẳng hơn gì những người Mỹ da đen


nhưng lại xem những người này không đáng một đồng xu - hễ cứ nhắc người Mỹ da đen thì lại


lắc đầu lia lịa như bị động kinh. Cái hành vi khinh thị ấy có thể làm cho người ta tức mà chết


được. Không ai có thể tưởng tượng nếu 11% của dân Trung Quốc là da đen hoặc da đỏ thì


mấy ông da vàng kia sẽ sốt lên đến bao nhiêu độ?


Người không cùng một tỉnh đã không thể chấp nhận, bao dung lẫn nhau rồi! Đối với người


không cùng một chủng tộc không biết sự thể sẽ như thế nào?


Kỳ thị chủng tộc là một thứ quan niệm ghẻ lở, nó dai dẳng và lây lan. Nhưng cái đáng làm ta


ngạc nhiên, kinh dị là phương pháp nước Mỹ dùng xử lý cái loại ghẻ lở đó. Phương pháp của


họ có thể không giống Trung Quốc, vì phương pháp Trung Quốc là: "Dấu bệnh vì sợ phải


chữa" (Húy tật kỵ y) và "Cái xấu trong nhà không thể để lộ ra ngoài" (Gia xú bất khả ngoại


dương). Sự thực đó là nguyên tắc chứ không phải phương pháp.


Phương pháp "chân chính" là một đằng bị chảy máu ở hậu môn lại lấy tay che đít nói: "Không,


tôi có bị bệnh trĩ hành hạ đâu? Ai bảo tôi có bệnh trĩ tức là có ý đồ hoặc có lòng dạ gì đó!" Có


cái "ý đồ" gì đó là một vũ khí truyền thống toàn năng. Chỉ cần tung nó ra, niệm vài câu thần


chú là đối phương phải vắt giò lên cổ mà chạy; đồng thời cái búi trĩ kia bỗng nhiên lành lại.


Ồ! Xin lỗi! Tôi nhỡ mồm! Không phải cái búi trĩ kia bỗng nhiên lành mà tự nó đang ở tình


trạng có bệnh bỗng nhiên biến thành tình trạng không có bệnh gì cả. Con giòi của hũ tương,


cái con người dị dạng, chỉ biết che dấu bệnh của mình chứ không muốn chữa nó.


Nước Mỹ là một xã hội lành mạnh, cường tráng đến độ nó có thể tự điều chỉnh mình. Thay vì


lấy tay che đít thì cái phản ứng của nó lại là nói toáng lên cho mọi người biết: "Tôi có bệnh trĩ


đây! Mỗi ngày tôi bị chảy mất 8.000 ga-lông máu [gallon = khoảng hơn 4 lít]. Tôi muốn biết


giá của một chiếc quan tài là bao nhiêu?" Tất cả mọi người đều biết thì mọi người đều ý thức


rằng mình có liên quan. Sau đó tiêm thuốc, uống thuốc, mổ xẻ, biến ghế gỗ thành ghế xô-pha,


biến cái lưng còng thành lưng thẳng để có thể đứng thẳng lên được.


Tất cả các phương tiện truyền thông hay văn học đều phải nói lên cái kỳ thị chủng tộc này,


làm cho mọi người đều biết, làm cho mọi người đều sợ vì thấy mình có liên quan. Một xã hội


lành mạnh phải dựa trên một tâm lý lành mạnh của người dân - người dân có trí tuệ biết tôn


trọng sự thực, có dũng cảm thừa nhận những sai lầm, có năng lực tự sửa đổi.


Kỳ thị chủng tộc là một sai lầm. Đó là một sự thực không thể chối cãi. Người Mỹ có được cái


trí tuệ và dũng cảm tìm cách sửa đổi và giải quyết một cách thỏa đáng những lỗi lầm. Họ có


khả năng lựa chọn những quyết định đúng đắn khiến cho sự kỳ thị chủng tộc dần dần bớt đi,


và có thể một ngày nào đó không còn nữa.


Trích từ "Dẫm lên đuôi nó"


LẤY HỔ THẸN LÀM VINH DỰ


Dưới sự ủy thác của Cục Giáo dục tỉnh Đài Bắc, Trường Đại học Sư phạm Công lập Đài Loan


đã làm một cuộc điều tra xem ý kiến mọi người như thế nào về việc trừng phạt thân thể. Kết


luận báo cáo cho biết: 91% thầy giáo, 85% gia trưởng, 80% học sinh đều cho rằng nếu không


đưa đến việc đả thương thì sự đánh đòn là một việc nên làm. Cuộc điều tra này cho thấy cả


người đánh lẫn người bị đánh - như chuyện Chu Du và Hoàng Cái ở trận Xích Bích - hai bên


cùng ưng thuận. Một bên ưng thuận đánh và một bên chấp nhận bị đánh.


Tại Đại hội thường niên của Hội Tâm lý học Trung Quốc và của Hội Tâm lý trắc nghiệm


Trung Quốc vấn đề này cũng được đem ra thảo luận. Một số người dự Đại hội thuộc trường


phái hiếu chiến đã dùng những lời lẽ khó hiểu để yêu cầu cải tạo các trường học thành những


phòng tra khảo thời cổ đại. Ngay cả bản thân Chủ tịch chính phủ Đài Loan, ông Lâm Dương


Cảng - mà vận mệnh cuộc đời lại hoàn toàn trái ngược với đời của Bá Dương tôi - đã tuyên bố


với Quốc hội Đài Loan rằng lúc nhỏ sở dĩ ông đã học hành được vì bị thày giáo đánh cho đau


đến nỗi phải kêu trời. Ông Lưu Gia Dục, giáo sư Viện Y học quốc lập Dương Minh còn đưa ra


kiến nghị với Bộ Giáo dục là đối với học sinh có thể dùng những hình phạt thân thể "thích


đáng".


