tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21326551
02.12.2017
Nguyễn Nguyên Bẩy
Quê mình Hà Nội – Văn viết cho tập Thơ: Kinh thành cổ tích



Nhà hộ sinh Cây Đa Nhà Bò, căn nhà ngói nhỏ dốc Thọ Lão, vượt lên chừng hai mươi thước dốc là phố Lò Đúc thuộc bàng Cò, ngược lên là chợ Hôm, phố Huế, Vân Hồ… xuôi xuống là cửa ô Đông Mác, làng Thanh Nhàn, trường Lương Yên, xa nữa là Lò Lợn, là đê, là sông Cái… Tôi đã sống và lớn lên quanh quẩn vùng đất với những tên ký ức vừa nhắc thức, tính đến ngày rời Hà Nội, 1976, là gần ba mươi lăm năm. Cuộc ly hương trên chính quê hương mình nào ngờ dài quá, lâu quá, sau 30 năm, nửa đời người, tôi mới trở lại thăm quê lần nhất. Loạt bài viết dưới đây, chép lại cảm nhận tôi sau những lần trở về quê, như một chuộc lỗi vội vã, khi thấy tuổi tác đã đến hối thúc chân chậm chạp bước về nguồn cội đời người. Mời đọc để yêu quê mình, Hà Nội.


1.Sau Ba Mươi Năm, Trở Về…


Tựa của Bài văn minh họa này viết đầy đủ là Sau Ba Mươi Năm, có một người trai Hà Nội, trở về quê mình – Kinh Thành Cổ Tích


Cớ chi lâu vậy, người trai? Sài Gòn Hà Nội nào có xa gì mà tha hương ba chục năm hôm nay mới một lần quay về? Cớ chi người trai không thưa lời, lại khóc.


Tôi là người trai ấy. Rời Hà Nội vào Sài gòn lúc tuổi ngoài ba mươi tóc còn xanh mướt, nay tóc dẫu nhuộm vẫn trắng gầy. Tôi tháo kính mắt, dang tay hít một hơi dài cái gió còn lạnh Bân của Nội Bài Hà Nội. Gió lạ mà quen hay gió quen mà lạ? Không biết. Chỉ biết rằng, ngày ra đi nơi này, Nội Bài, chỉ là những cánh đồng ngô lúa, mà nay đã là một sân bay, tuy chưa hùng vĩ như sân bay Bắc Kinh hay Seattle nhưng cũng đáng mặt con gái nước mình đi dự thi hoa hậu hoàn vũ vậy. Tôi lên xe bus, bảo là xe của hàng không, về Hà Nội thu vé ba mươi ngàn đồng. Rẻ thuận. Xe vào đường cao tốc. Bác tài tuổi chừng tuổi ngày tôi xa Hà Nội. Tôi nhìn bác, bỗng thấy gần, thấy mến, vì chẳng hiểu ngẫu nhiên gì bác lại mở băng nhạc dân ca đồng quê Bắc Bộ, ru đưa tôi về Kinh Thành Cổ tích:



Nơi ấy/ Tôi là đứa trẻ đẻ rơi/ Mẹ dệt lụa trên cầu giải yếm/ Các bà tiên chuyền tay nhau bú mớm/ Chuyền tay nhau hát hò/ Chày Yên Thái tôi nghe/ Trái bàng rơi tôi nhặt/ Gạo Làng Gióng tôi ăn/ Sông Cái lắm thủy thần/ Rằm Mồng Một dâng hoa chùa Bộc… 


Lúc nãy trên xe người trai cười thầm khi nghe bác tài nói ngọng. Dân Hải Dương, Hải Phòng đây. Nhưng khi bước xuống xe trên đất nội ô. Đàn xe ôm chạy lại. Như Sài Gòn thôi, không lạ. Nhưng lạ quá âm thanh chào mời. Lày chú, lày bác, nên xe em... Âm thành ơi là âm thanh, líu lo gì ngọng vậy?


Tôi định lên xe ôm anh chàng da trắng, mặc bảnh, đeo mắt kính, nói ngọng nhưng biết tránh ngọng bằng từ đồng nghĩa. Nghĩ sao lại thôi, chọn cách tung tăng thả bộ. Phố vẫn tên cũ, Hàng Bồ, Hàng Da, nhưng mặt phố không sao nhận ra, sáng lóa, tươi nhuần, tân tiến. Nhìn ngắm thoáng qua. Thoáng qua nhìn ngắm. Một cô gái da mặt trắng hồng, trắng hồng hơn cả con gái Đà Lạt, ăn mặc khá mốt, mốt ngày se lạnh Sài Gòn không mấy khi có, giá cô đừng lớn tiếng qua cái alô cầm tay, thì tôi đã tưởng mình gặp lại tiên nữ trong thơ ngày nào. Sao cứ phải alô lớn tiếng thế? Giận dữ thế và ngọng ngịu thế? Khổ tai anh quá em ơi. Đôi ba cô gái nữa đi qua. Lại đôi ba cô gái khác đi qua. Đẹp. Rất thời trang. Đẹp không chê vào đâu được. Chỉ có điều khi miệng các cô bật ra ngôn ngữ thì sắc đẹp dường như phai đôi phần. Ngày xưa bảo là thanh sắc, thanh đứng trước sắc, có lẽ bây giờ sắc đứng trước thanh, bảo là sắc thanh chăng? Mình già mất rồi, tôi ơi. 


+
Tôi mắc chứng bệnh nhớ nhà. Ngủ lạ nhà một đêm khó được. Nếu bảo Mệnh là từ 1-30 tuổi, thì ba mươi năm Mệnh, quê tôi là Hà Nội. Nếu bảo Thân là từ 31-60 tuổi, thì ba chục năm Thân, quê tôi là Sài Gòn. Giờ đây đã qua tuổi Mệnh Thân, ắt sẽ là Sài Gòn Hà Nội ra ra vào vào. Chuyến đầu tiên này 3 ngày nhé. Cho tôi quen lại Hà Nội, quen dần với phong, với thủy mà chữa bệnh nhớ nhà. Xin ruột thịt gần xa, xin cố nhân, bằng hữu tha cho lỗi vội vàng này của người đang bệnh. Hẹn lần sau, sẽ rất gần, thăm hỏi đủ khắp.


Thay vì thắp một nén nhang nhớ về nguồn cội, tôi đã vay một ban mai, ngồi tưởng trên ghế đá Bờ Hồ. Ghế đá nơi ngồi quen lắm, dù sau lưng không còn ga xe điện, tai tôi vẫn nghe tiếng leng keng, bởi trước mặt vẫn xanh trong mặt hồ ngàn tuổi. Con nhớ mẹ biết bao. Con không nhớ bóng lưng còng lam lũ của mẹ. Vì sinh tồn, sinh lý làm người, thời nào thời chẳng lam lũ, đời nào đời chẳng lam lũ. Con chỉ nhớ nụ cười của mẹ thôi. Nụ cười như một ban mai cuối Bân vào Hạ. Nụ cười thoang thoảng như gió trên cầu Thê Húc. Nụ cười thơm như hoa hồng gói lá chuối các cô gái làng hoa bán gánh Hồ Gươm. Nụ cười ấy có tên là hạnh phúc. Tôi thầm cười, mặt rạng. Một tiên nữ lạ quen nào đó, ngồi xuống bên tôi. Tôi cười chào. Tiên nữ hỏi: Thầy ở Sài Gòn ra? Sao biết? Tiên nữ cười, giọng thật nhẹ. Cháu đoán thế. Thầy giống ông ngoại cháu lắm, từ cốt cách đến giọng nói. Ông ngoại cháu người Hà Nội gốc, vào Sài Gòn sinh sống lâu rồi. Tôi cười đầy mặt. Tiên nữ cúi chào tôi rồi bay lên Cầu Đỏ. Ở đấy nhiều tiên nữ lắm, múa hát từ Tháp Bút dọc cầu vào hút đền xanh Núi Ngọc. Tôi muốn lên đấy lắm, lên chiếc cầu sơn đỏ, nhưng tôi không dám, vì tôi sợ mình lại khóc, bởi:


Nơi ấy lẽ Càn Khôn/ Các bà tiên lần lượt về mây trắng/ Con đưa mẹ đến đầu cầu giải yếm/ Mẹ trắng vào mây/ Mẹ tan vào gió/ Mẹ đi trảy hội Tiên Rồng…


Thân chủ của tôi là một sĩ quan quân đội đã nghỉ hưu và vợ, con nhờ tôi giúp thiết kế một căn nhà phong thủy. Khu đất xây cất căn nhà này thân thuộc với tuổi thơ tôi. Trước mặt ao rau muống, sau lưng ao rau muống. Tôi đã từng lần mò bờ ao câu lươn, câu ếch. Tôi đã từng bắt đầy giỏ cá rô cờ, rô don, cá trê, cá quả ngày hồ hanh khô, để mẹ kho om lá gừng, ăn nhớ đến chết. Khu đất ấy giờ đã biến mất. Đường ven ao đã bê tông hóa, nhà cửa hai bên, sau trước, trước sau đã hai ba tầng, mái bằng, ngói đỏ, lan can nhấp nhô nở xòa xanh xanh đỏ lá hoa. Vuông đất nhà cấp bốn của người sĩ quan nghỉ hưu vừa phá, méo mó, thấp cao hiện ra trong mắt tôi sẽ là căn phố lầu sau cùng trong căn hẻm tuổi thơ tôi. Nhà mười mười, trăm mét vuông sàn chồng bốn tấm đang hiện ra trong tâm trí phong thủy tôi. Sẽ cát tường, như đời anh hơn sáu mươi năm cát tường đời tranh đấu, giờ sẽ cát tường đời hạnh phúc vợ con. Vợ anh ít cười. Chị là bà tiên lam làm, tận tụy. Nhưng con gái anh và cháu ngoại anh thì như vườn nắng đỏ vài luống hoa. Anh thanh thản, hồn nhiên giao việc xây cất ngôi nhà cho người con rể. Anh nói cười, tương lai thuộc về chúng, chúng phải gây dựng lấy, phải không mình? Anh hỏi bà tiên vợ và nháy mắt rất lão ngoan đồng, nhìn tôi.


Hà Nội ấm áp dưới mỗi mái nhà. Không nhớ ai đã nói với tôi câu nói ấy. Câu nói có âm sắc văn chương giờ bỗng cháy trong tôi như lửa, ánh lửa tình mầu sắc làng quê, mầu sắc Kinh Thành Cổ Tích, mà người trai tha hương khát nhớ mơ về…


+


Người trai ấy đã ngủ ngon lành ở Kinh Thành Cổ Tích một đêm. Rét se se bảo là rét nàng Bân. Sách vở văn chương ta hầu như chưa nói gì về nàng Bân nhỉ? Nàng Bân xưa ở đâu và giờ ở đâu? Người trai choàng nhẹ tấm áo vợ mua mà như ôm vào lòng nàng Bân của mình. Ai trong đời chẳng có một nàng Bân?


Tôi là một người trai không bình thường. Sinh ra đã không bình thường. Tôi là đứa trẻ đẻ rơi/ Mẹ dệt lụa trên cầu giải yếm. Lớn lên cũng không bình thường. Hư hỏng trong cuồng vọng. Tham lam trong ái tình. Mơ hồ trong đời sống. Xấu trai và lười biếng. Kiêu ngạo và hay cáu kỉnh. Tật hư nhiều như thế hỏi rằng ai chịu nổi. Chỉ có nàng Bân, nàng Bân vị tha, nàng Bân hiền dịu, chỉ có nàng Bân mới dám yêu tôi, chung thủy cùng tôi. Nào chỉ rét về nàng đan áo ấm, mà một giỗi hờn tôi, nàng hát, một cáu kỉnh tôi nàng ru, một phân bụng tôi nở béo, nàng tinh mơ thái tai cây sắc thuốc. Nàng yêu tôi biết bao và tôi hiểu rằng tôi đã nợ nàng nhiều biết bao, nợ một đời không trả được, dỗ dành, kiếp sau luân hồi tôi làm vợ, nàng làm chồng, may ra nợ mới trả xong. Ước sao có một thiên tài viết lời về nàng Bân nhỉ? Nàng Bân vợ của mỗi người trai Hà Nội. Con gái Hà Nội tuyệt vời lắm, được làm chồng họ, mình thành người Hà Nội bản sắc đấy. Không trộn em vào đâu mà lẫn được Bân. Cảm ơn vợ đã yêu anh để hôm nay anh tâm thành viết lời ân này cảm ơn quê mình Hà Nội.


Nàng Bân ơi, rét tháng Ba tôi về quê cùng rét. Hình như nàng gọi tôi về, nàng bảo tôi về, vì những mùa tháng Ba sau các nàng Bân phải đan nhiều áo ấm cho chồng lắm. Hà Nội đang luận bàn việc mở rộng hoành tráng Kinh Thành Cổ Tích.


