tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20236085
07.08.2017
Trịnh Bích Ngân
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ



Nhiều lần tôi được nghe họa sĩ Trang Phượng kể về những tháng ngày gian khổ mà ông cùng nhiều văn nghệ sĩ tham gia cuộc chiến tranh vệ quốc. Lần nào, khi nói về giai đoạn kháng chiến hết sức ác liệt của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mà các văn nghệ sĩ còn là những chiến sĩ can trường trên trận tuyến, họa sĩ Trang Phượng đặc biệt nể phục sự quả cảm của những nhà quay phim. Ông nói: “Họ luôn đi trước, đi cùng với cánh trinh sát đi để quay được những hình ảnh chân thật, nóng hổi thời sự”.


Giờ đây, khi được gặp nghệ sĩ ưu tú Đoàn Quốc cùng vợ ông, họa sĩ Tạ Kim Dung trong ngôi nhà của vợ chồng ông ở trong một con hẻm nhỏ, ngôi nhà hai tầng, diện tích sử dụng khá rộng nhưng tôi lại có cảm giác vẫn còn khá hẹp so với “gia tài” khá đồ sộ của hai nghệ sĩ tạo hình. Tường các căn phòng đều treo tranh với nhiều kích cỡ, nhiều chất liệu, nhiều đề tài, nhiều biểu cảm. Và nhiều, rất nhiều bức tranh không còn chỗ treo phải xếp cạnh nhau hay xếp chồng lên nhau. Vài ba bức đang vẽ, cọ, màu lô nhô bên cạnh. Còn quanh các bức tường, trong các ngăn tủ của phòng khách, vừa treo tranh, vừa ken đầy các hôp đựng các bộ phim mà nghệ sĩ Đoàn Quốc đã tham gia với vai trò người quay phim chính, rồi người dựng phim. Những bộ phim ghi lại một phần lịch sử chiến tranh cách mạng bằng hình ảnh. Và khi được xem lại những bộ phim tài liệu mà NSUT Đoàn Quốc cùng đồng nghiệp thực hiện trong bom đạn chiến tranh, được nghe ông kể chuyện về những năm tháng bi hùng và cả những sẻ chia về ký ức vẫn đằm sâu tâm khảm người nghệ sĩ đã đi qua những mất còn sau chiến tranh, tôi càng thấy lời nhân xét của họa sĩ Trang Phượng là chính xác. Những người cầm máy quay phim trong khói lửa chiến tranh là những người quả cảm và hứng chịu nhiều mất mát, hy sinh.


1. Những thước phim thấm máu


Hình ảnh đầu tiên mà nhà quay phim Đoàn Quốc muốn tôi xem là những thước phim anh ghi lại hình ảnh hai nhà báo nước ngoài đến với chiến trường miền Nam Việt Nam trong bộ phim tài liệu phóng sự “ Nhà báo Úc Burchett và nhà văn Pháp Madeleine Riffaud đi thăm miền Nam Việt Nam”. Nhà báo người Australia, Wilfred Graham Burchett, là phóng viên phương Tây hiếm hoi từng sống cùng với bộ đội Việt Nam tại chiến khu Việt Bắc và chiến trường miền Nam trong hai cuộc chiến tranh của người Việt Nam chống lại quân đội Pháp và Mỹ và nhà báo nhà văn người Pháp Madeleine Riffaud, là nữ nhà báo nước ngoài đầu tiên được đi theo cuộc chiến đấu của các chiến sĩ quân giải phóng trong các bưng biền “Việt Cộng”.