Nhưng sự đóng góp hay ho nhất phải là của bà Dương Thục Huệ, phóng viên tờ "Tự lập Vãn


báo" trên một mục đặc biệt nhan đề: "Yêu ư? Đánh ư?". Bà đề nghị: quan trọng nhất là làm


sao vận dụng cho thích đáng, chỉ cần sao cho trẻ con đừng bị lầm lạc, Cục Giáo dục không cần


quy định một cách quá "cứng nhắc". Trong bài báo của bà ta có một đoạn đáng để lại cho hậu


thế như sau:


"Một ông giáo nọ ở một trường Trung học công nổi tiếng tại Đài Bắc có "cái roi để đánh học


trò" và cái "tài dạy học" cùng nổi tiếng như nhau. Ngay hôm đầu tiên bắt đầu dạy học, ông


treo lên tường bao nhiêu là roi mây (chẳng khác nào một gian phòng dùng để tra khảo người


thời xưa - BD). Sau đó giao hẹn với học trò: "Cứ mỗi một thành tích dưới tiêu chuẩn mấy


điểm là đánh mấy roi". Kết quả là tất cả học sinh của lớp ông này đều đạt thành tích rất tốt (và


tỷ lệ lên lớp cũng rất cao). Cái tên của ông toàn trường ai cũng biết (Nếu ông ta treo trong lớp


những thanh kiếm thì không chừng tiếng tăm của ông ta có thể bay đến cả Luân Đôn nữa -


BD). Tất cả học sinh đều xin được vào lớp của ông (Phải có một con số rõ ràng ở đây chứ


không thể nói chung chung được - BD). Rất nhiều học trò sau khi đã tốt nghiệp rồi còn tiếc


những lúc "xếp hàng để được đánh tay" (những cô cậu vừa qua những đợt thi tàn nhẫn để vào


trường xong có lẽ còn có cái tình cảm này, chứ về sau tôi e rằng làm gì còn chuyện đó - BD).


Như vậy để thấy rằng vấn đề không phải ở chỗ sự trừng phạt thân thể có cần thiết không (Đối


với những thầy giáo muốn nổi tiếng e rằng việc này mười phần quan trọng - BD), nhưng ở chỗ


ý nghĩa mà sự trừng phạt thể xác có thể đem lại được."


Cái đoạn văn này (của bà Dương Thục Huệ) là một trong những sản phẩm văn hóa đặc biệt


của cái hũ tương.


Thật ra, cái loại sản phẩm này đã xuất hiện trên thị trường từ thời Tống vào năm 1068. Thời


ấy, hoàng đế còn nhỏ lúc học nghe thầy giáo giảng bài thì ngồi, thầy giáo thì lại đứng bên cạnh


như học trò.


Thừa tướng kiêm thầy giáo của gia đình là Vương An Thạch vì tôn sư trọng đạo mới đề nghị


cho phép thầy giáo cũng được ngồi.


Tin tức của đề nghị này truyền ra, cái vại tương kia liền bắt đầu sủi bọt. Một trong những đại


thần kiểu giòi bọ tương dầu là Lữ Hối bèn kêu toáng lên như bị dẫm lên đuôi, và đằng đằng sát


khí kết tội:


- "Vương An Thạch vọng tưởng ngồi cạnh vua khi giảng bài cho vua, muốn xóa bỏ cả cái tôn


nghiêm của hoàng đế để đưa cái tôn nghiêm của thầy học hoàng gia lên. Quả là họ Vương


không biết gì về sự hòa thuận trên-dưới, mà cũng không biết gì về sự phân biệt vua-tôi!"


Ôi thôi! Ngay từ thời cổ cũng đã có những ông giáo lấy làm vinh dự được đứng bên cạnh


hoàng đế như thế. Chẳng trách thời nay, cũng có học sinh "xếp hàng để được khỏ tay" và lấy


đó làm vinh dự.


Tôi lại nhớ đến năm 1910 - vào những ngày mới thành lập nước Trung Quốc Dân Quốc - có


một lão già người Mãn Thanh bảo hoàng chạy đến trước huyện đường, tụt quần ra sai gia nhân


đánh mình một trận bằng roi. Sau đó, dường như thấy người đã nhẹ nhõm, bèn bảo: "Sướng


quá! Sướng quá! Đã lâu không được thưởng thức cái mùi vị này!" Kiểu biểu diễn này so với


việc thích được quất vào tay còn tiến xa hơn một bậc.


Chuyện khó hiểu là: tại sao cái đầu óc nô lệ ở Trung Quốc vẫn không thể chấm dứt được? Mặc


dù trong văn hóa Trung Quốc có một số truyền thống rất ư tàn khốc như bó chân đàn bà, thiến


đàn ông, và nhục hình bây giờ đều đã bị bãi bỏ.


Bộ Giáo dục nghiêm cấm hình phạt thân thể, đó là một trong những quyết định rất đúng đắn.


Không tưởng tượng được vào những năm 80 của thế kỷ XX này mà còn có người muốn đặt lại


vấn đề. Vấn đề ở đây đáng lẽ phải là đối với điều hổ thẹn phải biết hổ thẹn, chỉ có những kẻ


mà đầu óc nô lệ đã thâm căn cố đế mới có thể có được cái tài là lấy điều hổ thẹn làm vinh dự.


Mối nguy cơ đích thực của dân tộc Trung Quốc vẫn là có những quái thai như Lữ Hối, như


những đứa học trò "thích xếp hàng để được đánh tay". Nếu những chuyện nhục nhã như thế lại


trở thành vinh dự thì trên thế giới này chắc chẳng còn chuyện gì để lấy làm vinh dự nữa.


Những kẻ thích bị sỉ nhục thì hoặc bị mất cảm tính của con người, hoặc tỏ ra không biết; hoặc


không quan tâm đến nó; hoặc để trốn tránh trách nhiệm hay có thâm ý gì khác; hoặc chỉ đơn


giản vì họ là những kẻ trời sinh ra để làm nô lệ; hoặc đã là nô lệ từ trong bào thai rồi.