Kinh Thành Cổ Tích, phương Bắc là Hà Bắc, phương Nam là Hà Nam, phương Tây là Hà Tây, phương Đông là Hà Đông, từ bao đời nay đã là vậy nhỉ? Mừng lo lẫn lộn. Mừng là mừng Kinh Thành Cổ Tích sẽ lớn rộng xứng tầm nước non. Lo là lo Kinh Thành Cổ Tích không còn là Kinh Thành Cổ Tích. Theo các kênh truyền thông, Hà Nội mở rộng ôm hết Hà Đông, Hà Tây cộng thêm vài huyện Hòa Bình, ôm thêm vài huyện Vĩnh Phú. Quá sức bao la, quá sức vĩ đại, vĩ đại như mơ. Tôi thăng hoa kinh thành mở rộng trên ma trận bát quái, thấy rằng kinh thành vượng thế bối sơn, diện thủy, cân bằng tam cương, được số 2, số 4 phía lưng, số 1 số 6 trước mặt. Thầm vui. Những người hoạch định mở rộng kinh thành xem ra cũng tài tình phong thủy lắm. Số 2 thuộc Hôn Nhân, số 4 thuộc Phú Quí, số 1 thuộc Sự Nghiệp, số 6 thuộc Quí Nhân. Xem như sự nghiệp đời người được hôn nhân phú quí dựa lưng, quí nhân tiếp rước thì sự nghiệp nào chẳng Địa/Phong Thăng. Một căn nhà, một khu dân cư, một làng quê, một kinh thành cũng vậy, được số 2, số 4, số 6 hưng cát ước gì hơn.


Đang nói về Kinh Thành mở rộng, chợt nhớ Phở Vuông, bèn liên tưởng đến sự thống nhất của phong thủy giữa nội dung và hình thức. Phở ơi, món ăn quốc hồn quốc túy, ngọt ở nước, dẻo mềm ở bánh, chất ở thịt dù tái nạm gầu hay tái gân, tái chín, thơm ở ớt ở hành, và cái ngây ngất dâng hương khi rưới vào phở đôi ba giọt nước mắm lúc làn khói phở lên hoa. Phở là vậy, phở Nam Định, phở Hà Nội, hay phở Sài Gòn, cho dẫu ở đâu phở cũng phải là phở. Nói phở trước rồi nói đến quán, đến mời chào, đến xuân hạ thu đông mỗi mùa một hương phở khác, rồi thì đũa bát, Sài Gòn gọi là tô, gọi gì thì gọi vẫn là phở. Cho nên có phở bát tròn tất có phở tô vuông. Hà Nội có phở thương hiệu Vuông. Phải ăn mới biết Phở Vuông thế nào.


Cầu Trời kinh thành cổ tích mở rộng hoành tráng cỡ nào xin vẫn là Kinh Thành Cổ Tích. Tôi hằng tin và đã hành theo đức tin ấy. Tôi vẫn tin và lắng nghe đức tin ấy. Bởi Hà Nội là Quê tôi! 


Nơi ấy/ Hoa đào nở chấn Cửa Đông/ Áo trấn thủ phủ rêu Cửa Bắc/ Kèn tầu hừng hực Cửa Nam/ Quốc ca hát đỏ sông Hồng/ Nơi ấy là kinh thành cổ tích/ Nơi ấy là đời tôi… 


Người trai ấy theo rét Bân về làng nghề gốm, rồi theo rét Bân về làng lụa. Kinh thành cổ tích mình, những năm xưa đâu chẳng làng nghề?


Nói thật lòng, những kỷ niệm tuổi thơ về quê hương của tôi nghèo lắm, cơ cực lắm, mẹ khóc nhiều hơn cười, cha cắm mặt xuống đất nhiều hơn ngẩng mặt, tôi bữa đói nhiều hơn bữa no, Bà gọi tên Re thân đau cây mía quắt, chính vì cơ cực thế nên tôi nhớ mãi nụ cười của mẹ, tôi thăng hoa đời bà, đời mẹ thành tiên, tôi ủ tình tôi vào Sân Chèo Gió Cuốn Lá Đa, vào Giếng Trăng, vào Bánh Trôi Nước, vào Thị Mầu Lên Chùa, vào Mưa Hến. Hình tiếng lung linh như chiều trở gió cuốn mây ngũ sắc cầu vồng quê hương thành Kinh Thành Cổ Tích? Không có những thanh hình, sắc tiếng ấy làm sao thế hệ chúng tôi có thể sống dâng mình cho non nước? Một đời cha tôi, một nửa đời tôi, là sống vậy biết vậy, quê hương gần như lam lũ không có gì đổi khác. Khác chăng là lẽ sống ngày càng đời thường hơn, tự nhiên như tự nhiên phải được, được sống đủ cơm ăn, áo mặc, có nhà để ở, có đường để đi, có nước sạch để uống, có điện để sáng mắt, cho xí tắm để không như gia súc.


Tôi đang đi trên đường vào làng trải nhựa, đường trong làng bê tông, nhà hai bên san sát, nhà thấp nhất cũng ngói đỏ hoa vàng, nhà cao hơn đã đôi ba tấm. Cô tiên cấy lúa đấy ư? Sao hôm nay chưa ra đồng còn thong thưa đứng trên ban công nhìn khách?


Rẽ vào quán nhỏ gọi tô bún riêu. Bún riêu là món khoái khẩu tuyệt vời của tuổi thơ tôi. Cô chủ quán liếng mắt cười, lắc đầu. Sao lắc đầu? Chẳng lẽ bún riêu làng mình giờ khác? Thưa vâng, bún riêu như ngày thầy còn ở làng bây giờ hiếm lắm, phải vào chợ quê mới có. Bún riêu phố thị bây giờ dù nhiều riêu hay ít riêu mà không có chả quế, giò thăn, sườn non, thì cứ gọi là…vợ nấu chồng ăn. Tôi gật đầu. Gật đầu. Vừa ăn bún riêu làng cổ vừa tự trách mình, già mất rồi, tôi ơi. Rét Bân không dỗ dành hẳn tôi đã không ăn hết tô bún. Chẳng phải bún không ngon, mà chỉ bởi bún trong tâm tưởng tôi là bún Kinh Thành Cổ Tích. Chợt hỏi nàng Bân: Ngày xưa nàng đan áo ấm cho chồng sao lâu thế, suốt mùa đông không xong, để đến nỗi tháng Ba còn xin Trời làm rét? Nàng không có sợi hay nàng vụng về? Nàng Bân không đáp.Tôi hiểu, thi nhân xưa trọng cái tình. Thi nhân nay cũng trọng cái tình, nhưng phải là cái tình hợp lý. Nên thi nhân nay chẳng ai chép chữ, tạc hình nàng Bân, phải vậy chăng?


Bát Tràng bây giờ mới thực Bát Tràng. Vạn Phúc bây giờ mới thực Vạn Phúc. Hai câu cảm thán này nói thay lòng tôi. Một làng nghề như trong cổ tích. Tuy nhiên, làng nghề mình còn chưa được tự tin. Có nhất thiết phải bầy chen gốm Cảnh Đức Trấn với gốm Bát Tràng? Có nhất thiết phải may lụa Hàng Châu dán mác hiệu làng lụa Vạn Phúc? Lâu rồi thì phải, được xem bộ phim về làng tranh Đông Hồ. Rớt nước mắt. Những người làng Tranh giã dó cối không để giữ nghề cha ông, để cạnh tranh với tranh tầu Thượng Hải. Tôi đã từng đi ngoài biên giới, đã từng thấy gốm Bát Tràng, thấy lụa Vạn Phúc nơi xứ người, rớt nước mắt tự hào. Mong sao các làng nghề người Việt tự tin bước ra ngoài kinh thành cổ tích.


Tôi đi trong rét Bân lan man làng Vạn nghe tiếng thoi ru tíu tít, đi lan man làng Bát thơm nồng hương gốm ra lò. Chợt nghe rét hỏi: Nếu áo đan xong sớm liệu trời còn cho rét tháng Ba? Đáp, Trời đã cho rồi Trời đâu đòi lại, rét Bân mãi còn. Áo vợ đan xong kịp chớm gió đông, chồng được mặc phùn qua Tết, qua Bân, chẳng là ấm lòng sung sướng hơn sao. Tủm tìm rét Bân cười se se tim tôi… 


+


Còn đêm nay nữa, đêm thứ ba ngủ cùng rét Bân, sáng mai người trai sẽ bay về Sài Gòn. Đêm bay ra cũng mất ngủ đêm bay vào cũng mất ngủ là sao? Bảo là bồn chồn trước đi xa. Ôi cái sự đi về này lạ thật, đi cũng là về cũng một nghĩa về nhà. Vì cái sự về nhà ấy mà nghĩ ngợi mang mang.


Nhớ cái lần bay từ một nơi rất xa về Sài Gòn, mấy đêm không ngủ được chỉ vì chưa giải được ý một nữ sinh người Mỹ, nghiên cứu văn hóa phương đông, cắc cớ hỏi: Nhược điểm về tính tình tính cách và nhược điểm về hình thể của người Việt Nam? Nhìn thầy ngắc ngứ, trò tự trả lời: Về đặc điểm tính cách, người Việt Nam chưa biết cười. Về đặc điểm hình thể, người Việt Nam mông lép. Trời ơi là trời, nghiên cứu chi lạ thế? Câu hỏi thức trong đầu tôi có lẽ vài đêm, bỗng bật dậy, khi bay tới Đài Bắc, và hiện rõ mồn một khi bước ra sảnh sân bay Tân Sơn Nhất trong mừng đón vợ con. Người Việt Nam mình chưa biết cười thật, mông quả là lép thật. Xứ người ta cười thấy hoan lạc, nhìn thấy rạng rỡ mặt mày, không gian như có hương hoa. Còn cười xứ ta tắt rất nhanh và sau cười là ưu tư lo lắng, là thấy chuyện phải làm, là thấy lam lũ cần lao trên từng thớ mặt. Còn chuyện mông (hay hông cũng vậy) lép, có phải vì bà ta, mẹ ta, vợ ta, con gái ta, nhiều đời nhỉ, ngủ trên giường cứng và ngồi trên ghế cứng? Hông thuộc phú quí, bảo rằng hông lép mà nghèo.


Nhớ lần bay về từ phương Bắc, cậu phiên dịch cứ ngao ngao thuyết trình về sức mạnh kỳ diệu của con Kỳ Hưu, linh vật mới của người Trung Hoa. Nào là Kỳ Hưu xuất hiện từ những năm 300 trước công nguyên trên đồng cỏ Nội Mông. Nào là Kỳ Hưu là con thứ 6 hay 7 gì đó của Long Vương. Nào là Kỳ Hưu giải được họa, giáng được phúc, cầu được quan, được lộc. Nín. Định quát cậu phiên dịch như thế, nhưng không biết chữ nín tiếng Hoa, đành cười mà khâm phục người Trung Hoa, đã thật tài tình tạo ra linh vật Kỳ Hưu, thổi vào nó một huyền thoại và quảng bá huyền thoại ấy như là chuyện thật. Mọi chốn, mọi nơi, khắp nước Trung Hoa, Kỳ Hưu khắc đá, chạm đồng, nạm vàng, chuốt ngọc bán như bánh bao, người người mua về không để ăn mà để cầu xin tốt đẹp. Tôi cũng thỉnh về một cặp Kỳ Hưu, người bán bảo là ngọc, ở Đại Tiền Môn. Nhớ lại chuyện này làm gì nhỉ? Hình như trong thổn thức tôi tiếng ru thoi Vạn Phúc, tiếng lửa gốm Bát Tràng. Hình ảnh sau cuối tôi lang thang nhìn là cây cầu Long Biên. /Sông Hồng thướt tha như tóc người con gái/ Cầu Long Biên đẹp tựa chiếc nơ cài.


Viết là viết vậy,nhưng trong Kinh Thành Cổ tích, cầu là Cầu Gió đấy.
Gió vẫn gió nhưng gió ngày đó/ Hình như giữa Hạ/ Sợ mồ hôi mặn cỏ/ Gió đứng một chân
Gió vẽ/ Khúc sông xưa gió vẽ cây cầu.
 


Cây cầu ấy hình như bây giờ đang trôi vào quá khứ, trôi vào kỷ niệm, bởi đã có cầu Thăng Long, Chương Dương làm thay công việc của cầu Long Biên. Và sớm thôi, nhiều cây cầu khác sắp vắt qua sông Hồng…


Tôi muốn mời cô gái phục vụ cà phê quán vỉa hè đường Trần Huy Liệu lại ngồi trò truyện. Nhưng thấy mắt cô nhìn lạ lẫm, lại thôi. Rét Bân ơi, bây giờ thì tôi đã hiểu, các thi nhân không phải không ngợi ca, mà ngợi ca bằng cách thương cảm, không buông lời phê phán. Sao vậy? Nàng xin Trời ban rét tháng Ba cho chồng mặc áo nàng đan, nhưng còn biết bao người chết rét vì không có áo. Rét Tháng Ba Bà Già Chết Cóng. Ai bảo rét Tháng Ba quay lại nàng Bân không có lỗi? Rét Bân hình như giận giữ, lùa gió lạnh đắng ngực tôi và buông lời: Vớ vẩn…


Quá khứ là quá khứ, có đẹp, có xấu, có lành, có dữ, có Tấm, có Cám, có Lý Thông, Thạch Sanh. Quá khứ là kỷ niệm, là nỗi nhớ, không chữa được, không thay được và tất nhiên không thể sống mãi cùng quá khứ. Hiện tại, đó là điều quan trọng nhất. Hiện tại hôm nay sẽ là quá khứ ngày mai. Cô gái mốt hôm nay, kinh thành mở rộng hôm nay sẽ là tiên nữ trong kinh thành cổ tích ngày mai. Giật mình. Tôi đang chép vội cổ tích chạy đua với thời gian…  


2. Thời Cổ Tích


Cầu cho mọi người ly hương ai cũng được như tôi, khi chân mang hồn bước về quê mình là cổ tích ào ào thức dậy. Nào có khác múi giờ, nào có khác chi mưa ngày gió đêm, nào có hao gầy chi sông đầy, trăng cạn, vậy mà, tôi như kẻ mộng du, đêm ngày trắng toát, không thể ngủ, không thể tĩnh, mà thức cồn cào, mà động nôn nao, mà thăng hoa hưng phấn toàn những cổ tích là cổ tích, xanh xanh đỏ đỏ muôn sắc ngàn mầu. Vợ cấu vào da thịt hỏi: “Anh vẫn là anh đấy chứ? Về lại là mình đi anh, quê mình đây mà, Hà Nội”.