Lúc đó, NSUT Đoàn Quốc nhớ lại, là khoảng cuối năm 1964. Nhà quy phim mới 21 tuổi được Xưởng phim Giải phóng phân công theo chân hai nhà báo nước ngoài trong suốt cuộc hành trình của họ ở chiến trường miền Nam. Nhà báo Wilfred Graham Burchett cao lớn, thân thiện, lúc đó tuổi đã trên năm mươi nhưng nhanh nhẹn, hoạt bát, liên tục di chuyển, say mê nhìn ngắm, quan sát. Nhà báo Madeleine Riffaud trẻ trung, xinh đẹp, người mảnh mai, tóc dày thắt bím thả dài xuống ngực, tiếp xúc trò chuyện, gần gũi, cởi mở. Nữ nhà báo đi đến đâu cũng được các má các chị và cánh lính vây quanh. Cả hai nhà báo nước ngoài mặc bộ bà ba đen, vai vắt khăn rằng, chân mang dép cao su, cũng cơm nắm, cơm vắt... Họ làm việc liên tục, say sưa, quên mệt mỏi, quên gian khó, quên cả sự hiểm nguy về tính mạng lúc nào cũng rình rập. Họ di chuyển, khi băng rừng, khi lội suối, khi chụi xuống hầm, xuống địa đạo. Họ ghi hình, gặp gỡ, phóng vấn, ghi chép…Rồi nhiều hình ảnh và nhiều bài viết của nhà báo Wilfred Graham Burchett và nhà văn nhà báo Madeleine Riffaud về cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam kịp thời được nhiều phương tiện truyền thông quốc tế truyền tải. Thông tin, thông điệp đó nhanh chóng đến với người đọc người xem trên khắp địa cầu, đã tác động mạnh mẽ đến nhận thức của công chúng thế giới về cuộc chiến tranh giải phóng đất nước giành hòa bình độc lập của nhân dân Việt Nam.


Chuyến công tác cùng với hai nhà báo quốc tế dấn thân vì cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, đối với nhà quay phim trẻ Đoàn Quốc lúc đó, còn như một cơ may. Anh không chỉ được tiếp xúc trò chuyện với hai nhà báo nổi tiếng, được ghi lại những thước phim mà thời gian càng lùi xa càng tăng thêm giá trị, bởi giá trị lịch sử và giá trị nhân văn của nó, mà còn với Đoàn Quốc, một nhà báo quay phim chiến trường luôn đối mặt với hiểm nguy và chết chóc, thì chính họ, chính những nhà báo quả cảm vô song đó đã “truyền lửa” cho anh. Đó là ngọn lửa từ trái tim có cùng nhịp đập với trái tim Tổ quốc.


Sau đó ít tháng, Đoàn Quốc tiếp tục quay bộ phim phóng sự “Hội nghị Trung ương cục miền Nam”. Cũng trong năm 1965, anh liên tiếp quay hai phóng sự “Nhà báo Liên Xô Ivan Sedrop thăm miền Nam Việt Nam” và “ Nhà văn Ba Lan Monica Warmenska thăm miền Nam Việt Nam”. Anh lại có dịp tiếp xúc với những con người dấn thân vì nghĩa lớn.


Mấy tháng sau, trước cuộc chiến tranh cục bộ mà Mỹ tiến hành với chiến lược dùng ưu thế hỏa lực, công nghệ và quân số của lính viễn chinh Mỹ nhằm đè bẹp quân Giải phóng miền Nam, đồng thời dùng không quân đánh phá miền Bắc nhằm bảo vệ chế độ Việt Nam cộng hòa, thiết lập ảnh hưởng lâu dài của Mỹ lên miền Nam Việt Nam; cùng với các binh chủng quân sự, các cơ quan dân sự đều điều động người đơn vị mình ra chiến trường.


Xưởng phim Giải phóng tức tốc điều các nhà quay phim tham gia các mặt trận. Đoàn Quốc cùng nhiều đồng nghiệp tham gia cả ba trận đánh trong chiến dịch Đông Xuân 1965 -1966 với tư cách phóng viên quay phim chiến trường. Rồi trong trận Hồ Đá - Bàu Bàng, nhà quay phim Đoàn Quốc bị thương khi đang quay phim. Nhà quay phim trẻ bị giặc Mỹ bắn gẫy cổ tay, thủng ruột, thủng đùi, ngã xuống khi đang ôm máy quay chiến trận. Chiếc máy quay phim 16 ly hiệu Poillard bể nát. Trong trận này, chỉ mỗi mình Đoàn Quốc được đồng đội cứu sống sau hơn 10 giờ bị thương, còn người phụ quay - anh Sáu Dũng, người lớn hơn Đoàn Quốc 6 tuổi, quê Bến Tre và một đại đội phó cùng hai chiến sĩ bảo vệ tổ quay đều hy sinh.


Bè bạn đồng nghiệp của Đoàn Quốc ở nhiều chiến trường miền Nam, người bị thương, người hy sinh, người tiếp tục cầm máy quay phim. Từ nhiều mặt trận ác liệt, hàng ngàn thước phim về cuộc chiến tranh chống giặc Mỹ xâm lược của quân dân miền Nam Việt Nam được gởi về xưởng phim Giải phóng. Đó là những thước phim thấm máu. Máu của nhân dân. Máu của các chiến sĩ. Và máu của những văn nghệ sĩ, những phóng viên quay phim chiến trường.