Những người chủ trương đánh đòn nhấn mạnh: "thương cho roi cho vọt". Ôi! Tình thương ơi!


Vì ngươi mà con người đã phạm biết bao nhiêu tội lỗi mỗi ngày.


Bố mẹ vì thương mà bó chân con gái mình; nghĩ rằng trong tương lai nó sẽ dễ lấy chồng. Đó


cũng là tình thương vậy. "Vua cha" đối với tiện dân thì đánh cho thịt nát xương tan, bởi vì


"hình kỳ vô hình" (trong thời gian giam giữ thì không được đánh), đó cũng là tình thương dân


như con đỏ.


Cứ thử hỏi một câu: - Thầy giáo đối với học trò, đánh một roi, đó là tình thương? Đánh 10 roi,


100 roi cũng vẫn là tình thương ư ? Trên báo đăng chuyện thầy giáo đánh ba bạt tai làm cho


học trò bị chấn thương sọ não rồi cũng nhất quyết bảo đó là vì mình thương nó.


Làm sao phân định được ranh giới đây? Làm sao biết được cái hàm ý của nó đúng hay sai?


Trong nền giáo dục bằng tình thương làm gì có tiết mục "Tu lý học" (đánh đập học trò)? Còn


nếu nói đến "thích đáng" thì thế nào là "thích đáng"? Ai định được tiêu chuẩn? Và làm sao biết


được cái nào là hợp tiêu chuẩn?


- "Chỉ cốt không gây thành thương tích là được!".


Đó là tiêu chuẩn ư?


Trên thực tế, bất cứ một sự trừng phạt thân thể nào cũng đều để lại thương tích. Giống như


bảo: "Cứ đút tay vào lò lửa, càng lâu càng tốt, chưa thấy thương tích thì chưa cần rút ra". Cái ý


nghĩa này nghe chừng cũng thảm não chẳng khác nào âm thanh của một bánh xe xì hơi. Bất cứ


ai lúc sắp bắt đầu ra tay đánh thì các thớ thịt đều gồng lên, tròng mắt long lên. Chỉ nội cái


dáng điệu khủng khiếp này - thần thái và ánh mắt hung ác - dù chưa đánh thật cũng đã có thể


làm cho người sắp bị đánh tổn thương rồi.


Cứ như đứa học trò đứng trước quyền uy tuyệt đối của người thầy, hoặc đứa con trước uy


quyền tuyệt đối của ông bố, khi người bố dơ tay lên dọa đánh, đều đã cảm thấy mình bị hạ


nhục như thế nào. Rõ ràng chẳng có tình thương gì ở đó cả! Chỉ có cái mầm mống của sự hận


thù từ cả đôi bên, bởi vì đó là một thứ lăng nhục đối với nhân cách.


Đến lúc nào học trò không còn thích xếp hàng để được đánh tay nữa, lúc ấy các em mới có thể


xóa bỏ được mặc cảm bị sỉ nhục, và lúc ấy sự trừng phạt thể xác mới không còn có ý nghĩa


"tốt đẹp" nữa.


Nếu những trẻ em không làm nổi các bài thi lại phải chịu những sự trấn áp, bạo lực thì lòng tự


trọng bẩm sinh của trẻ con, cái linh tính và trí tưởng tượng rất đáng quý của chúng e rằng sẽ bị


tiêu tan mất.


Có đến 29% thầy giáo, sau khi Bộ Giáo dục nghiêm cấm đánh đòn học trò, đã cảm thấy "lòng


lạnh như tro tàn, chẳng còn muốn dạy học nữa". Những con người văn hóa theo nghề gọi là


"gõ đầu trẻ" này nếu không được phép thi triển cái thủ đoạn đánh đòn học trò quỷ khốc thần


sầu thì họ cảm thấy đành phải thúc thủ, không còn cách nào khác. Như vậy Bộ Giáo dục có lẽ


tốt hơn nên mời họ cuốn gói ra khỏi trường và giới thiệu họ đến làm gác cửa cho các sòng bạc.


Bá Dương không đủ sức để phản đối 91%, 85%, cả đến 80% những người đồng ý việc đánh


đòn. Nhưng tôi đây có thể hướng về những người học trò bị sỉ nhục, đề nghị một bí quyết như


sau: Nếu họ đánh các em, tuy các em không thể đánh lại được ngay bây giờ, nhưng khi lớn lên


như một người trưởng thành, thì phải quyết tâm trả mối thù đó. Mười năm chưa có gì là muộn


cả. Có những phần tử rất hiếu chiến có thể mắng các em: "Tôi cứ đánh đấy! Mười năm sau rồi


ta nói chuyện!" Đối với cái loại rắn vườn này, các em vĩnh viễn đừng bao giờ quên chúng, hãy


cứ thật tình hẹn chúng mười năm sau.


Nhưng đây chưa phải là ý chính của tôi.


Cái ý nghĩa chính, khiến lòng tôi thật đau xót, là: qua lần điều tra này (của Trường Đại học Sư


phạm công lập Đài Loan) số người thích đánh đòn và những người thích bị đánh đã chiếm một


tỷ lệ quá cao.


Phàm mục đích của giáo dục là bồi dưỡng cái tôn nghiêm và vinh dự của nhân tính. Thế mà


ngược lại, hôm nay mọi người đều đồng ý rằng: mục đích của giáo dục là tiêu diệt cái tôn


nghiêm và vinh dự của nhân tính đó.


Có thể nói đây là một trong những xì-căng-đan lớn của thế kỷ XX và của vấn đề giáo dục.


Điều đó chứng tỏ cái vại tương này không những rất sâu mà tương lại còn đặc nữa. Cho dù


bây giờ chính phủ có xuất đầu lộ diện giúp đỡ đi nữa thì một số người cũng khó lòng sửa đổi


được.


Vì thế chúng ta có thể nói rằng: cái nền giáo dục của chúng ta quá ư là dị hình, đã đến chỗ đi


ngược lại thiên chức của nó.