Tôi bắt xe ôm, bao nguyên ba ngày kể cả ăn uống, hình bóng cùng tôi, chở hồn tôi đi tung tăng Kinh Thành Cổ Tích. Chữ Kinh Thành Cổ Tích này tôi đã đăng ký tập thơ dự thi Hội Văn Nghệ Hà Nội từ năm 1971, thời ấy người nhận tác phẩm dự thi là anh trai Trần Quốc Hải (đang nổi tiếng) và anh trai Hoài Anh (vừa về mây trắng làm thơ), dài suốt mấy chục năm không thấy ai tranh cãi bản quyền, năm rồi 2010, Kinh Thành Cổ Tích đã in thành sách, thế là cái tên yêu ấy đã in dấu ấn riêng tôi, như bông hoa nhỏ dâng tặng quê mình Hà Nội.


“Dốc Thọ Lão”. Tôi nói với bác tài ôm. Rồi vui chuyện. Đấy là con dốc tôi đã sinh ra và lớn lên ở đấy suốt 30 năm. Nhà tôi số 16. Ba gian nhà ngói nhỏ xinh. Cha tôi trồng trước nhà hai cây dừa Sấu Giá quả sai mọng ngực. Tam đại đồng đường chúng tôi đã ở đấy, nhưng giờ tứ tán cả rồi. Chỉ còn những người bạn thuở ấy. Cái thuở chiều chiều quần cụt, ngực trần nan quạt, rủ nhau chạy ào sang nhà 18, nơi người ta đun sắt gang phế thải, tìm bới trong bụi mù than xỉ những giọt chì nóng chảy, vừa khô xoắn, đem bán cho bà đồng nát kiếm vài xu hay hào gì đó, đổi lấy vài ba cái kẹo bột kẹo vừng ăn sướng. Bây giờ bạt ngàn thứ loại kẹo, nhưng chẳng có thứ kẹo nào ngon bằng bột vừng thuở ấy, ngon tê đầu lưỡi đến tận lúc này, hỏi vì sao ngon thế? Đáp, đó là những viên kẹo cổ tích thời tôi.


“Ra đê”. Bác tài thoáng thở dài: “Muốn thấy sông thì phải xuống bãi, bây giờ nhà hai bên đê đã thành phố thị”. Tôi hỏi: “Đứng trên đê có nhìn thấy sông?”. “Thấy, nhưng xa lắm, sông giờ không như hồi trước, hình như mỗi năm mỗi gầy”. Tôi đứng thững trên đê, tuổi thơ của tôi là mặt đê này, nước sông ngay dưới chân thoai thoai gần lắm, gần như thể mở tay ra là nắm được tay sông, vớt những cây cành củi rều bám đầy bọt đỏ, xếp thành từng bó nhỏ trên mặt đê, rồi lõng thõng đùa vui cùng nhau cõng củi về nhà, phơi khô đôi ba nắng, rồi đun khói cho cơm gạo hẩm thêm mùi rều thơm, canh rau bờ rào thêm hương cá sông thỏ núi.


“Chờ nhé”. Tôi nói với bác tài rồi một mình đi ào xuống bãi, ra sông. Bảo rằng, mỗi tuổi thơ đều có hình bóng một dòng sông, tuổi thơ tôi có bóng hình sông Cái, dòng sông Mẹ, lớn đẹp nhất nước Nam. Chưa dám bảo là chân đã dẫm lên nhiều bờ bãi những dòng sông trên quả cam trái đất, nhưng kể cũng đã là nhiều, nhiều chục dòng sông chân đã men theo bờ nước mà lan man. Đã đứng trước nhiều dòng sông hùng vĩ, quả là có thấy sóng trào lên mà thành dương một vệt liền không đứt và sóng đổ xuống gãy từng đoạn đứt khúc thành âm. Đã đứng trước những dòng sông êm mềm như lưng cô gái, mà lòng chỉ muốn vuốt ve trong lặng ngắm thanh bình. Nhưng chưa một dòng sông nào chỉ cần nhắc đến tên, chỉ cần nhìn ngắm thấy, và nếu được vục tay ôm nước, tức thì ùa dậy khắp xác hồn tôi những thanh âm sắc mầu của xứ xở thần tiên tuổi thơ tôi như lúc này đây, tay tôi đang vục nước sông Hồng phủ lên chan hòa mặt trong rét đầu xuân. Mút mắt dọc bờ sông san sát từng đàn cỏ mật. Mỗi lá cỏ mật ấy là một con thuyền, nhiều lắm lắm. Và trên mỗi lá thuyền đều có bóng một người đàn ông đang đứng dựng mái chèo. Và tôi lại gặp cha tôi. Âm dương gần nhau gang tấc mà xa ngàn trùng. Hai thế giới hai ngôn ngữ khác nhau. Cha tôi chừng như đang vội lắm, thuyền của người đã chất nặng phù sa và đang cùng đoàn thuyền cỏ tách bến. Tôi thấy thế vì trước khi rời dương gian cha tôi bảo thế: “Hồn cha nhập vào dòng sông Cái, sẽ hiện hình trong phiến thuyền cỏ mật để sống muôn đời với bến sông quê”. Lúc ấy tôi đã ngây thơ kinh cầu cho cha được về Tây Phương Cực Lạc. Cha nhím cười và nói với tôi lời mà tôi ngẫm mãi suốt đời cho đến tận bây giờ mới hiểu. “Cha không về Tây Phương Cực Lạc, dù miền đó có Phật, bởiPhật dạy người phàm chúng ta thường hay chấp là chúng ta có gia đình, nhà cửa, con cái, tài sản v v…. nhưng nếu chúng ta tự quán xét kỹ mình là ai? thì sẽ thấy không có cái gì là ngã (bản ngã) cả – và nếu không kiếm được cái gì là mình – thì ai là người có cái tài sản, vợ con, gia đình, và ngay có tài sản gia đình con cái, cuộc sống cũng vẫn vô thường, một lúc nào đó ngay thân mạng cũng mất, tất cả thứ khác cũng mất đi. Nếu ai tuyên bố là tôi có gia đình, có con cái, có kẻ thù v v… thì người đó sẽ không bao giờ được an lạc trong luân hồi. Nếu như mình cứ giữ mãi thù hận trong lòng, cứ thù dai thì tâm mình sẽ sân hận và mình sẽ không an lạc được. Còn nếu tâm mình xả bỏ nhẹ nhàng không sân hận, không giữ ở trong lòng, thì ai là kẻ thù của mình – như vậy tâm chúng ta sẽ an lạc(*). Cha không ham muốn miền Tây Phương Cực Lạc ấy, cha chỉ thèm được sống mãi trong cõi cực lạc làm người, với cha, không cực lạc nào cực lạc hơn miền cực lạc làm người, con cháu của cha, hãy ghi nhớ điều đó mà yêu quí từng phút giây cuộc sống hôm nay”. Tôi nhìn tiễn theo đoàn thuyền cỏ mật của cha, thuyền trôi từ từ qua cầu Gió, qua sân Mây, qua hoa Nắng về bể Trời…


“Lên Nùng”. Bác tài nổ máy, không nói một lời, vì hình như gương mặt tôi đang nhễ mưa phùn. Tôi tự thấy mình không nên như thế. Tôi mở vòng tay ôm lưng bác tài, nói giọng cố vui. “Tôi vừa gặp lại cha tôi. Cha tôi đang theo đoàn thuyền xuôi về biển”. “Thật sao?”. Tôi không đáp mà vẫn lan man theo suy tưởng của mình.“Bác có biết vì sao nước sông ngọt, nước biển mặn? Cha mẹ chúng ta để lại tất cả những gì ngọt ngào cuộc sống cho chúng ta uống hưởng, còn tất cả những gì cay đắng mặn chát thì trôi vào biển, biển đón nhận tất cả mặn chát rác rến, rồi lắng đục trong, rồi bay về trời rồi thành mưa ngọt, để lại tuần hoàn nhuần tưới đời ta”. Tôi đột ngột khựng lại mơ mộng, ôm cứng bác tài ôm và hỏi: “Bác chạy xe thế này đủ sống”. ”Dạ, nhờ trời cũng nuôi được vợ con, thực lòng, còn tươm hơn khối người bác ạ”.


Tôi tản bộ lên núi Nùng. Cũng chẳng biết vì sao thấp tè hơn đồi mà Nùng từ nhiều đời nay vẫn được gọi là núi. Tôi ngả mình nằm trên cỏ, trăng xanh trong veo, tôi nhắm nghiền mắt, cố thức hết trí tưởng dịch biến trăng xanh thành mây trắng, nắng vàng để tìm hình bóng mẹ tôi hôm nay có bán hoa chợ trời phiên vãn. Bỗng tâm tưởng nghe một tiếng thầm thì. “Hôm nay mẹ không ra chợ, có lẽ gió đông về mẹ lạnh nghỉ một phiên”. Thầm Thì nằm xuống bên tôi, mỏng dài một lát trăng. Tôi bật dậy, nhìn Thầm Thì từ gót son lên tóc. “Em!”. Tôi mím chặt môi không để tim bật tiếng. Năm ấy, tôi mới 15 tuổi, chạng vạng một chiều thu, tôi ra đê sông Hồng xem nước lên. Nước năm ấy to quá, ngập mép mặt đê, đưa tay là đùa được nước. Tôi đang đùa với nước, bỗng như thấy từ dưới sông, rẽ nước đi lên một làn sóng trắng. Đang bàng hoàng, đã thấy đứng bên một cô gái tuổi trăng non. “Nước to thế này mà anh không lo sao? Em thì lo lắm”. Đáp: “Lo cũng chẳng ích gì, Thủy Tinh chẳng bao giờ thắng được Sơn Tinh”. “Em biết, nhưng trước thắng có thua thì sao? Khúc thua đó rơi vào phận số mình thì cũng kể như mình thua”. “Nhưng kết cục vẫn là chiến thắng”. “Ôi, chàng trai trinh trắng của em. Nào đi cùng em, non Tản xa, núi Nùng gần, ta lên đó nhé”. “Để làm gì?”. “Để yêu nhau, bởi ngộ nhỡ đêm nay đê vỡ, đôi ta sẽ uổng phí một đời”. “Em nói vậy là sao, là sao?”. Chưa hết âm vang hai tiếng là sao, chúng tôi đã bay lên sườn cỏ núi Nùng. Em nằm xuống bên tôi, trắng suốt mầu trăng, còn tôi cứng lạnh như đá núi. ”Nghe đây chàng trai, nếu đêm nay đê vỡ, cả hai chúng ta cùng chết, chết trinh tội lắm sẽ không thể luân hồi thành người, yêu em đi, cả hai chúng ta phải quấn thơm mùi tình ái, chết mới tìm được hương đường mà hoài thai”. Tôi vẫn cứng đơ xác, dù hồn đã ngập tràn run rẩy trong chỉ một tiếng không ẩn tàng sợ hãi. “Ôi tội nghiệp tình yêu đôi ta”. Thầm thì như rót giận dỗi vào tâm khảm tôi, tôi nghe thoang một cái hôn đậu xuống môi, vâng, chỉ một cái hôn thoang, gấp vội, hai mắt tôi nhắm chặt đón hưởng trong ngây ngất, cho đến khi bật thức, đã không thấy Thầm Thì, bốn bề trời đất chỉ còn bát ngát trăng xanh, ran ran tan tan chuỗi cười. Sau cuộc kỳ ngộ lạ lùng ấy, chiều nào, lúc choạng vạng tối, tôi cũng ra đê sông Cái xem nước lên, cố ý tìm gặp Thầm Thì. Nhưng nước lên rồi rút, năm sau nước lại lên, rồi lại rút, năm sau nữa nước cũng lên rồi rút… cố tìm của tôi cũng rút chìm vào vô vọng. Tôi chỉ còn biết an ủi mình, Thầm Thì là con vua Thủy tề, em đã trở lại với vương quốc nước của em, không thèm dù chỉ một lần nhắc nhớ đến kẻ bạc tình tôi. Vậy mà, giờ đây, lúc này, sau hơn năm chục năm, em lại hiện về nằm sóng sánh bên tôi.