2. Tái hiện một phần cuộc chiến tranh vệ quốc hào hùng


Sau khi bị thương ở trận Hồ Đá ( Bàu Bàng), nhà quay phim mới 22 tuổi trở thành một thương binh ¾ . Với thương tật 41,6%, Đoàn Quốc khó có thể vác máy quay ra chiến trường, dù anh vẫn muốn tiếp tục được trực tiếp ghi hình ảnh quân dân chiến đấu với kẻ thù trong gian đoạn hết sức ác liệt. Anh được Xưởng phim Giải phóng điều về bộ phận dựng phim.


Với nhiệm vụ mới, nhà quay phim trẻ ý thức được đây không phải là công việc nhẹ nhàng. Dựng phim tài liệu chính là tái hiện lại câu chuyện, một sự kiện có thật mang giá trị thông tin có tính bao quát và giá trị nghệ thuật, khiến cho người xem có được cảm xúc, không chỉ cảm nhận được hơi thở của cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm của quân và dân miền Nam, mà còn đem lại cảm xúc thẩm mỹ, hướng người xem nhận ra cái đẹp, cái cao cả của cuộc chiến tranh chính nghĩa.


Được được sự dìu dắt hết lòng của đạo diễn Mai Lộc (lúc đó ông là giám đốc Xưởng phim Giải phóng - thuộc Mặt trận Giải phóng dân tộc miền Nam Việt Nam. Ông là người khai sáng điện ảnh cách mạng miền Nam Việt Nam với bộ phim tài liệu “Trận Mộc Hóa”, từ năm 1947), Đoàn Quốc miệt mài khổ luyện. Lúc đó phim quay xong từ chiến trường gửi về xưởng phim, không có kịch bản, chỉ có gạch đầu dòng nội dung đã quay. Mặt khác, đạo diễn và quay phim không về được vì đang còn ở chiến trường. Đoàn Quốc, người dựng (đạo diễn dựng) xem bản phim nháp, biên tập, ráp nối, chọn lựa, bổ sung những thước phim từ nguồn phim tư liệu, thông qua giám đốc Mai Lộc rồi mới được dựng. Dựng xong, lồng tiếng, âm thanh, thuyết minh hoàn chỉnh, được đạo diễn Mai Lộc duyệt lại lần cuối trước khi gởi ra Bắc để sản xuất và phát hành rộng rãi trên toàn quốc. Đoàn Quốc đạo diễn dựng được gần 20 phim tài liệu phóng sự chiến tranh. Trong số đó, có những bộ phim tài liệu đưa hình ảnh con người miền Nam Việt Nam trong khói lửa chiến tranh đến với bè bạn quốc tế, có thể kể, như phim tài liệu: Đội nữ pháo binh Long An ( giải Bông Sen vàng, Việt Nam; Bằng khen Liên hoan phim Á Phi; Du kích Củ Chi ( Giải Bông Sen Vàng Việt Nam; Huy chương vàng Liên hoan phim quốc tế ở Moskva; Giải Bồ câu vàng tại Liên hoan phim quốc tế ở Leizig, Đức) và nhiều phim khác đoạt các giải thưởng quốc gia, như: An Quãng Hữu giải phóng, Xiết chặt vòng vây địch, phóng thích ba tù binh Mỹ, Trường nữ quân chính Nguyễn Thị Minh Khai…


Và cũng chính sức thuyết phục từ hình ảnh của nhiều phim tài liệu do Đoàn quốc đạo diễn dàn dựng mà anh được tham dự Liên hoan phim quốc tế cùng với các nhà quay phim, đạo diễn, diễn viên khác như: Phạm Khắc, Hải Ninh, Trà Giang. Rồi sau đó, Đoàn Quốc được nhà nước cử sang nước Cộng hòa dân chủ Đức học chuyên ngành về quay phim suốt năm năm liền. Về nước, Đoàn Quốc quay hàng chục phim, cả tài liệu lẫn phim truyện và tiếp tục gặt hái được nhiều thành công, để lại nhiều dấu ấn cho công chúng yêu thích điện ảnh. Nhiều bộ phim tài liệu và phim truyện đoạt giải thưởng quốc gia có sự đóng góp không nhỏ từ góc quay của nhà quay phim chuyên nghiệp tài hoa Đoàn Quốc.