Càng nghĩ đến tôi lại càng thấy lạnh xương sống.


Trích từ "Dẫm lên đuôi nó"


PHẦN III: CÁC BÀI PHÊ BÌNH


CÁI VẠI TƯƠNG


Cái vại tương - Một biểu tượng của căn bệnh văn hóa Trung Quốc


Khiêu Lập Dân


Trong "Thất thập niên đại Tạp chí", Hồng Kông, ngày 12/11/1973.


Phàm người Trung Quốc nào còn quan tâm đến tiền đồ tổ quốc đều có thể nghĩ đến một vấn


đề căn bản sau đây: tại sao Trung Quốc (từ 1842 đến 1949) lại yếu thế? Mỹ, Nhật tại sao lại


mạnh thế?


Diện tích của Trung Quốc rất lớn (đứng thứ nhì trên thế giới chỉ sau Liên-xô), người lại rất


đông (vào bậc nhất thế giới), tài nguyên tương đối phong phú. Thêm vào đó, lại có một nền


văn hóa mà một số người tự hào là lâu đời tới 5.000 năm. Đáng lý Trung Quốc phải là một


quốc gia vào hạng mạnh nhất thế giới mới đúng. Nhưng sự thực lại không phải như vậy. Từ


Chiến tranh Nha phiến (1840), bị các cường quốc liên tục đến xâu xé, Trung Quốc phải cắt đất


bồi thường, chỉ tý nữa là đã bị phân chia.


Đối với câu hỏi trên, chỉ có hai cách trả lời:


Thứ nhất: Đầu óc và sức lực của người Trung Quốc tồi quá.


Thứ hai: Cái văn hóa truyền thống của Trung Quốc có vấn đề.


Đối với cái khả năng thứ nhất, có hai cách giải thích không giống nhau. Cách thứ nhất là: đầu


óc, sức lực người Trung Quốc tồi quá. Có lẽ họ chỉ khá hơn rợ Hung-nô, Đột-quyết và người


da đen ở Phi Châu ngày hôm nay (chứ không phải ngày mai), nhưng chắc chắn là thua người


Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Nhật.


Cách giải thích thứ hai: trí lực của tổ tiên người Trung Quốc rất khá, ít nhất cũng tài giỏi ở


mức độ huy hoàng của những đời Hán, Đường. Nhưng bất hạnh thay, cái trí lực ấy càng ngày


càng kiệt quệ, đời sau không bằng đời trước, sau vài trăm năm đã biến thành một dân tộc của


những thằng ngu.


Giả sử đúng là trí lực của chúng ta quá tồi, chúng ta phải chấp nhận nó như thế thôi. Nhưng ai


đã dậy chúng ta không biết tự mình phấn đấu nhỉ? Căn cứ trên "Định luật sinh tồn - mạnh


được yếu thua" thì một đất nước bị biến thành cái loại "thuộc địa hạng bét" như thế bởi vì nó


xứng đáng như thế. Nếu nói ngược lại, giả sử không phải vì trí lực của chúng ta có vấn đề,


nhưng vì cái văn hóa của chúng ta có vấn đề, thì tiền đồ của chúng ta còn có thể khá được,


nhưng chúng ta phải biết tự sửa mình, can đảm vứt cái gánh nặng văn hóa ấy đi mới được.


Chúng ta vừa nói qua khả năng thứ nhất (trí lực có vấn đề), đó là một khả năng trên mặt lý


luận, nhưng không tồn tại trong thực tế. Bởi vì không có một người Trung Quốc nào thừa nhận


rằng trí lực của dân tộc Trung Quốc chúng ta lại thấp kém. Đấy không phải là một vấn đề cảm


tính hoặc vì muốn tự thổi phồng mình lên, nhưng một vấn đề trên mặt lý luận có chứng cớ,


không thể phủ nhận.


Những chứng cớ này là gì?


Ta có thể nhìn thấy trong hai sự kiện sau:


1- Phần đóng góp của người Hoa vào công cuộc phát triển kinh tế ở Đông-Nam-Á.


2- Những thành tựu về học thuật của người Hoa tại Mỹ, những thành quả này làm cho người


da trắng vốn đầy tự tôn mặc cảm cũng phải thừa nhận rằng trí tuệ cá nhân người Hoa cao.


Nhưng họ cũng biết người Hoa không đoàn kết, không hợp tác với nhau, chống đối nhau một


cách kịch liệt và không phát huy được sức mạnh tập đoàn.


Ông Bá Dương trong tập "Đến chết không nhận lỗi" đã đưa ra một cách giải thích tuyệt vời về


vấn đề của người Hoa chúng ta:


Một người đến thỉnh giáo một vị cao tăng, hỏi về kiếp trước và kiếp sau của mình. Vị cao tăng


đáp bằng mấy câu thơ sau:


Muốn biết kiếp trước thế nào


Cứ xem mình sống ra sao kiếp này


Đầu thai rồi thế nào đây


Hãy nhìn vào việc hiện nay đang làm


[Dục tri tiền thế nhân


Kim sinh thụ giả thị


Dục tri hậu thế quả


Kim sinh tác giả thị ]


Bá Dương lại còn than rằng: "Mấy câu danh ngôn này làm cho tôi liên tưởng đến cái văn hóa


5.000 năm của chúng ta". Muốn biết cái văn hóa này tốt hay xấu, không phải cứ vùi đầu vào


nghiên cứu cái đống giấy cũ, mà phải mở to mắt nhìn những tội nợ mà chúng ta đang phải chịu


hôm nay thì may ra mới rõ được.


Vấn đề thì rõ ràng có rồi, mà cũng có thể nói rằng đó là vấn đề văn hóa. Vậy phải đi thêm một


bước nữa để tìm cách phân tích nó.


Ông Tôn Quang Hán, một người rất ngưỡng mộ ông Bá Dương, trong bài "Hoàn cảnh và đất


đai" có viết:


"Nguyên nhân tại sao Trung Quốc không thể xây dựng được một quốc gia cường thịnh ? Đó


không phải vấn đề bẩm sinh, nhưng một vấn đề sau khi sinh. Nếu dùng ngôn ngữ của người


làm ruộng để nói thì đó không phải là vấn đề "giống" mà là vấn đề "đất".


Đối với thực vật, đất là thổ nhưỡng, thủy phân, không khí, ánh sáng mặt trời, v.v...; đối với


một dân tộc, đất là hoàn cảnh, tập tục của nhân tính nói chung.


Cho đến nay thực sự chúng ta chưa sinh sản được những loại cây tốt. Nguyên nhân, nếu không


do hạt giống, thì nhất định phải vì đất đai, hoàn cảnh, có gì đó không thích hợp cho những


giống cây này sinh trưởng.


Trong văn hóa và tập tục 5.000 năm của Trung Quốc, ngoài phần tốt ra cũng có phần xấu.


Phần xấu này là mảnh đất nơi hạt giống kia không thể lớn lên được. Cái phần văn hóa, tập tục


rộng lớn, xấu xa này đúng như ông Bá Dương gọi một cách đơn giản và tóm lược là cái "vại


tương".


Tôi thấy Lỗ Tấn tiên sinh đã sáng tạo ra cái "A Q", Lý Tông Ngô tiên sinh lại sáng tạo ra cái


"Hậu hắc", sau đó Bá Dương tiên sinh còn sáng tạo ra cái "hũ tương", ba thứ này đều chí lý cả,


chẳng khác nào ba chân của một cái đỉnh.


Nếu nói "A Q" đã vạch trần "nhân tính" của người Trung Quốc, "Hậu hắc" đã tố giác cái


"quan tính" của người Trung Quốc, thì "Hũ tương" tựa hồ như gốc gác của hai thứ trên. Tại


sao có "A Q"? Chính do cái "Hũ tương" mà ra!


Thế thì cái "Hũ tương" đây là gì, và có gì ở trong đó? Định nghĩa của ông Bá Dương như sau:


"Một xã hội hỗn độn bị sâu ruỗng và tù hãm, lại bị loại chính trị nô tài thao túng, đạo đức què


quặt, nhân sinh quan cá nhân, đồng tiền và thế lực làm vua. Một xã hội như thế làm cho linh


tính con người chỉ có xơ cứng và tiêu tan đi thôi".


Ông Bá Dương còn nói tất cả các thứ trong hũ tương ấy lại đẻ ra những hiện tượng khác như:


"sự sùng bái quyền thế một cách mù quáng", "tính ích kỷ chắc như gông cùm", "ngôn ngữ bịp


bợm", "mê đắm những xác chết", "bất hợp tác", "tàn nhẫn và đố kỵ một cách lạnh lùng, trắng


trợn", "làm phách và ngớ ngẩn".


Trước khi nói về những sản phẩm của hũ tương, tôi xin được nói thêm vài câu, vì một khi


tràng giang đại hải về hũ tương rồi sợ không thể quay trở lại được nữa.


Một số người yêu nước nghĩ rằng Trung Quốc phải giầu mạnh. Không ai có thể phủ nhận điều


đó. Nhưng làm thế nào để giàu mạnh mới là vấn đề. Chẳng lẽ cứ phô trương cái sẹo của tổ tiên


ra? Cứ trách cứ tổ tiên phỏng có ích gì? Chẳng lẽ cứ trách cứ tổ tiên cho đã đời, rồi thì quốc


gia sẽ giầu mạnh lên chăng?


Tôi cho rằng làm như thế không phải là thượng sách. Dân tộc Trung Quốc là một dân tộc bị


"bệnh", năm tháng càng dài thì bệnh càng nặng.


Cái bệnh này bắt nguồn từ thời Hán Vũ Đế sùng đạo Nho, lại càng bị nặng thêm với những


thứ kỳ quặc như khoa cử, như Lý học thời Minh, Tống, làm cho dân tộc Trung Quốc hầu như


bị tiêu tan hết linh tính, chỉ còn thoi thóp sống mà thôi.


Những đối thủ ngày trước như Hung - Nô, Đột - Quyết, Khiết - Đan, Tây - Hạ thực ra có một


nền tảng văn hóa quá thấp, nên không tránh khỏi bị Hán hóa. Ngay cả sau này Mông Cổ và


Mãn Thanh chỉ chinh phục được chúng ta trên mặt võ lực, còn trên mặt văn hóa lại bị chúng ta


chinh phục lại. Những chiến thắng về văn hóa này làm cho chúng ta vốn mắc bệnh mà không


hề biết.


Cho đến khi nhà Thanh bị ép buộc phải mở cửa cho Tây phương chúng ta mới gặp phải đối


thủ lợi hại mà chúng ta chưa bao giờ gặp trước kia. Lúc đó, cái trạng thái bệnh tật nọ mới bị lộ


tẩy ra ngoài.


Một dân tộc mắc "bệnh" cũng giống như một cá nhân, nếu không chữa cho hết bệnh thì không


có cách nào khá lên được. Dù dân chủ, dù khoa học, mà ngay cả đến những thứ thuốc bổ nhất


thiên hạ cũng chẳng có ích gì cho một người bị bệnh đường ruột và dạ dày quá nặng.


Muốn chữa được bệnh trước hết phải tìm cho ra "căn bệnh". Không thể vì sợ thuốc hoặc sợ


đau mà giấu bệnh được. Nếu cần, dẫu phải cưa tay cưa chân cũng kiên quyết làm, dù phải cắt


bỏ dạ dày, thay thận cũng không tiếc. Cần phải có cái dũng khí như thế mới có khả năng cải tử


hoàn sinh được. Vấn đề cốt lõi ở đây là phải khiêm tốn kiểm thảo căn bệnh văn hóa lâu đời


này.