“Khuya rôi bác tài ơi, về đi, tôi muốn ngồi một mình dưới gốc liễu này. Sớm mai, đến Hòe Nhai đưa tôi về Sấu Giá”. Khi chỉ còn một mình, trên đầu là trăng, trước mặt là hồ Tây mênh mông trong đêm không nhìn thấy bờ, cây liễu năm xưa xõa hết tóc như ngàn muôn tay ôm quấn lấy tôi. Đại hợp xướng vũ trụ u âm vang lên câu chuyện cổ tích tôi viết cách nay đã ngoài bốn chục năm: 


Em đứng bên hồ/ Phong phanh liễu/ Mưa phùn chuốt liễu mưa xanh/ Từng nhành tóc xõa 


Mẹ giắt em đi chôn cha/ Liễu bồng em đi chôn mẹ/ Bơ vơ em muốn quên mình


 Liễu gọi tên em/ Tóc quấn tay em/ Tây Hồ nhiều gió thế/ Tây Hồ nhiếu sóng thế/ Mảnh mai ôm tình liễu khóc


 Buông khóc liễu dục chân em/ Nhanh nhanh về sống làm người/ Buồn thương không là cớ chết/ Khổ đau không là cớ chết/ Biết chăng/ Xưa liễu là người/ Giận tình trẫm mình thành liễu/ Mưa phùn gió bấc căm căm/ Kiếp nao được lại thành người
Em cúi đầu tạ liễu/ Thân côi hồi sinh làm Tấm/ Phúc đời gặp vận thăng hoa/ Thăng hoa Tấm kề vai liễu/ Hài Bụt hẹn hò tình/ Đẹp buồn riêng liễu/ Tây Hồ trăng nghiêng 


Tôi về tới Hòe Nhai, nhà người em gái, hình như đã khuya lắm. Vợ tôi vẫn thức đợi với câu hỏi thấu lòng “Anh vừa gặp Liễu?”. Tôi gật cười. Vợ choàng tay ôm chồng, chặt hơn môi Thầm Thì và còn chặt hơn cả ngàn tay Liễu mộng. Em là người con gái tôi đã bế từ gốc liễu đầu đường Cổ Ngư về nhà và sống đời chồng vợ tính đến nay con trai lớn đã ngoài bốn chục và cháu đích tôn cũng sắp mười lăm. Sống ngoài bốn chục năm vợ chồng, thời tôi, kể cũng là một cổ tích gia đình.
Tôi ngồi trong tối, ban công Hòe Nhai, tung tăng hồn vườn hoa Hàng Đậu, trò truyện với anh bạn Tượng, một tay cầm súng trường, một tay trái lựu đạn mở kíp, dáng tạc thân lao về phía quân thù. “Chào anh Vệ Quốc Đoàn”. “Chào cụ”. “Đã bảo đừng xưng hô với tôi như thế. Anh là đồng chí của cha tôi”. “Tôi là bạn của cha cụ, nhưng tôi đã sang thế giới khác lúc đôi mươi, và sẽ mãi mãi hai mươi, cụ đã từng là con cháu tôi, rồi là đồng chí của tôi, rồi là anh tôi, rồi là cha tôi và bây giờ cụ đã là ông tôi. Theo lẽ luân hồi, xưng hô vậy không phạm vào giới luật”. “Nhưng các anh là những người bất tử”. “Không, chúng tôi đã chết và chúng tôi hằng mong được luân hồi trở lại làm người, chúng tôi không muốn bất tử, bất tử tức là chết mãi mãi”. “Nhưng chúng tôi muốn tôn vinh, muốn tri ân”. “Đó là việc của người sống, người chết rồi đâu biết gì là vinh, đâu biết gì là ân, người chết chỉ khao khát được sống lại làm người, và dù chưa được luân hồi thành người, người chết cũng chỉ cầu mong những luân hồi con cháu không phải cầm súng, không phải ôm bom lao vào bất tử mà không được làm người”. Giọng Anh Vệ Quốc Đoàn bỗng nhiên gay gắt, nóng giận vốn xưa nay chưa thế. Tôi hiểu là mình chẳng nên tranh cãi gì thêm. Anh Vệ Quốc Đoàn hơi nguôi mắt lửa nhìn tôi đượm cảm tình, nhưng miệng anh vẫn ào ra lời thơ tôi viết như một nhắc nhở, một trách hờn:
 
Xin người sống nhớ cho/ Chết là điều duy nhất tiếc/ Đừng để chúng tôi tiếc mình chết phí/ Máu nhuộm cờ phải mãi thiêng liêng
 


Tôi ngồi thừ lúc lâu trên ban công. Vào phòng. Muốn đánh thức vợ dậy. Hình như đã xuất hiện bất đồng quan điểm gì đó giữa người sống và người chết. Và tôi muốn trao đổi những bất đồng ấy với vợ. Nhưng nhìn vợ ngủ ngon quá, đẹp quá, đành thôi. Tôi lén nhẹ nằm xuống, choàng mềm bàn tay lên vai vợ và cố ru vỗ giấc ngủ mình, nhưng không thể, trong tâm tưởng tôi vẫn tròn vành rõ chữ tiếng đọc thơ của đồng chí Tượng uyềnh oàng dưới vườn đêm: 
… Em bước ra từ tranh tố nữ Làng Hồ/ Tôi hân hoan đón kỳ ngộ bây giờ/ Nhật Nguyệt yêu mưa phùn gió bấc/ Áo tình một chiếc phong phanh/ Trao nhau tấm chân thành/ Nụ hôn người Hà Nội/ Nụ hôn tự biết thăng hoa…
 


Nắng mới lên non mỏng như thế chỉ cần đụng tay vào là tan ra ánh sáng, ông bạn xe ôm đã gọi chờ. Chúng tôi phi thằng về Sấu Giá. Chính xác là làng Sấu Giá, trước thuộc tỉnh Hà Đông, bây giờ đã thuộc về Hà Nội. Đấy là quê mẹ tôi, cũng là nơi tôi sinh ra và khôn lớn tuổi thơ. Làng quê tôi là làng nghề nuôi tằm dệt cửi. Khắp làng rộn ràng một thanh âm cung bực đều đều của nhịp dệt, thoi đưa trong êm ả thanh bình như câu lục buông nâng câu bát chuốt của thi ca quê mùa. Trong không gian yên lành ấy, cổ tích nở như tằm ăn dâu các mẹ các chị kể cho nhau nghe ngày nối qua đêm cổ tích vẫn đầy như giếng nước, ao làng. Nhưng tiếc thay, gió chiến tranh đã thổi qua làng tôi và cuốn đi tất cả. Sấu Giá đã thành làng kháng chiến, trai làng ra trận, làng bỏ trồng dâu nuôi tằm, khung cửi gác lên nóc bếp, ông già, bà cả, gái xuân đổ cả ra đồng trồng lúa trồng ngô, trước là ăn buộc bụng, sau là chi viện lương thực cho chiến trường. Rồi chiến thắng. Rồi hòa bình. Rồi sống. Chỉ vài chục năm chiến tranh mà người Sấu Giá đã như quên hẳn nghề trồng dâu nuôi tằm canh cửi. Tơ lụa của Sấu Giá quê tôi lặng lẽ bước vào cổ tích…


Tôi đi ngẩn ngơ theo những nhánh đường làng đã bê tông hóa, nhà bát úp đôi bên đường, không thấy mái gianh chỉ toàn mầu ngói đỏ, tường vôi vàng thổ mầu quê. Rừng dừa Sấu Giá gần như đã chặt hết để san sát thêm nhà, để nhô cao vài đôi ba nhà tầng cửa son ô kính. Tôi đã không tìm thấy gì của Sấu Giá thời tôi. Sấu Giá bây giờ đã là một Sấu Giá khác, của thời khác. Lòng tôi lóe lên ngọn lửa tiếc, nhưng bị thổi tắt ngay, bởi những câu chào ríu rít của đám trẻ lên ba, lên năm, như tuổi tôi thời ấy, Chúng cháu chào ông, chào ông, chào ông… Tôi bồng tuổi thơ tôi lên tay và theo đoàn cháu con rồng rắn vào nhà Bà ngoại, bây giờ đã thành nhà thờ tổ của họ tộc tôi.
Thực lòng trong lúc tâm trạng ngổn ngang âm dương hư không thế này, tôi chỉ muốn thắp nén nhang trên bàn thờ như một phép tắc lễ nghi, chứ thực không dám mời gia tiên từ cõi Phúc hiện về. Nhưng ba nén nhang tôi cắm xuống, vừa nhòa khói, đã thấy hiện lên những bóng hình ruột thịt tôi,
hầu như không gương mặt nào hiện rõ, chỉ ảo mờ mỏng mảnh như khói thơm. Tôi cố tìm hình bóng Bà tôi, chỉ thấy Bà bỏm bẻm nhai trầu cười, nhưng gương cười ấy cũng mơ hồ lắm, tôi tìm hình bóng Mẹ, không thấy, lại hiện ra hình bóng Dì tôi, rõ hơn Bà tôi, đôi môi mấp máy, định nói gì đó nhưng không bật được ra thanh, thế rồi Dì òa khóc, tôi lặng người muốn được khóc với Dì, nhưng cố cắn môi nuốt khóc. Chợt tôi thấy làn khói Âm nhân rẽ mở một con đường, và Mẹ tôi chầm chậm bước vào trên vai nặng một gánh hoa. Mẹ đặt gánh hoa trước bàn thờ Tổ, Mẹ cẩn thận lấy từ rổ hoa một chục Huệ Âm cắm vào chiếc lọ sành trên bàn thờ, Mẹ cúi đầu chắp tay ba lạy. Rồi Mẹ ngẩng đầu, chỉ thoáng nhìn tôi, tôi đang chờ nghe lời Mẹ nói, nhưng Mẹ chẳng nói gi, Mẹ xốc gánh hoa lên vai và bước đi rất nhanh. Tôi quýnh quáng thả hồn đuổi theo thất thanh gọi Mẹ. Mẹ vẫn đi nhanh, không ngoái lại, tôi chỉ nghe trong gió thoang thoang tiếng Mẹ, câu được câu mất. “Thời của Mẹ xong rồi, con còn nghĩ nhớ về Mẹ như thế là đủ. Thời của con cũng sắp xong rồi. Còn việc gì chưa làm xong thì cố mà làm cho xong. Đừng bỏ dở, sau này hối hận chẳng ích gì. Thời của các con con cũng đã nửa đời người. Chúng phải tự cố lên thôi. Thời của các cháu con cũng đã bắt đầu rồi đấy. Mẹ không thể làm thay thời con. Con cũng không thể làm thay thời con cháu con. Thời nào có cổ tích của thời ấy. Thôi, đừng đi theo Mẹ nữa. Công việc bán hoa trên trời của mẹ không dễ dàng, sung sướng gì đâu, nhưng đó là hạnh phúc của Mẹ, Mẹ không muốn lụy tình riêng mà bỏ buổi chợ sáng nay…”.  Mẹ tôi đã thăng rất nhanh, hồn tôi cố đuổi theo cũng chỉ thấy bóng Mẹ đã hòa vào mây trắng, nơi Mẹ bảo là chợ, mẹ nhận lãnh công việc bán hoa nắng, hoa mưa.
Tôi bừng tỉnh, và tỉnh hẳn, khi ôm trong lòng một đứa cháu gái luôn xoắn xuýt gọi ông, mà tôi chưa kịp biết là con của người cháu họ nào của tôi. Tôi bồng cháu lên tay, ngồi giữa con cháu chật một nhà, tôi cười ướt mắt khi nghe cháu lên ba kể cổ tích cháu lên ba cháu đi mẫu giáo/ cô thương cháu vì cháu không khóc nhè, rồi cổ tích thả diều của đứa cháu lên tám, rồi cổ tích của người cháu đang là thầy giáo làng, đến cổ tích của cô cháu gái sắp lấy chồng, hầu như không có cổ tích nào giống cổ tích thời tôi…Cảm ơn Mẹ, dù đã về trời, Mẹ vẫn hiện linh về dậy con thấu hiểu ba chữ Thời Cổ Tích, con xin vâng theo và chép lại lời Mẹ dậy để con cháu của con suy ngẫm lời Bà. Tôi trôi bồng bềnh với những suy tưởng ấy cùng anh bạn xe ôm xuôi vào Kinh Thành Cổ Tích.
3. Đi Tìm Những Người Chép Cổ Tích, Thời Tôi…


Khu vực bài viết này là thời tôi, cụ thể là thời của cá nhân tôi, người gần như cả đời chỉ hì hụi chép những câu chuyện cổ tích của thời mình. Mục đích? Không biết. Chỉ biết phận số mình là vậy, phải vậy, thì cố sức mà vui cho trọn, cho hết, chẳng dám sân si phàn nàn gì.


Nói phận số e là tiêu cực, nhưng thực là vậy, càn khôn đã giao cho thân bằng quyến thuộc tôi cầm lệnh bài giữ buộc đời tôi trong yêu thích ấy, và dù nhiều lần tôi thức ngộ, thèm cái thích khác, muốn thoát ra cũng không thể. Dần dà tự nguyện chấp nhận, mà thăng hoa vòng trói buộc thành niềm nguyện thích cả đời. Nay nhắc về cổ tích thời tôi, việc đầu tiên là tôi đi tìm những căn nguyên người đưa tôi vào phần số ấy.



Ký ức thời ấu nhi, học trường làng Thanh Nhàn. Cô giáo đầu đời xinh đẹp như tiên nga, nhưng dữ như gà ấp. Bàn tay non măng của tôi hôm nào cũng xưng vù thước kẻ cô phạt tội ngơ ngơ, lúc nào trí tưởng cũng nhìn thấy dòng sông con đò, thấy hoa thấy bướm. Kẻ thước vào tay mãi, chắc cô cũng nản, cô thay hình thức phạt bắt úp mặt vào vách đất trường quê để tôi không thể mơ thấy cào cào châu chấu. Phạt úp mặt vào tường mãi chắc cô cũng chán, cô thay hình thức phạt, sáng nào cô cũng bắt tôi tới sân trường quét lá. Về tích ấy, tôi đã có thơ: “Đêm ngủ gối đầu chữ nghĩa/ Mớ mình thành một xướng ca/ Cô giáo phạt tôi ngơ ngơ/ Sáng sáng tới sân trường quét lá/ Cô ơi tội mẹ em quá/ Giọt khóc lau khô còn ngấn lệ buồn…”


Như đã nói, cô dữ như gà ấp. Cô là người đầu đời phát hiện tôi mắc chứng ngơ ngơ, mà sau này cô định ngữ được đó là bệnh hão huyền, bệnh của kẻ xướng ca, mà cô thực không muốn những học trò của mình lớn lên thành một thứ vô loài theo định kiến thời ấy.


Tôi đi tìm cô vong veo vòng vèo mãi mới gặp được di ảnh cô ngồi trên bàn thờ nhà người con trai trưởng cũng tầm tuổi tôi. Dù cố mấy, tôi với cô cũng không thể trò truyện được với nhau. Tôi đành kể những dòng viết trên cho con trai cô nghe. Con trai cô bảo: “Có nghĩa là anh không sân hận mẹ tôi?”. Tôi cười đáp: ”Cô đã ấp ra tôi làm sao tôi có thể sân hận mẹ mình? Tuy cô chỉ dậy tôi đôi ba năm ấu nhi thời đó, nhưng cô là người Mẹ thứ hai của tôi, bởi cô là người phát hiện ra tôi là kẻ xướng ca sớm nhất, và bằng những hình phạt đầu đời cô đã dạy tôi tu thân sửa mình để không là kẻ xướng ca vô tích sự, mà thành người xướng ca tử tế”. Tôi cho rằng anh con trai của cô chưa hẳn tin điều đó. Không quan trọng. Quan trọng là từ đáy lòng tôi tuôn chảy nguồn ân. 


+
Người thứ hai tôi nhắc lại trong bài viết này là mẹ tôi. Mẹ sinh con đó là ân huệ vĩ đại nhất. Mẹ tôi, ngoài ân công ấy, đã ban tặng cho tôi ba huệ ước làm người và tôi thề sống thủy chung với ba huệ ước ấy.


Tôi được sinh ra với phận số khác thường: “Tôi là đứa trẻ đẻ rơi/ Mẹ trảy hội trên cầu giải yếm…”. Cũng vì cái sự chào đời cắc cớ ấy, nên việc tôi ngơ ngơ mẹ tôi cho là cách thần linh trừng phạt mẹ tội ham vui mà đẻ rơi con. Nhưng khi được cô giáo “mách” về căn bệnh “trọng” của tôi, mẹ hốt hoảng lo buồn, bàn với cha bán khoán tôi cho đền miếu. Tôi đã khóc van lạy mẹ, mẹ bảo, nếu không muốn bị bán khoán thì phải dứt chứng ngơ ngơ. Tôi vì quá sợ hãi, nên mỗi khi mắt mơ hồ nhìn thấy sông, thấy biển, thấy hoa, thấy trăng, tôi lập tức đè những hình bóng ấy vào chữ nghĩa cho đến khi ngơ ngơ tự hết. Mỗi lần vậy mẹ đều bắt tôi nộp cho mẹ những tờ giấy viết nhi nhăng, mẹ đốt đi hay cất ở đâu tôi không biết, chỉ biết sau đó cha mẹ tôi thương tôi một cách đặc biệt, khác hẳn các anh em tôi. Và mẹ đã quyết định không bán khoán tôi cho đền miếu nữa. Tôi được biết điều này khi đứng nấp sau lưng nghe trộm những lời khấn cầu của mẹ trước thần linh. “Mẹ ơi lạy mẹ đừng khóc/ Đừng bán khoán con cho đền miếu làm gì/ Con chỉ là con của mẹ/ Mẹ nhắm mắt mở môi khe khẽ/ Khấn âm âm lời Chinh Phụ lời Kiều…”. Nghĩa là mẹ chấp nhận chứng tật ngơ ngơ của tôi như một phận số cam chịu, chỉ cầu các bậc “ngơ ngơ” tiền bối độ trì cho con mình. Đó là huệ ước đức tin mẹ ban cho tôi. Tôi sẽ là người con thế nào khi phụ bạc đức tin của mẹ?
Huệ ước hai mẹ ban cho tôi, ấy là khi tôi báo tin cho mẹ đã gặp nửa của mình và xin mẹ cho chúng tôi được thành chồng vợ. Mẹ đã lặng người khi nghe tôi kể về người bạn đời tương lai, mẹ đã nắm chặt tay tôi và nói trong nước mắt: “Tội nghiệp đứa con oan nghiệt, cớ chi con lại chọn yêu một cuộc tình kiếp nạn”. Chọn yêu cuộc tình kiếp nạn, sáu chữ ấy là của mẹ tôi, sau này tôi mượn vay của mẹ viết vào thơ. Sau buổi trò truyện mẹ con ấy, mẹ giận tôi suốt tuần không nói một câu. Và trong những ngày giận đó, chiều nào mẹ cũng đi từ chạng vạng tối tới khuya mới về, lúc đầu tôi nghĩ mẹ đi chùa cầu xin hóa giải nạn ách cho tôi, nhưng sau này tôi mới biết, mẹ lặn lội đi “sưu tra” nửa của tôi theo cách riêng của mẹ. “Công sinh thành con chưa báo đáp/ Cớ chi để mẹ lo buồn”. Khuya về mẹ lại tựa vai cha bàn chuyện của tôi, mẹ khóc đến cạn nước mắt. Tôi lạy quì trước cha mẹ van cầu. Cha mẹ đã thẩm vấn tôi những câu hỏi đan xen nhau: “Con có chắc là mình tự nguyện yêu người ta và chung thủy với nhau suốt đời?”. “Con có biết tình vợ chồng là lý tưởng, là lẽ sống làm người?”. “Liệu sau này đói rét, cơ hàn có thay lòng đổi dạ?”. “Mẹ con cũng đã từng bị ông bà ngoại con giận dữ trước cuộc hôn nhân của một lực điền nghèo xác với cô gái xinh đẹp giỏi giang. Nhưng rồi mọi giận dữ của ông bà cũng qua đi trước hạnh phúc mẹ cha xây  đắp”. “Vợ chồng là duyên số, trời đã định vậy, cha mẹ bằng lòng”. Về tích này, tôi có chép lại thành văn vần, mời đọc một đoạn: “Mã quẻ chinh thần thánh không lời/ Linh cảm bể yêu sóng lớn/ Muốn thuyền tình không đắm/ Thuyền tình phải khẳm yêu/ Mẹ lội qua sông/ Mẹ ra tận biển/ Mẹ bóc yếm đào/ Mẹ nhào sữa kiệt/ Chét khe ván mỏng thuyền yêu/ Mẹ đan tay đôi lứa vào nhau/ Lời ngàn cân cầu nguyện/ Thuyền yêu qua bom đạn/ Thuyền yêu qua gió giông/ Thuyền yêu qua trăng hoa/ Ván sữa chung tình/ Thuyền khẳm/ Khẳm một thuyền tình…/”


Và thế, mẹ đã ban cho tôi huệ ước thứ hai, được lấy người mình yêu, tức là mẹ bằng lòng, mẹ chấp nhận lẽ sống (lý tưởng) mà tôi tình nguyện lựa chọn, đón nhận. Cô gái mà mẹ lặn lội “sưu tra” ấy, sau này thành vợ tôi, âm dương cân bằng, nếp tẻ con đủ cả, đích tôn đích tép đủ cả, vui buồn sướng khổ đủ cả, và thủy chung vẫn đũa một đôi…


Trong quá trình gây dựng lẽ sống lý tưởng ấy, tôi đã hơn một lần bị đói rét, cơ hàn, ganh ghét, tỵ hiềm, oán ân quật ngã. Trước mỗi quật ngã ấy, mẹ gánh hết cho tôi trong nước mắt khóc thầm, nhưng tôi đã nhận biết và thật nhanh uống hết nước mắt mẹ vào lòng. Và điều kỳ diệu đã xẩy ra, nước mắt mẹ hiển linh trong xác hồn tôi như cam lồ sữa, giúp tôi phục hồi sinh lực, đứng dạy, tự tin, hiên ngang sống làm người tử tế. Vì vậy, khi “Mẹ trắng vào mây, Mẹ thăng vào gió”, tôi cảm như mình lại trở về bé dại, khát thèm được uống tiếng khóc của mẹ, nhưng khát thèm ấy của tôi chỉ mãi mãi là thèm khát.


Con biết ở cõi trời/ Mẹ muốn khóc cũng không thể khóc/ Vì thế ở cõi người/ Ngày ngày con đem tiếng khóc mẹ ra phơi


Lạy trời đừng phạt mẹ tôi/ Tội đón nước mắt con bay ngược về mắt mẹ/ Để mẹ lại được khóc/ Âm dương cũng đạo làm người 


Cổ tích của thời mẹ tôi đã là thế, không thể khác và càng không thể chữa chỉnh lại theo cái lẽ của thời mình, nên tôi luôn mở lòng đón cổ tích thời mẹ về, để yêu, để nhớ, để ngẫm nghĩ mà chép viết cổ tích của thời tôi. Đó chính là huệ thứ ba, huệ ân, mẹ ban cho tôi.


+
Và bây giờ là bầy đàn thời tôi. Xin bắt đầu từ cô bạn gái đã khước từ tình tôi, và khước từ ấy như giọt nước tràn ly, dịch biến cuộc đời ngơ ngơ mơ hồ tôi thành “con thuyền Trương Chi”. Kể từ ngày tôi rời trường trung học cho tới hôm nay gặp lại, chớp mắt đã ngoài 50 năm. Gặp nhau. Cuộc trò truyện của hai mái đầu bạc là cuộc gặp của nói và nhớ lại. Nói thật ít mà nhớ lại thật nhiều. Nhưng nhớ ở trong lòng khó viết thành văn. Nói thì chép được. Ngắt quãng, ngập ngừng, vu vơ. “Đằng ấy vẫn là Trương Chi?”. “Chung thủy mà”. “Hát được nhiều không”. “Nhiều. Còn đằng ấy?”. “Cô lái đò”. “Chở được nhiều khách?”. “Nhiều”. “Bây giờ nghỉ chưa?”. “Rồi, nhưng vẫn thỉnh giảng”. “Phu quân?”. “Một người lính”. “Hậu duệ?”. “Đã lên chức bà. Tốt đẹp cả”. “Cuộc đời chỉ mong được thế”. “Mừng là Trương Chi cũng vậy”. Hai mái đầu bạc hỏi han nhau tức cười, rồi nắm tay nhau (sao hồi ấy không cho nắm tay?) chạy ào vào Lớp Chúng Mình, cả hai cùng mặt đỏ tía tai, trước lũ bạn “nhất quỷ nhì ma” đang reo hò Trương Chi, Mỵ Nương. “Lớp Chúng Mình” đó là Hội bạn học cùng lớp cùng trường thời cắp sách, cách nay đã ngoài 55 năm, cái thời xanh đỏ tím vàng mày tao chi tớ. “Trương Chi đâu rồi, nhìn tận mặt cái coi!”. Câu nói của ai đó, nửa Nam nửa Bắc, đế rộ theo nhiều tràng cười. Tôi bị vỗ vai, béo tai, nhí mũi, hệt như thời ấu nhi. Tôi chào cười các bạn phô hết răng hô. Răng đây rồi. Vì bộ hô này mà “chết” danh Trương Chi xấu đau xấu đớn. Chàng “lớp trưởng trọn đời” nạt một câu gì to lắm, chỉ nghe thấy phần đuôi: “Không đùa nó nữa, lại Trương Chi bây giờ, mất vui”. Tôi nhăn nhở: “Trương Chi bây giờ bảnh rồi!”. Tất cả cùng cười, lớp trưởng mở nhạc Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng… Chúng tôi cùng hát theo bài ca Lên Đàng quen thuộc năm xưa và lục tục ngồi xuống ghế. Các bạn nhường tôi ghế danh dự, đầu dãy bàn dài, tầng một Nhà hàng bánh tôm, trước mặt là hồ Tây, sau lưng là hồ Trúc Bạch, qua ô cửa kính thấy mặt hồ đang run rẩy lạnh, vỗ sóng xuýt xoa.
 


Lớp trưởng: “Hôm nay không phải ngày hội lớp, mà hội bất thường theo nguyện vọng của Trương Chi vừa từ Sài Gòn ra. Hội lớp Chúng Mình đã sinh hoạt cùng nhau vài chục năm rồi, nhưng hôm nay Trương Chi lần đầu tiên có mặt. Vì thế, xin các bạn cho lớp trưởng tóm tắt tổng kết của lớp chúng ta từ những năm trước đây, để Trương Chi biết mà không phạm luật. Thời của chúng ta được tạm tính từ năm 1960, thời đứa trước, đứa sau, lục tục tiến lên đoàn viên, đến năm 2000 nghỉ hưu theo luật nước, tổng cộng là 40 năm. Nhấn mạnh: Bốn mươi năm ấy là thời của chúng ta! 5 năm đầu, tính đến 1975, các bạn Lớp Chúng Mình đã dốc lòng góp sức cùng nhân dân viết thiên cổ tích hào hùng chấm dứt chiến tranh, đất nước thanh bình, non sông thống nhất. Từ sau 1975 đến 2000 là 25 năm, thêm 10 năm nữa vì lớp chúng ta đang tới ngưỡng 2010, gộp là 35 năm. Ba mươi lăm năm ấy, vượt qua nhiều hệ lụy chiến tranh, các bạn Lớp chúng mình vẫn tiếp tục dốc sức, góp lòng cùng nhân dân viết cổ tích tuổi sống làm người”. Thấy mọi người nhìn nhau ngơ ngác chưa hiểu lớp trưởng đang lộng ngôn điều gì, thì lớp trưởng đã vỗ tay tự tán thưởng mình. “Điều tôi sắp nói với các bạn sau đây, tôi vừa nghĩ ra mấy hôm nay, xin mạnh dạn đề xuất để các bạn coi xem sự kiện này có là cổ tích. Đó là Cổ tích thọ. Vì năm 1960, năm khởi đầu của thời chúng ta, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 43, cho đến ngưỡng hôm nay, 2010, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là con số 73. Nửa thế kỷ thời gian, tuổi thọ kéo dài thêm 30 năm, như vậy có đáng là cổ tích không, thưa các bạn?” Nhiều tiếng vỗ tay reo hò, đế nhiều tiếng khen giỏi, giỏi! Lớp trưởng thoáng đỏ mặt vì sướng. Tôi thầm nghĩ: Cũng là một đề xuất hay, vì tàng ẩn trong tuổi thọ là chất lượng đời sống. Lớp trưởng nói tiếp: “40 năm tham gia viết hai cổ tích kỳ diệu ấy, Lớp Chúng Mình, tôi nhắc lại, tất cả lớp chúng mình, ai cũng đều đã hạ cánh an toàn. Dù đại tá hay hạ sĩ, dù thầy thuốc hay thợ rèn, dù giáo sư hay xướng ca như Trương Chi, tất cả đều ngẩng cao đầu mà không hổ thẹn. Nên với quá khứ, dù danh vọng tự hào, hay bất mãn sân hận, quá khứ không thể làm lại, vì vậy, lớp chúng mình đồng lòng hỉ xả tất cả. Bạn Trương Chi cần biết điều này để không phạm luật. Thời chúng ta kể như đã xong. Bây giờ là thời của con cháu ta, chúng phải tự viết lấy cổ tích của thời chúng. Chúng ta chỉ là nguồn khích lệ động viên chúng viết cổ tích thời chúng sao cho hay, để chúng ta hát cho nhau nghe mà sướng. Vì thế, chủ đề chính của hội Lớp Chúng Mình là chia sẻ vui buồn khoe con cháu. Và bây giờ mời các bạn nâng bia trước khi nghe Trương Chi hát…”. 
Tôi đã hát cổ tích Lớp Chúng Mình từ hồ Tây về đường Quán Sứ, nhà 58, Đài TNVN, cao lạ ngỡ ngàng ký ức tôi về ngôi nhà Đài hơn 30 năm trước. Tôi nhắc đến địa chỉ này, vì đây là nơi tôi bắt đầu kiếm sống với duy nhất một nghề suốt cuộc đời công chức, đó là nghề viết báo nói, sau vào Sài Gòn vẫn tiếp tục, dù là viết báo nói có hình, cho tới khi nghỉ hưu. Tôi yêu cầu taxi dừng lại ngã tư Hai Bà Trưng – Quán Sứ, vợ và con gái thoáng ngỡ nghĩ sao không cho taxi dừng ngay trước cổng Đài, nhưng những thân yêu của tôi đã kịp hiểu và vui vẻ cùng tôi xuống xe. Con gái nắm tay cha, như thể sợ chân cha bỗng quỵ. Đài TNVN nơi đã chém vào thân thể tôi hơn một nhát dao. Nhiều vết dao quá sâu, khiến mỗi khi nhớ lại tôi đều hốt hoảng lo sợ. Tôi thực muốn kể về những nhát dao ấy, nhưng bên tai cứ nghe rền vang lời lớp trưởng: “Quá khứ, dù danh vọng tự hào, hay bất mãn sân hận, quá khứ không thể làm lại, vì vậy hỉ xả tất cả”. Ba chúng tôi chỉ vừa bước tới cổng Đài, đã thấy đám người đang đứng túm tụm trước mặt, chỉ trỏ nhìn chúng tôi, rồi rảo chân bước lại, rồi reo mừng và ôm nhau. Tôi chưa kịp nhận ra ai và ai, vì hai mắt tôi không sao rẽ nước mà mở ra được.


Tôi chỉ nghe âm thanh cười nói mà nhận ra: Mai Thúc Long, Trần Nhật Lam, Nguyễn Kim Trạch, Trúc Thông, Trần Nguyên Vấn, Hồ Quang Minh, Nguyễn Quí Châu…và còn nhiều nữa, không thể kể hết, toàn những tên tuổi lừng lẫy báo đàn, văn đàn thời tôi.


Chúng tôi như thể bay lên theo thang máy, trong sung sướng, rồi đậu xuống lầu 12, tòa cao ốc Đài. Tôi là ai mà được đón về trong đông vui nồng ấm anh em bằng hữu thế này? Anh Mai Thúc Long, U90, cao tuổi hơn tất cả, đứng lên giảng dậy chứ không phải trả lời câu hỏi của tôi, những lời giảng dạy này tôi nghe đã quen thuộc trong mỗi giao ban sáng của hơn ba mươi năm trước, nay nghe lại, vẫn thích: “Anh và nhiều anh em khác đến đây mừng em trở về Đài, vì cuối năm rồi, từ Sài Gòn phóng tin ra sau khi đại phẫu nan y, em mất, và anh, chính anh đã thắp nén nhang vọng nhớ em. Hôm nay, nghe tin em ra, nhiều người bán tin bán nghi, nên kéo đến, hóa ra em vẫn còn là em bằng xương bằng thịt. Trời chưa gọi em, vì trời công bằng, em chưa về lại Đài này mà giải oan hư tính thì đi làm sao được. Hôm nay, anh và mọi người ở đây cho em vài phút giải oan trước khi chúng ta nâng ly mừng nhau đi chung đường lý tưởng đã cập bờ hạnh phúc”.


Tôi đáp: “Hư thì phải phạt. Tôi biết mình hư nên bị đánh đòn không cho là oan. Tôi chỉ xin các anh năm phút, hai phút hát về tình bạn và ba phút hát về chúng ta. Tôi và Trúc Thông là đôi bạn thân thẩn lắm. Trúc Thông là rể phụ đám cưới tôi. Tôi không chỉ coi anh là bạn mà là người anh. Năm ấy, Ban ta chỉ có một xuất tăng lương. Anh xếp vị trí ưu tiên trên tôi, nhưng anh đã vui vẻ nhường tôi tăng lương trước, lý do năm ấy nhà tôi thêm đinh cảnh đời đang từ cơm độn lang mì nguy cơ thăng lên rau cháo. Việc nhường ấy là do anh tự nguyện, nhưng bí thư Hoàng Ngọc Anh vẫn thận trọng nhờ Vũ Quần Phương an ủi sự thua thiệt của Trúc Thông. Giữa sân Đài, Trúc Thông lừ mắt, nói gần như quát với Vũ Quần Phương: Nếu tôi có ghen ganh thì ghen ganh với Nguyễn Du chứ sao lại ghen ganh với Nguyễn Nguyên Bảy, thương yêu nó còn chưa đủ nữa là”. Tôi bước lại phía Trúc Thông đang ngơ ngơ do di chứng đột quỵ năm rồi, ôm anh thay lời ơn chưa muộn. Một lát, với tất cả. “Và bây giờ là ba phút hát về chúng ta, năm 1972, tôi đang chịu kỷ luật đi lao động ở Hà Tây, bỗng được chú Trần Lâm (Tổng biên tập) gọi về Đài, và giao cho nhiệm vụ lên Tháp Bút viết hùng ca. Trong mưa bom bão đạn của quân thù mỗi người chúng ta ngồi đây đều đã viết những hùng ca khác nhau, phần tôi, tôi đã viết tráng ca Một Tháng Chạp Rồng Thăng, nay xin đọc một khúc như một lời cảm ơn tướng Trần Lâm, cảm ơn các anh chị ngày ấy cảm thương tôi, và cũng xin coi đây là dịp hiếm hoi cùng nhau tôn vinh quá khứ thời chúng ta”. Nhiều tiếng vỗ tay nhẹ nhịp làm nền nhạc cho tiếng hát tôi.
Ai muốn lên Tháp Bút viết hùng ca?/ Tất cả chúng tôi đồng loạt cánh tay giơ/ Súng đã nổ vang rền trời Hà Nội/ Rồng đã thăng/ Cao xạ pháo đã thăng/ Tên lửa đã thăng/ Gươm giáo đã thăng
Tháp Bút đã thăng/ Cả Hà Nội bay lên trong trận đánh sau cùng/ Sắc đỏ của máu và mầu vàng của da/ Mỗi chúng ta là một ngọn cờ…
 


Năm phút xin của tôi đã xong. Định ngồi xuống thì anh Mai Thúc Long đã bước lại sau lưng, tay tát nhẹ má tôi theo thói quen từ xửa xưa của anh mà nay sắp xuống lỗ vẫn chưa chịu bỏ. “Bữa nay thời gian là của em, nói bao nhiêu cũng được, nói cho thỏa. Anh em ở đây ai cũng muốn biết cổ tích cuối cùng em viết về thời chúng ta là cổ tích nào?”. Tôi đáp nhanh: “Tôi đã viết hai cổ tích sau cùng vào đầu năm 1980, một bản được duyệt, đó là cổ tích Súng Trường Bắn Rơi Máy Bay, còn cổ tích Tem Phiếu Thời Loạn, không được duyệt, tôi đã hủy.” Tiếng ai đó hỏi: “Ai không duyệt?”. “Vợ tôi. Cô ấy bảo Súng Trường Bắn Rơi Máy Bay thì đúng là cổ tích, còn Tem Phiếu Thời Loạn, thì không, đó không là cổ tích, đó chỉ là lời nhắc nhở con cháu trong bữa ăn no, cái mặc ấm bây giờ. Cô ấy nói đúng nên tôi quyết định hủy”. Một ai đó hỏi: “Sau đó có viết gì thêm?”. “Cũng có cố, nhưng không được, chuyện gì cũng gượng gạo, hình như đã hết thời. Lại nữa con nó bảo tham lam tranh việc của thời chúng, thế là nghỉ hẳn”. Hình như tiếng Trúc Thông, anh nói rất khó nghe, nên bước lại gần, nghe đến lần thứ hai mới hiểu: “Cậu có mà nghỉ, con chữ nó quật chết”. Tất cả cùng cười, vì hình như ai cũng thuộc tính tôi suốt ngày ấp mặt vào con chữ hì hụi chép chép, ghi ghi. Tôi định nói, không viết thêm cổ tích thời mình, tôi đã dành hết thời gian hưu nhàn để đọc và chép truyện cổ tích của em cháu thời nay. Và cũng định kể thêm về hành trình bắt đầu từ sáng mai, tôi sẽ lượn khắp Kinh Thành Cổ Tích gặp gỡ bạn bè đang viết cổ tích thời nay, để xin nghe, xin chép những cổ tích về Hà Nội mà những năm tháng ly hương chưa được đọc, được yêu. Nhưng tôi đã kịp nín miệng giữ những định nói ấy cho riêng mình, để tránh tiếng cười chê đã lão ông rồi mà tính ngơ ngơ vẫn chưa sửa được. 


Bài Cuối: Những người chép cổ tích, thời nay.


Hỏi: Ai chép văn chương Kinh Thành Cổ Tích được coi là chính danh? Đáp: Dĩ nhiên, trước hết phải là người Hà Nội. Hỏi thêm: Những ai thực sự được coi là người Hà Nội? Im lặng kéo dài và sau đó là tưng bừng những nói cười tranh cãi…ngoài lề, tôi ghi lan man tại Nhà sách Văn Hóa Đông Tây, chỗ anh Đoàn Tử Huyến, dịp tôi chào sách bạn đọc.


Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nhưng trên thẻ căn cước mục nguyên quán vẫn ghi: Hưng Yên, quê của cha tôi. Con gái út của tôi sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, nguyên quán lại ghi Hà Nội. Vậy thì tôi là người Hà Nội gốc hay con gái tôi là người Hà Nội gốc? Nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi với ca khúc để đời “Người Hà Nội”, nhà thơ Bằng Việt với bài thơ “Trở lại trái tim mình” làm nên danh, nhà văn Nguyễn Khắc Phục biên kịch chương trình Lễ hội Hà Nội ngàn năm tuổi, hình như đều không phải nguyên quán Hà Nội. Ai đó bỗng nói vui: “Nếu Hà Nội gốc có lẽ chỉ có bác Tô Hoài”. Ai đó đáp: “Nhưng Dế Mèn Phưu Lưu Ký lừng danh thì vùng miền nào chẳng có, đâu phải là đặc sản cổ tích của đất Thăng Long, người Thăng Long”. Thật may cò bài báo ngắn của Vương Gia, lấy lại cân bằng không gian lan man vui đang có nguy cơ tranh cãi không cần rượu.“Hà Nội không phải quê cha đất tổ của nhiều người, nhưng dẫu chỉ chạm chân, ở lại vài ngày, vài tháng, vài năm…, hay ai từng ngơ ngẩn trước Hà Nội bốn mùa thời tiết, cũng đều mang hồn và tình, từng con đường, góc phố, với từng mùa lá rụng, lá thay, với loáng thoáng tà áo bay bay ngày heo may vờn mặt, rung động ấm áp trong se lạnh, mưa phùn giữa dòng người tấp nập đi chợ hoa ngày giáp Tết của Hà Nội trong tim mình. Người Hà Nội không ai có thể quên hào khí ông cha ngàn năm xây dựng, khi kinh thành cổ tích linh thiêng, dấu tích còn kia. Kỷ niệm vườn hoa, ghế đá công viên, căn nhà ống chật chội phố cổ, thênh thang tiếng nói cười tình yêu, bạn hữu… ai có thể quên nổi một thời oai hùng, lãng mạn. Hà Nội chiến tranh. Hà Nội Thanh Bình. Hà Nội của muôn người Hà Nội”. (Báo TTNN)
Bỗng nhớ các bạn tôi người Hà Nội giờ đang sống ở Sài Gòn, nơi ấy, để nhớ về Hà Nội, yêu Hà Nội và viết những cổ tích đủ mọi dạng loại về Kinh Thành Cổ Tích, chúng tôi tập hợp nhau lập “Hội”, tự nguyện miễn là chung sở thích, để hát cho nhau nghe, sách tặng nhau đọc, phim mời nhau xem, tranh mời nhau thưởng ngắm. “Hội” không họp thường kỳ, họp theo nhân dịp, giấy mời là dòng nhắn tin hay là tiếng “ới” alô. Chủ tịch Hội nhiệm kỳ dài hạn là họa sĩ Nguyễn Thị Hiền, Chủ tịch khẩn khoản mời hai phó, phó nhất là chính ủy nhà văn Tô Hoàng, phụ trách tư tưởng thích, phó nhì là Lý Phương Liên phụ trách trà Thái và thuốc lá Thăng Long. Vợ chồng Nguyễn Mạnh Tuấn- Hà Phương đề xuất tên Hội là T.N.V.T, ai muốn hiểu thế nào cũng được Trọng Nhau Vì Tài / Trọng Nhau Vì Tình, Thích Nhau Vì Thơ, Thương Nhau Và Thế…cùng khích lệ động viên nhau ghi chép thật nhiều cổ tích về Kinh Thành Cổ Tích.


Bằng Việt đã dành những lời này cho tôi, nhưng tôi không cho là thế, mà tin là Bằng Việt đã dành những lời tình bạn ấm áp này cho các bạn tôi những người Hà Nội sống xa quê, mỗi người đều có một số phận riêng, nhưng giống nhau ở tính cách tranh đấu ngẩng cao đầu mà sống với tính tình ung dung tự tại, hào hoa và ai dù ít hay nhiều đều kiêu hãnh tự hào khi nhận mình là người Hà Nội. “Nguyễn Nguyên Bảy là người làm thơ cùng thời với tôi, với Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương, Trúc Thông… tức là cùng lứa những nhà thơ khói lửa chống Mỹ. Nhưng anh đã rẽ sang một lối khác sau khi xuất hiện khá ấn tượng trên báo chí và phát thanh. Chúng tôi nghĩ là anh đã bỏ thơ chạy theo một tình yêu khác. Nhưng sau bốn chục năm, Nguyễn Nguyên Bảy đã quay trở lại với thơ, kỳ lạ, sang trọng và làm choáng tất cả với tập thơ Kinh Thành Cổ Tích đồ sộ 500 trang mà tôi và các bạn đang cầm trong tay, có trước mặt lúc này. Trước hết, tôi xin chúc mừng sự trở lại với Thơ của Nguyễn Nguyên Bảy, như một đánh thức tất cả anh chị em thơ thời ấy, sống lại những ngày hào hùng bốn chục năm trước đây, vừa cầm súng đánh giặc vừa cầm bút làm thơ. Tôi như thấy thời gian chảy ngược về và… thưa các bạn, ai cũng có một thời đáng nhớ nhất của đời mình, cái thời bom lửa những năm 70 ấy là thời đáng nhớ nhất của thế hệ chúng tôi. Hình như tất cả những người làm thơ đều có những số phận gian khó khác thường, Lưu Quang Vũ có một tuổi thơ thanh gian khổ, tôi cũng vậy và ngay cả bác Tô Hoài cũng vậy, thời chiến tranh làm sao sướng, nhưng chúng tôi đã theo con đường gian khổ ấy đi vào thơ và Nguyễn Nguyên Bảy cũng vậy. Nguyễn Nguyên Bẩy đã vứt tất cả cái “sướng” của lặn lội kiếm ăn, khi làm báo, lúc hồ nề xây cất, khi chợ trời, lúc tử vi phong thủy… để hiến dâng mình cho thơ. Anh đã lặn vào đời và khi nổi lên, quay trở lại thì vẫn là nhà thơ. Anh là một số phận thơ đặc biệt. Anh đã gieo thơ trên cánh đồng khô cằn vất vả, để gặt thơ phì nhiêu, lịm ngọt. Hẳn tất cả chúng ta, riêng với các nhà thơ, có ai cầm tập thơ của Nguyễn Nguyên Bẩy trên tay mà không trân trọng và thoáng một mơ ước cho riêng mình? Xin được chào mừng Nguyễn Nguyên Bảy và kính trọng anh”.


Khi còn ở Hà Nôi, tôi thật gần gũi với nhà thơ Trúc Thông, anh là tấm gương cống hiến toàn phần cho thơ mà tôi luôn noi theo. Tiếc là được sống gần anh không nhiều và anh cũng viết không nhiều. Sau này vào Sài Gòn cự ngụ, cho tới hiện nay, trong số bạn văn nghệ xây dựng được, thì họa sĩ Nguyễn Thị Hiền và nhà văn Nguyễn Khắc Phục là hai tấm gương lao động nghệ thuật tôi luôn soi. Cả hai, số phận đều lên thác xuống ghềnh nhiều phần khốc liệt hơn tôi, nhưng sự lao động bền gan và đức trung thành cống hiến cho nghệ thuật của họ thật đáng khâm phục, gương lao động của họ luôn là nguồn động lực của tôi.


Khi còn ở Hà Nội, người yêu cầu được đọc cổ tích của tôi nhiều nhất và gần như đặt trọn niềm tin vào sự đúng, sự hay của những ghi chép của tôi là cậu sinh viên sư phạm văn mà sau này là đạo diển điện ảnh Nguyễn Anh Tuấn. Niềm tin ấy của Tuấn như những hat mưa xuân thấm tưới cây đức tin tôi. Sau hơn ba chục năm gặp lại, tôi chỉ biết ôm em thay lời cảm ơn.


Tôi có người bạn thơ, nhiều tuổi hơn tôi, nên tôi gọi anh trai, anh là Hoàng Xuân Họa, chúng tôi quen nhau trên mạng nhân được đọc bài viết của anh về các thể thức thơ. Đấy là một bài lý luận thơ bình dân bổ ích nhất từ trước đến nay mà tôi được đọc. Tôi viết thư làm quen. Từ đó chúng tôi thành anh em. Anh là nhà thơ, theo tôi, không thể gọi khác, vì anh làm thơ và thơ anh nhân tình ý tứ, lung linh chữ nghĩa. Điều đó chưa thật quan trọng, mà quan trọng là anh thẩm thơ tinh tế, chuẩn mực và luôn mở lòng, rộng lượng và trân trọng thơ người như thơ mình. Tôi học được ở anh rất nhiều từ đức tính cần thiết vị tha tử tế cho thơ và tài hoa từ nhà thơ Anh Trai ấy.


Một người khác, nhà thơ Trần Ninh Hồ: “Thơ Nguyễn Nguyên Bảy hầu như bài nào cũng đặt lại, đặt ra những vấn đề mới và đặc biệt lạ, với một cảm xúc thơ khác thường, mà tôi chỉ có thể gọi đó là cảm xúc Nguyễn Nguyên Bảy, cảm xúc vượt qua mọi kiểu cách bố cục, chữ nghĩa tuôn chảy ra từ suối lòng, nếu không muốn nói từ một vùng miền cổ tích thẳm xanh nào đó. Các sử liệu, các giai thoại, các câu chuyện cổ, thậm chí đến những lời ca dao quen thuộc, những câu dân ca mà mỗi chúng ta hầu như đều thuộc nằm lòng, trong thơ Nguyễn Nguyên Bảy cũng lung linh một sắc mầu mới, âm thanh mới, quan niệm mới và một cách vẽ mới, hát mới. Tôi không thể trích dẫn một câu hay đôi câu, mà nếu muốn trích dẫn phải đọc trọn bài thơ, vì cảm xúc và cấu trúc thơ Nguyễn Nguyên Bảy là mạch chảy liền lạc, oai thiêng, chữ nọ cuốn chữ kia, câu nọ cuốn câu kia, thủ thỉ, sáng lóa, rũ quyến say mê tâm hồn người đọc. Bài thơ nào của Nguyễn Nguyên Bảy cũng như một bữa tiệc, tiệc đúng nghĩa, đây là bữa tiệc ca dao: Dì Út về nhà chồng/ Ca dao gà ngoại ngả lá chanh/ Ca dao cau bổ cỗ/ Lá chanh ngoại hát canh cần/ Ngoại tiện cau rồng/ Ngoại têm trầu phượng/ Tĩnh lòng ngoại vấn nhiễu khăn… Mạch thơ của Nguyễn Nguyên Bảy ghê gớm quá, ghê gớm đến mức tôi hoàn toàn tin là Nguyễn Nguyên Bảy có thể ăn thơ, ngủ thơ, sống thơ để viết cả ngàn bài. Quyển thơ đầu tiên tôi đang cầm trên tay đây, với năm trăm trang, mấy trăm bài thơ dài ngắn, đủ chứng minh lời tôi nói. Thật là, một tấm gương lao động gan lì, một tình yêu thơ khác thường và một thành quả thơ đáng ngưỡng mộ”.


Tôi viết Kinh Thành Cổ Tích đầu những năm 1970. Ba chục năm sau mới in thành sách. Chẳng dám viện dẫn lý do riêng chung cát hung gì cho sự chậm trễ ấy. Số phận của thơ tôi vậy thì là vậy, “chửa trâu” thì đẻ trâu, sớm hay muộn được chào đời là thỏa mãn. Vấn đề không phải là cái danh cho bản thân, trong văn thi đàn Việt từ xưa tới nay chẳng vô thiên khối văn thơ khuyết danh đó sao. Vấn đề quan trọng là những câu chữ ấy thế nào, có đáng bỏ tiền tự in và có đáng được cha mẹ, vợ con, bạn bè đón đọc, mà không phải cố phải đọc để lấy lòng trước khi quăng vào thùng phế thải.
Cảm ơn nhà thơ Y Phương tôi chỉ mới nghe tên, chưa biết mặt, chẳng biết có số điện thoại của tôi từ ai, mà gửi cho tôi dòng tình thân ái này: “Tôi là Y Phương. Đọc thơ anh Bảy tôi sướng quá. Vì đã quá lâu mới được đọc một giọng thơ rất mới. Rất xúc động”...


Và NSND Đào Trọng Khánh, tôi vừa tặng sách anh hôm trước thì hôm sau, anh diện thoại cho tôi, từ Hải Phòng, những lời bạn thiết, ghi âm: “Nguyễn Nguyên Bảy hả? Khánh đây. Giữ nguyên máy, không được nói, nghe đây. Tôi đang đọc Sông Cái Mỉm Cười, tôi phải gọi điện cho Bảy vì không thể không gọi, không chia lời với Bảy thì tôi không chịu nổi áp lực của xúc cảm, nó đang sôi lên trong tôi, sôi như Sông hồn bắt đầu sôi/ Khí hồn bắt đầu thăng. Sông cái mỉm cười không phải là một bài thơ, cũng không phải là một trường ca, mà nó đích thực là một tráng ca. Một tráng ca tôi chưa được đọc bao giờ. Kỳ lạ chưa sông Cái Mỉm cười/ Trôi đi những thuyền cỏ mật. Ông đã viết một tráng ca bất hủ. Ông đừng bảo là tôi quá lời, tôi năm nay đã ngoài 70, đã không còn có thể làm gì để thăng hay để giáng, lời tôi không để tâng bốc hay dèm pha, không để mua vui, chùi rượu. Đào Trọng Khánh này nói với ông lời bằng hữu rằng ông đã viết được một tráng ca bất hủ. Này, sao lại khóc? Tôi biết ông nhớ thương bố ông lắm. Sông Cái Mỉm Cười bảo với tôi như thế. Tôi cũng như ông, cũng nhớ bố tôi. Ông hình dung đi, Bẩy “rum”, tôi đang thắp nhang đấy, không chỉ là thắp nhang cho bố ông, mà cho cả bố tôi cho cả bao nhiêu những ông cha bà mẹ đã hóa thân vào Sông Cái và đang hiện về lộng lẫy trong thơ ông. Thử hỏi có áng thơ nào mà đọc nó ta thấy hiện lên hào hùng sông núi, hiện lên những kiếp phận người hoành tráng, hùng vĩ, không than khóc, mà lại êm ả như cỏ mật, như gió, như sóng lan vang. Tất cả những kỳ lạ ấy tôi đã tìm thấy trong thơ ông. Thơ ông tràn ngập linh khí, tràn ngập hồn vong, thơ ông như có người cõi trên nhập vào, rồi bảo ông tuôn chảy, tuôn chảy không ngừng nghỉ, ai đọc cũng được ai nghe cũng được. Tôi tự hỏi đó có phải là trận mưa đá khổng lồ từ trời đổ xuống? Mà không, nếu ví với mưa đá thì e là có họa hại, tôi bèn bảo cơn mưa đá ấy khi đổ xuống thân thể ta nó tan thành trận mưa rào, tắm mát tắm sạch đời ta dù chỉ trong khoảnh khắc. Dù đã thăng hoa trận mưa đá hay mưa rào ấy không mây, đúng là không mây, nhưng vẫn thấy là chưa phải, mà thơ ông phải là trận mưa chiều, tạnh ngay, làm quang đãng sáng lóa mọi tầng tầng mái nhà không phân biệt hèn sang, giầu nghèo, để không ai phải ganh tỵ là trời quang mấy tạnh dành cho riêng ai, mà là cho tất cả, ai muốn nhận cũng được. Thơ ông, Bẩy “rum” của tôi ạ, lạ lắm, người trần khó viết được lắm, nói như vậy có nghĩa là thơ ông có tôn giáo, có linh thiêng hôn phối với đôn hậu, tử tế, nghĩa khí mà thành thơ. Thôi. Tôi nói mà nghe ông khóc, chán lắm. Tôi phải gọi điện cho Lâm Đại Chúc, cho Thi Hoàng, cho Viên già, cho Nguyễn Thị Hiền để chia sẻ hoan hoan này với chúng đây. /Soi gương vui cả mặt gương/ Tình yêu nhón một cánh chuồn chuồn bay… Mày đã đánh cắp của thần nào câu thơ này hả Bảy, có phải ở Ngã Bảy Hiền Vương?”


Thưa các bạn văn chương: Phạm Công Trứ, Mai Quỳnh Nam, Văn Chinh, Thi Hoàng, Viên “già”, Lê Đại Chúc, Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Ngọc Hà, Đỗ Chu, Bùi Bình Thi, Nguyễn Khôi… Những lời chia sẻ chúc mừng của các anh, các chị, các bạn, tôi đã nhận đủ, quí hóa ghi tạc trong lòng. Từ những lời khen chê này, cho phép tôi được thưa gửi ba thu hoạch cảm ơn dưới đây.


Thu hoạch một. Năm 1972 tôi đã viết 15 chữ: “Thơ là thơ. Thơ không phải địa vị xã hội của người làm thơ”. Vì 15 chữ ấy tôi đã bị kỷ luật. Tôi cam chịu kỷ luật, chịu bao điều tiếng thị phi và bao hệ lụy của đói khổ, nhưng quyết không từ bỏ 15 chữ mà tôi cho là chân lý của mình. Tôi im lặng bền gan đi theo chân lý ấy, ngày ngày chép ghi cổ tích và tin là nhất định có ngày cổ tích của tôi được chào bạn đọc. Cái thời 1970 bom đạn là vậy, phải vậy, và tôi thực lòng chẳng những không cắng đắng trách oán mà còn tri ân cái thời của mình đã ban cho tôi chí khí dũng cảm của người lính và trái tim của trẻ thơ để ghi chép cổ tích đời. Nhắc lại ký ức 40 năm trước, chỉ muốn nói rằng, thời thơ hôm nay đã khác, đã đổi thay, không thể đem nguyên mẫu cai trị thơ thời chúng tôi mà áp đặt cho thời nay. Thơ là tiếng lòng, khòng càn khôn nào cai trị được. Và thế, sứ mạng của những người cầm bút chép cổ tích thời nay là phải tự thay đổi cách nghĩ, cách viết, sao cho tương thích với thời của mình, và chỉ có vậy, mới chép được những cổ tích tầm vóc xứng đáng với thời mình đang sống.
Thu hoạch hai. Trong bẩy thú chơi nghệ thuật được thế giới xếp loại, thơ ca đứng hàng đầu, có nghĩa là thú chơi này ra đời sớm nhất, tồn tại cho đến thời nay và tôi tin rằng nó sẽ còn tồn tại mãi với loài người, dù rằng lúc thịnh lúc suy, nơi cường nơi nhược, khi được tôn vinh, khi bị ghét ganh hắt hủi. Niềm tin của tôi có cơ sở và rất vững chắc, là bởi thơ là thanh lòng ngữ dạ, con người làm sao sống vắng thiếu lời yêu nhau? Cũng vì đức tin ấy, tôi không cho rằng văn hóa đọc ngày nay đang kéo thơ xuống cấp. Xửa xưa xưa chưa có giấy cổ nhân chép thơ ở đâu? Chưa phát minh ra máy in làm sao nhân bản tập thơ thành năm trăm bản như bây giờ? Ca dao, dân ca, cổ tích, thần thoại còn lưu truyền đến ngày nay chỉ được sao in bằng miệng! Và thiếu gì những sách Thơ và Từ của vua chúa in hàng triệu bản, phát không như tờ rơi quảng cáo, thử hỏi có được bao nhiêu người thực đọc? Thế nên, nếu cho rằng văn hóa đọc xuống cấp, người đọc ngoảnh mặt với thơ, thì thật oan cho thơ quá, ít nhất là với Hà Nội quê mình. Theo điều tra của người viết bài, ở thời điểm này, chưa một địa danh nào trên cả nước và không quá lời trên cả toàn thế giới, lại có nhiều câu lạc bộ thơ, nhiều người làm thơ, thích thú với nghệ thuật chơi thơ bằng Hà Nội. “Xếp loại cả những ca dao hò vè ấy vào thời ư?”. Không đáp mà hỏi lại: “Thế thì thế nào mới được gọi là thơ?” Không nhất thiết giao cho thơ quá nhiều sứ mạng, quá nhiều mục đích, mà nên hiểu rằng từ khởi thủy, thơ chỉ đơn thuần là tiếng lòng chia sẻ hỉ nộ ái ố đời, gần thì với con cháu, với bạn bè, xa hơn là với cộng đồng, xa hơn nữa với đồng bào, với nhân loại. Chỉ đơn giản vậy. Thơ là thơ. Người làm thơ, yêu thơ, thích thơ, chơi thơ biết điều đó và tự biết sàng lọc. Cầu mong hãy chào đón, cứ để trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng, cứ để muôn tiếng lòng rung lên, không vội gì chê bai, bài xích, mở lòng nghe nhau, cái gì còn đọng lại trong lòng, trong đời thì đó chính là thơ, đó chính là cổ tích.


Thu hoạch ba. Bảo rằng, Các nhà văn nhà thơ chuyên nghiệp chẳng bao giờ hể hả khích lệ nhau, khen nhau, kiệm lời khen đến mức cười mặt chê lòng. Bảo rằng này không chính xác, ít ra là trong trường hợp tôi, một nghiệp dư thơ mà cũng được bầu bạn chuyện nghiệp tiếp đón và dành cho nhiều lời khích lệ, ngợi khen cao hơn giá trị thực của nó. Tôi cầu mong, trường hợp tôi không ngoại lệ; và nhân ngoại lệ này, xin bạn văn chương hỷ xả cho cái lố, cái tham của niềm sướng muộn của lão ngoan đồng tôi.


Cũng vì tấm lòng thơ cởi mở cùng nhau, nên tôi sung sướng vô ngần được gặp gỡ bao nhiêu bằng hữu anh em, mà tôi gọi họ là những người ghi chép cổ tích thời nay. Hơn một lần chúng tôi ới nhau trên mạng, trên alô, tạm mượn hồ Thiền Quang làm trụ sở, khai hội những người thân yêu nhau từ lâu nhưng đây mới lần đầu gặp mặt, phải xưng tên trước khi nắm tay nhau, ôm nhau, vậy mà quá nhiếu ánh mắt long lanh cười ướt. Từ anh trai Hoàng Xuân Họa, đến anh trai Nguyễn Khôi, đến cặp đôi Trần Vân Hạc, Dương Hiền Nga, đến Mai Thục, Bích Ngọc, đến Thủy Hướng Dương, Chử Thu Hằng…đến nụ cười và tiếng hát, đến hoa và cỏ mùa xuân và camera, trong đó camera của Nguyễn Anh Tuấn to đùng như cao sạ pháo. Chúng tôi không hồi ký với nhau về cuộc đời của ngày hôm qua, vì những đuôi mắt chân chim, mái tóc bạc và những nụ cười chưa tươi đã tắt đã tố cáo tất cả, nói thay tất cả. Chúng tôi cũng không khoe nhau đang văn chương gì về ngày hôm nay, hình như đó là bí mật nghề nghiệp, nhưng tôi tin ở tình yêu và lao động của các bạn tôi, nhất định các ghi chép cổ tích của thời họ sẽ làm xán lạn hơn, nguy nga hơn, thần tiên hơn Kinh Thành Cổ Tích của chúng ta.
Tôi đã có đêm cuối cùng trước khi bay trở về Sài Gòn, anh trai Hoàng Xuân Họa và nhà thơ Trần Nhương đã cho tôi một cơ may gặp gỡ những người cầm bút đương thời, trẻ trung, sung sức đang viết chép cổ tích của thời nay. Họ đông lắm, tâm thành lắm, đang làm một việc đẹp đẽ ân tình, tưởng niệm một nhà thơ trẻ tài hoa bạc mệnh lúc tuổi mới ngoài hai mươi, tên là Lãng Thanh. Trước khi tới đây tôi hoàn toàn chưa biết gì về Lãng Thanh, nhưng đến đây, tuy không nhiều thước tấc thời gian, nhưng tôi đã như biết tất cả, anh sinh năm 1977, về với hoa năm 2002, bên một dòng sông, trên sông có con đò, trên con đò ấy có hoa sen, trong hương sen thơm ngát ấy có thơ anh viết, có tranh anh vẽ, có ca từ anh hát, có thơ anh dịch, có tản văn anh viết và có cả giải thưởng thơ trao muộn cho anh (Giải thưởng Văn Học năm 2004). Chừng ấy, chứng tỏ sức lao động anh, lực cống hiến anh và dự báo tài hoa anh hứa hẹn biết bao. Bạn bè anh, những người sống thương tiếc anh, quí trọng tài hoa anh, đã tái hiện anh đầy đủ, trong đêm tưởng niệm. Công sức sưu tầm, những quyên góp tiền bạc để in ấn, những bài viết chân tình, và thơ viết về anh, tặng anh, tất cả đều mang đậm dầu ấn tình thơ người Hà Nội. Tôi thắp nén nhang tình và đọc tặng Lãng Thanh bài thơ Chân Hương thay lời cầu siêu.


Cháy rồi, cháy hết phần thơm/ Chân Hương đứng lặng nỗi buồn vô vi / Rồi mầu phẩm nhuộm phai đi / Dẫu chẳng còn gì vẫn đứng chân hương./


Tiếng thơ tôi vừa dứt, camera của Trần Nhương cũng off. Tôi nắm tay Nhương, nói vắn đôi câu chia tay, nhưng tôi biết bạn tôi hiểu nhiều hơn những lời tôi nói: “Cậu có thể ngơi văn thơ một chút, trổ tài họa sĩ, mà chép vào toan, lụa, chân dung muôn mầu người Hà Nội hôm nay trên khắp Kinh Thành Cổ Tích của chúng ta. Phần hai đứa mình, tuy cùng tuổi “cổ lai hy”, nhưng cậu còn phong độ lắm, lao động nghệ thuật còn khỏe lắm, cống hiến còn cao cả lắm, tâm hồn còn trẻ trung lắm. Xin cho mình mượn chân dung cậu làm tấm gương noi”.


Không chờ nghe lời đáp của Trần Nhương, tôi băng nhanh sang đường, đi dọc tường ngoài Văn Miếu, hàng cây trước mặt bỗng rùng mình, lá đổ phiêu phiêu…


Văn Minh Họa Thơ. Viết kéo dài từ 2010 đến tháng 11-2017.


Nguồn: Rút từ sách Kinh thành Cổ tích 1. NXB Hội Nhà văn, sẽ phát hành vào tháng 01-2018.


NNB.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện nhân thế đời thường, chuyện facebook - Triệu Xuân 04.12.2017
Thăng Long Hà Nội, ngàn năm Văn hiến (1010 – 2010) - Nguyễn Xuân Tư 02.12.2017
Quê mình Hà Nội – Văn viết cho tập Thơ: Kinh thành cổ tích - Nguyễn Nguyên Bẩy 02.12.2017
Về xứ Bốn Ngàn - Nguyễn Hồng Lam 27.11.2017
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
xem thêm »