Tuy nhiên, dù khi dự liên hoan phim quốc tế giữa vòng vây rộn rã lời chúc mừng hay ngồi trên giảng đường đại học ở Berlin, hình ảnh đồng chí đồng đội ngã xuống trước mắt anh trong khi thực hiện quay những hình ảnh trong chiến tranh ở miền Nam khói lửa vẫn cứ ẩn hiện trong tâm trí anh. Hình ảnh hai cậu bảo vệ trẻ măng nói cười luôn miệng chết tức tưởi khi đang theo sát người quay phim để bảo vệ người quay lẫn máy quay, rồi anh Sáu Dũng hiền lành, sẵn sang gánh vác nhọc nhọc cho đồng nghiệp bị thương máu ra nhiều mà không có cứu thương cho đến khi máu không còn để chảy nữa. Rồi cậu đại đội phó đẹp trai, gan dạ ngã xuống vẫn cố gượng cầm súng cho đến khi ngón tay không còn điều khiển cò súng được nữa. Và người đồng nghiệp đã cùng Đoàn Quốc thực hiện bộ phim Du kích Củ Chi, bộ phim tại các liên hoan phim đã gây chấn động tình cảm bè bạn quốc tế, đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường. Đặc biệt là hình ảnh cô dân công xinh đẹp Võ Hồng Loan, thiếu nữ tuổi đôi mươi đã cõng nhà quay phim trẻ đang điều trị tại trạm xá trở về trạm quân y Bàu Bàng trên chiếc võng cáng thương và đó cũng là lần Đoàn Quốc nhìn thấy cô lần cuối cùng. Và nhất là nỗi nhớ người mẹ yêu quý của anh. Bà từng lập bàn thờ thờ anh suốt ba năm tưởng Đoàn Quốc đã hy sinh trước khi lập bàn thờ thờ anh trai anh hy sinh tại cửa ngõ Sài Gòn ngay sau cái Tết Mậu Thân…


Phim ảnh không phải lúc nào cũng có thể chuyển tải được những điều khiến nhà quay phim chiến trường Đoàn Quốc vẫn canh cánh trong lòng. Điện ảnh lại là loại hình không dễ dàng khi đơn độc thực hiện được những điều mà anh ấp ủ thai nghén. Thế là Đoàn Quốc cầm cọ.


Nhà quay phim đã khiến bè bạn ngạc nhiên khi đến xem triển lãm tranh của nhà quay phim. Anh lại có người vợ, người tri kỷ, họa sĩ Tạ Kim Dung đồng hành. Đoàn Quốc viết những câu thơ cho vợ mà có lẽ là cho chính mình “Cùng đi suốt cuộc đời/ Sướng vui buồn khổ/ Đồng cảm tình yêu dù điều nho nhỏ/ Rất lớn lao/ Em là người chống đỡ cho mình/Càng yêu em nhiều/ Càng hiểu sự đời/Qua nét vẽ lung linh”.


Qua nét vẽ cùng màu sắc, hiện thực đời sống, hiện thực cuộc chiến tranh Cách mạng hiện lên trên từng bức tranh của nhà quay phim Đoàn Quốc. Phần nhiều chủ đề tranh anh là ký ức về đồng chí đồng đội, về nơi chốn anh đi qua trong chiến tranh: cảnh cảnh sinh hoạt của bộ đội dân công chiến khu R, chiến khu Minh Đạm, vận chuyển vũ khí ra tiền tuyến, cuộc hành quân vượt dãy Trường Sơn, Tổng tấn công Mậu Thân năm 1968…Một số tranh sơn dầu tiêu biểu: Tải gạo về chiến khu; Giờ xuất kích trong hang núi Minh Đạm; Đường ra phía trước; Chiếm lĩnh đỉnh cao ở mặt trân SG xuân 1968; Tải súng đạn từ tàu không số ở Lôc An - Sơn Dầu….Họa sĩ Phạm Nguyên cẩn nhận xét về khả năng hội họa của nhà quay phim:" Đoàn Quốc có nhiều vốn sống, là kho tàng đồ sộ từ quay phim nên cầm cọ vẽ tranh rất phong phú, đa dạng…”. Họa sĩ Phan Gia Hương, Phó chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam ghi nhận đóng góp của nhà quay phim với tư cách họa sĩ : “Tranh Đoàn Quốc khắc họa được bối cảnh vượt Trường Sơn vào Nam, tổng tấn công vào SG năm 1968…".