"Căn bệnh" này của dân tộc Trung Quốc xét cho cùng là gì? Lỗ Tấn, Lý Tông Ngô, Bá


Dương,... trước sau đều đã chỉ rõ. Nhưng "thuốc thang" thế nào cho khỏi? Vấn đề trị bệnh này


còn lớn hơn việc nêu rõ tên bệnh, song cơ hồ các vị đó chưa thấy ai đề cập đến cho chúng ta.


Nhưng nếu suy nghĩ kỹ ta có thể thấy cái "ý tại ngôn ngoại" của họ. Dường như trước tiên họ


muốn chúng ta cùng tham khảo để thấy rõ từng chứng bệnh một, liệt kê ra từng nguyên nhân


của căn bệnh. Để rồi sau đó người Trung Quốc - những ai còn biết suy nghĩ - từng người một


nhìn vào những bệnh chứng này mà suy xét, cái nào xấu thì bỏ đi, cái nào không xấu thì giữ


lại.


Nếu những người có lòng này càng ngày nhiều, "cái bỏ đi" và "cái giữ lại" càng ngày càng


lớn. Như thế, tất chẳng mấy chốc cái bệnh lâu đời đó của dân tộc Trung Quốc sẽ không thuốc


mà tự lành. Cái này có lẽ sẽ dính dáng đến vấn đề "biết dễ, làm khó" hoặc "biết khó, làm dễ"


mà ở đây chúng ta không bàn đến.


Trong bài "Đến chết không nhận lỗi" (ở tập "Đập vỡ hũ tương") có đoạn như sau:


"Có kẻ cho rằng người Trung Quốc bản thân không xứng đáng, cho nên mới để cho nước nhà


ra nông nỗi này. Không những không biết tự trách móc mình, mà trái lại, họ còn tức tối, đi


trách cứ tổ tiên cái này không đúng, cái nọ không đúng, làm họ phải chịu hậu quả. Thay vì xây


dựng một giang sơn tốt đẹp để họ được hưởng phúc lộc thì tổ tiên để lại cho họ một đất nước


như thế".


Đối với cách nói ấy, ông Bá Dương đã trả lời:


"Điều này chả khác chuyện cha với con. Nếu con khá giả, thông minh linh lợi,học qua được


đại học, thế mà đời lại hỏng thì đương nhiên không thể trách cứ được bố nó; mà nó chỉ có thể


tự trách mình không xứng đáng. Nhưng nếu như đứa con từ khi sinh ra đã bị vi trùng lậu làm


cho hỏng mắt, lại bị di truyền làm cho dở điên dở khùng, ngớ ngớ ngẩn ngẩn, lang thang đầu


đường xó chợ xin ăn kiếm sống thì cái trách nhiệm của nó quá nhỏ. Nếu nó có mở mồm trách


bố nó tại sao lại mắc bệnh phong tình, trách mẹ nó vì sao không chữa khỏi bệnh đi, thì chúng


ta cũng không thể nhẫn tâm bắt nó im mồm được".


Các sản phẩm của cái hũ tương mà ông Bá Dương đã nói đương nhiên không nhất thiết cái


nào cũng hoàn toàn đúng, nhưng ít nhất cũng có một phần không sai. Văn chương ông Bá


Dương xưa nay vốn mạch lạc phân minh, chỉ tiếc lúc nói về những sản phẩm hũ tương, hành


văn lại hơi lộn xộn, có lúc lung tung lạc đề. Lúc thì vụt một cái lộn trở lại, lúc vụt một cái lại


phóng đi.


Chúng tôi xin trích một phần giới thiệu nhỏ dưới đây - đã qua một lần chỉnh lại theo nguyên


tắc giữ đúng nguyên ý tác giả - để người đọc đối chiếu với nguyên văn làm bằng chứng:


Sản phẩm đầu tiên của hũ tương là sự sùng bái quyền thế một cách điên cuồng. Ở Trung Quốc


thời cổ, người có quyền thế tối cao là Hoàng đế. Đối với ông ta những nguyên tắc luân lý đều


vô nghĩa. Thân thuộc nhánh bên (không phải trực hệ) ở trước mặt Hoàng đế bất quá chỉ là


"thần", là "nô tài", (Ví phỏng Hoàng đế đã được tấn phong, cho dù là bố mẹ cũng không được


là ngoại lệ). Đối với cái thứ tính cách oái oăm trái với luân lý này (quan tính lớn hơn nhân


tính), một loại đạo đức dị hình, không những không ai phản đối mà còn cho là ý trời, nghĩa


đất.


Về mặt hoang dâm trong đời sống cung đình thì những Hoàng đế Tây phương còn phải kém


xa. Chưa cần bàn đến cái "Ba nghìn người đẹp trong hậu cung" của thời Đường, ngay thời Chu


vương triều, thiên tử có thể có tới 121 bà vợ một cách hợp pháp.


Theo "Nội tắc" trong "Lễ ký" chỉ để sắp xếp cho chu tất chương trình hàng ngày của cái việc


"điên loan đảo phụng", sao cho cả hơn trăm bà đều được thấm đượm ơn mưa móc của nhà vua


cũng đã là một điều khổ tâm rồi; chưa kể những chuyện ghen tuông tranh giành giữa các bà.


Tất cả các ông thánh đối với mấy việc này không những không phản đối, mà họ còn biến các


loại "dâm đồ" này thành thiên tử thánh thần, biến cái kiểu "chơi loạn chơi tạp" này thành ra


phép tắc chính thức của quốc gia, xã hội. Vì vậy Bá Dương cho rằng:


Thánh nhân không những chỉ hùa theo mà còn là đầu sỏ, cùng phạm tội với những kẻ có


quyền và bọn dâm đồ. Quyền lực nào khác xăng dầu, thánh nhân không những không tìm cách


đề phòng sự dễ cháy của nó mà lại còn châm lửa thì khi nó bốc lên làm sao mà dập được?


Bá Dương cho là quyền lực của Hoàng đế Tây phương luôn luôn bị thành phần trí thức giới


hạn, giám sát. Nhưng ở Trung Quốc thì các ông thánh lại vì phe nắm quyền mà phát minh ra


thứ triết học kỳ quặc kiểu như sau:


"Khắp dưới gầm trời không có chỗ nào không là đất của nhà vua. Tất cả các kẻ sĩ trong thiên


hạ có kẻ nào mà không phải là tôi của nhà vua". Thì ra, sinh mạng tài sản của nhân dân đều do


cái tên "đại dâm đồ" đó ban cho. Chẳng trách cái thằng chơi gái thứ dữ đó cứ muốn làm gì thì


làm.


Khi sự tôn sùng quyền thế là nền tảng của 5.000 năm văn hóa truyền thống thì cái quan hệ


giữa người và người chỉ có sự "kính và sợ", còn sự "thương yêu" thì không đáng kể. Cái gọi là


"nhân" chỉ là thứ tìm thấy trong sách vở, khó mà gặp được trong hành động. Vả lại, chữ


"nhân" này tựa hồ không có tính cách bình đẳng của hai bên cùng được lợi.


Sùng bái quyền thế một cách tuyệt đối đưa đến một nền chính trị nô tài và cái đạo đức dị hình,


không còn tiêu chuẩn về thị phi, chỉ còn cái tiêu chuẩn vụ lợi bất kể phải trái. Chỉ còn một con


đường là tiền tài, phú quý, công danh. Mọi người đều phải gọt đầu cho nhọn để liều mạng chui


vào chỗ quan trường. Chỉ cần tôi có thể làm quan thì bắt tôi làm gì tôi cũng làm.


Như Đào Uyên Minh - không vì năm hộc thóc mà uốn cong lưng - thì có được mấy người?


"Mười năm tân khổ" chẳng vì nghiên cứu phát minh, chẳng vì viết sách lập thuyết, chẳng vì


bôn ba cách mạng, mà chỉ vì "một ngày thành danh". "Thành danh" ở đây có nghĩa là làm


quan vậy.


Xưa nay, việc làm quan hấp dẫn người ta như điên cuồng cũng bởi vì:


1- Có quyền trong tay, dù ở cấp bực nào (tùy quan lớn nhỏ) cũng muốn gì được nấy.


2- Được mọi người sùng bái.


3- Học vấn trở thành uyên bác (Đối với người Tây phương: tri thức là quyền lực. Đối với


người Trung Quốc: quyền lực là tri thức).


4- Tài sản được gia tăng (Người Tây phương lấy buôn bán làm nguồn gốc của sự giàu sang.


Người Trung Quốc trọng sĩ, khinh thương; lại bị ảnh hưởng của cái "Hà tất viết lợi" của Mạnh


Tử).


Sở dĩ mồm không nói đến lợi, nhưng trong bụng lại nghĩ đến lợi một cách sống chết, vì thế


mới làm quan để vơ vét. Chuyện tên đạo tặc khét tiếng Trịnh Chúng đời Nam Tống, sau khi


quy hàng được bổ làm quan, bị đồng liêu coi rẻ, y tức mình bèn có thơ rằng:


" Các vị làm quan để ăn trộm,


Trịnh Chúng ăn trộm mới làm quan!"


(Các vị tố quan hựu tố tặc,


Trịnh Chúng tố tặc tài tố quan)


Đúng là một câu nói toạc móng heo cái việc làm quan!


Tôn thờ quyền thế quá độ - không cần nói đến trường hợp chính trị, học thuật - ngay cả đến


tình hữu nghị giữa người với người cũng biến chất, biến thành thiển cận, thành thế lợi.


LÀM SAO SỬA CHỮA CÁI BỆNH


Làm sao sửa chữa cái bệnh đến chết cũng không nhận lỗi


Xã luận đăng trong tờ "Tin nhanh tiếng Hoa",


New York, ngày 12 tháng 8 năm 1981.


Nhà văn Đài Loan nổi tiếng Bá Dương đang đến thăm nước Mỹ, trong bài diễn thuyết hôm


qua tại đây ông có nói rằng dân tộc Trung Quốc sở dĩ ngã một lần mà không dậy được nữa chủ


yếu vì cái tính "đến chết cũng không nhận lỗi".


Cách nhìn này của ông Bá Dương tuy chỉ là một sự thực hiển nhiên - không phải một phát


hiện gì mới - nhưng không phải vì thế mà không là một phán đoán rất sâu sắc.


Chúng ta hãy thử nghĩ xem: những chính sách lừa nước hại dân, khư khư cố chấp của mấy


chục năm gần đây ở Trung Quốc có phải vì cái tính đến chết cũng không nhận lỗi ấy mà ra


sao? Cứ cho dù không phải hoàn toàn đúng như thế, nhưng trên thực tế cũng chẳng sai là bao


nhiêu.


Và nếu ta nhìn rộng ra thì việc giữ thể diện, việc đến chết không nhận lỗi cũng chỉ là bản tính


thông thường của toàn nhân loại, là khuyết điểm của tất cả các dân tộc và cộng đồng.


Kinh thánh của đạo Cơ đốc nói mỗi người có hai cái túi. Cái túi đằng trước chứa các lỗi lầm


của kẻ khác, cái túi đằng sau lưng chứa lỗi lầm của mình.


Nói cách khác, con người ta chỉ thích nói đến những chỗ không hay của kẻ khác mà không


thích nói thật về cái sai của mình. Từ 2.000 năm trước cũng đã thế rồi, đến chết không nhận


lỗi đã là cái bệnh chung của con người chứ không cứ chỉ của riêng người Trung Quốc.


Cái tính của con người vốn đều như vậy. Nhưng sao các quốc gia phương Tây lại bỗng tiến bộ


vượt bậc về các mặt chính trị kinh tế, văn hóa, còn người Trung Quốc lại như thế? Có gì mâu


thuẫn ở đây chăng?


Theo ý tôi câu trả lời cho việc này có liên quan đến vấn đề chế độ chính trị.


Nếu mỗi người đều có hai cái túi, cái đằng trước đựng các lỗi lầm của người, cái đằng sau


đựng các lỗi lầm của mình, thì mỗi người đúng ra phải đem những cái gì trong cái túi ở sau


lưng mình mà bỏ vào cái túi ở đằng trước của người khác để có thể xem cho tỏ tường.


Vì nếu như mọi người đều đồng ý mở cái túi ở đằng trước mình, công bố toàn bộ tất cả, thì


những cái sai lầm trong cái túi ở đằng sau của mọi người tất nhiên cũng phải lộ ra, không có


cách gì dấu được, chối được.


Chế độ này gọi là tự do ngôn luận, chính nó là dân chủ.


Tự do ngôn luận, dân chủ là một thứ linh đan rất hiệu nghiệm để chữa chứng bệnh "Đến chết


cũng không nhận lỗi". Trái lại, nếu không có dân chủ, kẻ có quyền thế sẽ bịt mồm những kẻ


thấp cổ bé họng; bọn có quyền thế lúc ấy chỉ nhìn thấy cái túi của bọn không có quyền kia ở


trước mặt chúng mà thôi. Còn bọn chúng lại bịt kín cái túi chứa lỗi lầm của chúng lại.


Không được nói đến, các lỗi lầm của những kẻ nắm quyền sẽ vĩnh viễn không lộ ra ngoài, và


vì thế cũng không bao giờ có cơ hội để được sửa sai. Cho đến lúc cái sai lầm này trở thành quá


lớn thì toàn bộ xã hội sẽ mắc phải tai ương.


Các quốc gia Tây phương có sai lầm không? Đương nhiên là có, và nhiều cái sai lầm cũng


chẳng phải nhỏ gì.


Ví dụ sự bóc lột giai cấp thợ thuyền trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản, sự áp bức các dân


tộc bị trị dưới chế độ thuộc địa trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa đế quốc. Đó đều là những lỗi


lầm to lớn.


Nhưng vì họ có dân chủ nên không đi bịt mồm mọi người. Vì vậy ngay tại Luân Đôn, Các-


Mác vẫn có thể mở Đại hội Cộng sản Quốc tế đầu tiên, phát biểu Tuyên ngôn Cộng sản mà


không bị cấm đoán - đó là một dẫn chứng không thể phản bác.


Cho nên, dưới các chế độ tự do dân chủ, những lỗi lầm của họ không ngừng được đưa ra ánh


sáng, và nhờ thế không ngừng được sửa sai. Quốc hội được thành lập, các pháp chế bảo vệ


quyền lợi công nhân đã ra đời, đời sống công nhân được cải thiện rất nhiều. Sau đó, những bài


học của hai trận Đại chiến Thế giới cũng đã đưa đến cơ hội độc lập cho các thuộc địa.


Khổng Tử tán dương vua Vũ rằng: "Văn quá tắc hỷ" (Nghe được lỗi lầm của mình thì rất


mừng); lại nói: "Thánh nhân chi quá, như nhật nguyệt kinh thiên" (Sự sai lầm của thánh nhân


như mặt trời và mặt trăng đi qua trên bầu trời), ý nói những người bình thường, vì khác với


thánh nhân, mới đi dấu diếm những lỗi lầm của mình.


Khổng Tử tuy hy vọng mỗi người bình thường đều trở thành thánh nhân, nhưng lại không hề


đưa ra được phương pháp tu thân cụ thể nào khả dĩ áp dụng được trong thực tế để đạt đến mục


đích.


Trong khi đó, người phương Tây lại nghĩ ra cách dùng chế độ dân chủ biến mỗi người làm


chính trị trở thành một ông thánh, hoặc ít nhất cũng có khả năng trở thành ông thánh trong


việc xử lý những sai lầm của mình khi nắm quyền.


Vì "Như mặt trời và mặt trăng đi qua trên bầu trời", tất cả mọi người ai cũng đều nhìn thấy,


nên không thể nào có sai lầm mà không chịu sửa chữa. Cứ thử nghĩ cho kỹ ta sẽ thấy cái công


dụng của chế độ này to lớn là nhường nào!


Từ chuyện này chúng ta có thể rút ra một kết luận: Nếu chúng ta muốn mỗi người đều tự giác


nhận lỗi của mình, dù chẳng phải để trở thành thánh cả, thì chỉ có một phương pháp duy nhất


là thực hành dân chủ.


Dân chủ làm cho mỗi người không thể dấu diếm lỗi lầm của mình, tự nhiên có thể sửa đổi


được cái tính "Đến chết cũng không nhận lỗi" kia.


Cho nên nếu hỏi Trung Quốc cần gì, cầu gì, thì chỉ có một thứ duy nhất mà thôi, đó là dân chủ.


(còn tiếp)


Nguồn: Người Trung Quốc xấu xí. Nguyên tác Bá Dương. Nguyễn Hồi Thủ dịch từ bản in năm 1989 – 1990 của NXB Hoa Thành, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sơn Tây Tứ quý - Nguyễn Xuân Diện 19.04.2018
Con nuôi - Trần Thanh Phương 16.03.2018
Giáo sư Trần Văn Giàu – cây đại thụ của ngành Sử học Việt Nam - Trần Thanh Phương 08.03.2018
Cà Mau có thầy Phan Ngọc Hiển - Trần Thanh Phương 07.03.2018
Cao Xuân Huy và Cao Xuân Hạo - Trần Thanh Phương 07.03.2018
Cha tôi - Nguyễn Thế Thanh 25.02.2018
Người Trung Quốc xấu xí (7) - Bá Dương 25.01.2018
Chuyện trà - Triệu Xuân 25.01.2018
Trường Sa mùa biển lặng - An Bình Minh 25.01.2018
Chuyện nhân thế đời thường, chuyện facebook - Triệu Xuân 04.12.2017
xem thêm »