3. Từ một lời chưa hứa…


Lần nào trò chuyện, NSUT Đoàn Quốc cũng nhắc về cô nữ dân công Võ Hồng Loan, người con gái yêu anh và muốn được anh nói lời hứa sẽ mãi yêu cô trước khi cô quay lại chiến trường; nhưng chàng trai 21 tuổi ngày đó đã không dám nói lời hứa, bởi “Khi trên đầu còn lửa và bom/ Tiếng gầm rú B52 cày xới/ Sống chết từng giờ” (thơ Đoàn Quốc), để rồi cô nức nở dỗi hơn và hy sinh ngay trong trận pháo kích của Mỹ ngay đêm đó trên đường trở lại mặt trận.


Sau ngày miền Nam giải phóng, Đoàn Quốc đã hai lần trở lại Bàu Bàng, Bình Dương để tìm kiếm mộ cô gái nhưng không ai biết. Có thể mộ cô bị thất lạc như nhiều liệt sĩ khác. Tuy nhiên, cô gái ấy, tình yêu đầu đời, vòng tay âu yếm đầu đời, nụ hôn đầu đời chưa bao giờ thất lạc trong tâm trí NSUT Đoàn Quốc. Vợ anh, họa sĩ Tạ Kim Dung thấu hiếu nỗi day dứt nơi chồng. Chị khích lệ chồng in tập thơ mà trong đó có nhiều bài anh viết cho mối tình bất tử của mình.


Mối tình đó, cách nào đó, cũng đã khiến anh sống mạnh mẽ hơn, sống tử tế hơn, bền sức sáng tạo hơn và tiếp tục vượt qua tuổi tác, vượt qua thương tật, anh lặng lẽ góp tài sức cho công việc giảng dạy đào tạo những nhà quay phim tương lai. Với 40 năm cầm máy quay, trải nghiệm qua các thể loại thời sự, phóng sự tài liệu, phim truyện. Đó là vốn quý đầy kinh nghiệm giúp NSUT Đoàn Quốc tham gia giảng dạy nhiều khóa quay phim. Ở tuổi hơn bảy mươi, NSUT Đoàn Quốc vẫn đứng lớp, vẫn đưa sinh viên đi thực tế ghi những khung hình cho các thể loại phim. Với 8 khóa học mà NSUT Đoàn Quốc trực tiếp giảng dạy ở Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh TP.HCM đã có nhiều sinh viên giờ đã là những nghệ sĩ quay phim chuyện nghiệp, thành danh. Nhiều học trò của NSUT Đoàn Quốc có nhiều tác phẩm đã nhận được giải thưởng quốc gia và quốc tế trong các kỳ liên hoan phim. Đây vừa nguồn khích lệ vừa là niềm hạnh phúc của một người thầy đã “truyền nghề” cho đội ngũ quay phim trẻ, không chỉ là kỹ năng, lòng đam mê nghề nghiệp mà còn đầy trách nhiệm với con người và cuộc sống.


Và cách nào đó, các nhà quay phim trẻ hôm nay sẽ tiếp tục làm tiếp phần việc dở dang mà nhiều đồng nghiệp NSUT Đoàn Quốc đã ngã xuống trên trận địa, những nhà quay phim chiến trường, những con người quả cảm, đã đóng góp nhiệt huyết, tài năng, máu xương và cả tính mạng cho cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc.


Bích Ngân.


Ảnh do NSUT Đoàn Quốc cung cấp:


1. Nhà quay phim Đoàn Quốc với nhà văn nhà báo người Pháp Madeleine Riffaud tại chiến khu miền Đông Nam bộ, năm 1964.


2. Nhà quay phim Đoàn Quốc với nhà báo Liên Xô Ivan Sadrop tại chiến khu miền Đông Nam bộ.


3. Nhà quay phim Đoàn Quốc với đạo diễn Hải Ninh và diễn viên Trà Giang cùng đoàn điện ảnh Cu Ba tại Liên hoan phim quốc tế, 1972.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »