tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21049142
19.06.2017
Vũ Bằng
Nói có sách (5)


THẾ NÀO LÀ TƯ BẢN BẤT BIẾN, TƯ BẢN CỐ ĐỊNH,TƯ BẢN LƯU ĐỘNG, TƯ BẢN TẬP HỢP, TƯ BẢN TẬP TRUNG?

“Tư bản” là vốn để kinh doanh kiếm lời. Vốn này không tất nhiên phải là tiền, nhưng có thể là sức lao động, máy móc, công cụ, nguyên liệu.


Chủ nghĩa tư bản chủ trương làm cho “tư bản” mỗi ngày một lớn, quyền lực của giai cấp tư bản mỗi ngày một mạnh.


“Tư bản bất biến” là tư bản dùng để làm ra tư liệu(1) sản xuất, tự nó trong quá trình sản xuất không tạo nên sự biến đổi về lượng của giá trị.


“Tư bản biến đổi” là tư bản dùng để mướn công nhân và có thể tạo ra sự biến đổi về giá trị.


“Tư bản cố định” là tư bản biểu hiện ở nhà máy, ở máy móc, ở công cụ… Những thứ này không phải một lần sản xuất mà mòn hết, nhưng có thể dùng trong một thời gian tương đối dài, trong quá trình sản xuất vẫn giữ được hình thái cố hữu và giá trị sử dụng.


“Tư bản lưu động” là tư bản biểu hiện ở nguyên liệu, dầu mỡ, tiền thuê công nhân… Những thứ này mỗi lần sản xuất chuyển vào sản phẩm, nên mất hết giá trị sử dụng, nhưng một khi đem sản phẩm bán đi, người ta lại mua được nguyên liệu mới, dầu mỡ mới, lại thuê được công nhân.


“Tư bản tập hợp” là hiện tượng tư bản cứ lớn dần lên sau mỗi quá trình sản xuất.


“Tư bản tập trung” là kết quả của sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản, làm cho các nhà tư bản lớn nuôi các nhà tư bản nhỏ, tư bản dần dần dồn cả vào một số ít nhà tư bản bự.


Ngoài ra, còn “tư bản cho vay” tức là tư bản kinh doanh kiếm lời bằng cách cho vay lấy lãi, và “tư bản lũng đoạn” tức là tư bản của những nhà tư sản nắm độc quyền sản xuất một hay nhiều hàng hóa.


BỨC THIẾT


Trong một đoạn văn nói về văn học sử, có người đọc thấy câu sau: “Người nguyên thủy trong hoạt động sản xuất của mình, song song với yêu cầu tìm hiểu, giải thích thiên nhiên, không thể phát sinh khát vọng bức thiết cải tạo thế giới”.


“Bức thiết”, một từ thường dùng tới, có nghĩa là cần thiết lắm, gấp lắm. Thí dụ: Tăng gia năng suất trong thời kỳ chiến tranh là một nhiệm vụ bức thiết nhất của nhân dân.


Chữ “bức” đây có ý như bức trong “bức bách”, nghĩa là bắt ép, bắt ức. Bức bách là thúc giục và ép phải theo. Người ta còn thấy chữ “bức” này trong từ “bức hôn” nghĩa là ép phải lấy nhau.


Cũng nên nói thêm rằng chữ “ức hiếp” ta thường dùng còn có thể kêu là “bức hiếp”.


TÍCH CỰC VÀ TIÊU CỰC


“Tích cực” có hai nghĩa:


1) Dùng hết sức mình để làm một công việc gì cho đến nơi đến chốn. Thí dụ: Anh ta tích cực làm việc để trả cho xong món nợ tích lũy từ mấy năm nay.


2) Công tác có tác dụng xây dựng, trái với tiêu cực. Thí dụ: Mặt tích cực của một vấn đề.


“Tiêu cực” có ý nghĩa trái hẳn với tích cực. Tiêu cực còn dùng để nói về thái độ thụ động, tránh đấu tranh.


Thí dụ: Từ khi anh ta bị sai lầm, anh ta giữ thái độ tiêu cực, chẳng giao thiệp với ai, chỉ chơi chim và cây thế.


TIÊU CHUẨN


Trong chữ tiêu chuẩn, “tiêu” có nghĩa là cái nêu, cái vật cắm làm mốc để đánh dấu địa giới, còn “chuẩn” là cái thước để làm chừng mực. “Tiêu chuẩn” là điều kiện nêu ra và được chấp thuận để làm mẫu mực. Thí dụ: Một ngàn bạc lương căn bản cho mỗi người là tiêu chuẩn lương bổng của công nhân xưởng Y.


“Tiêu chuẩn hóa” là làm ra thành mẫu mực chính xác. Thí dụ: Tiêu chuẩn hóa tiếng Việt.


Nhân đây cũng nên nói thêm rằng ít lâu nay ta cũng bắt chước ghép chữ với nhau, kiểu “tiêu chuẩn hóa” thành “lành mạnh hóa”. “Lành mạnh” là tiếng Nôm, “hóa” là chữ, ghép như thế không có phần chưa chính xác.


Ngoài từ “tiêu chuẩn” còn có danh từ “chuẩn đích”. Chuẩn đích cũng là mẫu mực phải theo. Thí dụ: Lấy tài liệu này làm chuẩn đích.


CHỦ QUAN, KHÁCH QUAN


Hai từ “chủ quan” và “khách quan” được dùng rất nhiều lâu nay, có khi thành lạm dụng.


“Chủ quan” là dựa trên nhận thức riêng của mình, có khi trúng, nhưng có khi sai vì không dựa trên thực tế khách quan. Thí dụ: Bàn về chiến tranh du kích anh X đưa ra những nhận định chủ quan quá, bị nhiều người phản đối.


Từ “chủ quan” phát sinh ra “bệnh chủ quan”. Bệnh này được nhắc nhiều từ khi XYZ viết về cách thay đổi lề lối làm việc. Bệnh này nói về khuyết điểm của những người chỉ căn cứ vào ý kiến riêng của mình, nhận xét riêng của mình mà phán đoán mọi việc và cho mình là phải.


Trái với chủ quan là “khách quan”. “Khách quan” là từ nói về thái độ nhận xét sự vật căn cứ vào sự thật ở bên ngoài, không có ý riêng của cá nhân và sự thật ấy cụ thể không ai chối cãi được. Thí dụ: Anh K. nói về vấn đề ấy hay lắm. Anh tỏ ra công bằng, ngay thẳng và có một nhận định hết sức khách quan.


Nhân nói về từ “chủ” trong chủ quan, ta cũng nên biết thêm mấy từ mới bắt đầu bằng chữ “chủ”.


“Chủ chốt”: Cốt yếu. Thí dụ: Vấn đề cốt yếu của sản xuất là vật tư và kỹ thuật.


“Chủ chiến” là chủ trương đánh nhau.


“Chủ điểm” là đề tài chung của các bài học dạy trong một thời gian. Thí dụ: Tháng này chủ điểm bài quốc văn lớp năm là mùa xuân.


Chữ “chủ đề” cũng tương tự như chủ điểm.


Thí dụ: Kỳ này báo Văn học lấy chủ đề “Văn chương Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945”.


“Chủ hòa” là chủ trương không đánh nhau.


Thí dụ: Phe chủ hòa bên Mỹ lại rục rịch xuống đường để phản đối chiến tranh ở Việt Nam.


“Chủ não” cũng như “chủ chốt”, nhưng “chủ não” có ý nghĩa quan trọng hơn chủ chốt. Từ “chủ não” dùng để nói về bộ phận có thẩm quyền quyết định một chính sách, một kế hoạch. Từ này ngày nay ít dùng.


Sau hết, còn từ “chủ lực”. Đó là lực lượng chính, lực lượng chủ chốt “Quân chủ lực” là đội quân chủ chốt trong một lực lượng võ trang.


“NHỊ TRÙNG NỘI CÁC” LÀ GÌ?


Đọc lịch sử nước Nhật, ta vẫn nghe thấy nói tới cụm từ “nhị trùng nội các”.


“Nhị trùng nội các” là gì?


“Nhị trùng” nghĩa đen là hai lần giống nhau, hay cùng một lúc có hai tính chất.


Trong âm thanh có nhị trùng âm, tức khi phát âm phải phát ra được hai âm thanh cùng một lúc.


Trong sinh hoạt, có “nhị trùng sinh hoạt” hay “nhị trùng nhân cách” để chỉ trong một người mà có hai lối sinh hoạt hay hai thứ nhân cách đối lập nhau, như “vừa cẩn thận, vừa hoang toàng; vừa nóng nảy, vừa điềm đạm”.


“Nhị trùng nội các” cũng dựa theo định nghĩa tương tự ấy, song nó có một lịch sử riêng biệt cho nước Nhật trong suốt thời kỳ quân phiệt.


Hồi ấy, Quân Bộ Nhật Bản có một địa vị và quyền lợi rất đặc biệt. Nội các Nhật tuy vẫn giữ được tính độc lập, nhưng ở các vị Hải Lục quân đại thần, Quân lệnh bộ Bộ Trưởng, Tham mưu bản bộ Tổng trưởng, mọi việc đều trực tiếp với Thiên Hoàng, không phải qua Tổng lý đại thần (tức Thủ tướng).


Các việc quan trọng đều phải thông qua Quân Bộ. Nếu Tổng lý đại thần quyết định mà Quân Bộ không đồng ý thì quyết định ấy cũng thành vô giá trị.


Quân đội nghiễm nhiên trở thành một thứ nội các (nội các hơn nội các) nên gọi là “Nhị trùng nội các”.


THẾ NÀO LÀ TƯ SẢN DÂN CHỦ
VÀ THẾ NÀO LÀ CỘNG HÒA DÂN CHỦ


Cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 được gọi là “cuộc cách mạng tư sản dân chủ”, cuộc cách mạng của Tôn Trung Sơn, đánh đổ nhà Mãn Thanh, cũng gọi là “cách mạng tư sản dân chủ”, mặc dù so với Pháp, về mặt chính trị có nhiều điều táo bạo hơn.


Vậy nội dung của một cuộc Cách mạng tư sản dân chủ là gì? Đó là một cuộc cách mạng đánh đổ chế độ phong kiến cùng các quan hệ kinh tế phong kiến của nó (chủ yếu có quan hệ về ruộng đất) để xây dựng một nền tảng kinh tế, kỹ nghệ, do giai cấp tư sản lãnh đạo. Nói theo từ chính trị thì đó là cuộc cách mạng giải phóng cho nền kinh tế tư sản.


Bất cứ một nước chậm tiến nào, muốn tiến lên kỹ nghệ hóa cũng phải trải qua cuộc vận động cách mạng ấy.


Ngay ở Nga, trong quá trình kiến thiết chủ nghĩa xã hội của họ, cũng phải có một giai đoạn phát triển kinh tế tư bản, tức những nhà tư bản trong nước tham gia một phần lãnh đạo kinh tế. Thời kỳ ấy của Nga được gọi là thời kỳ “tân kinh tế chính sách” (từ 1915 đến 1931).


Tại các nước nhỏ bé ở Âu châu, sau 1945, có các chính sách nhằm phát triển kinh tế tư bản tư nhân, cũng nhằm mục đích ấy.


“Tư sản dân chủ” hay “Cộng hòa dân chủ” đều là những chế độ tiến bộ so với chế độ quan lại quân chủ. Song trong lúc chế độ Tư sản dân chủ nói rõ được tính chất kinh tế trong chế độ của nó, thì chế độ Cộng hòa dân chủ bao hàm một nội dung mập mờ, không rõ rệt. Nói Cộng hòa tức là không có vua, mà chính quyền không phải của vua thì là của dân, tức dân chủ. Như vậy Cộng hòa và Dân chủ chỉ có một nội dung: Thuộc về của dân.


Trước đây, cũng có lúc người ta dùng từ ghép “Dân chủ Cộng hòa” (tức chủ quyền quốc gia thuộc số đông quần chúng) để cho khác với “Quý tộc Cộng hòa” (tức chủ quyền quốc gia trong tay lớp quý tộc, như dưới thời kỳ Hy Lạp, La Mã cũ) song nay chữ đệm “dân chủ” không cần thiết nữa.


“Trung Hoa dân quốc” trước đây, hoặc một số nước khác mặc dù không nói nội dung Dân chủ và nội dung Cộng hòa, nhưng ai nấy đều hiểu đó là những quốc gia mà quyền hành đều ở trong tay người dân và sự phát triển kinh tế đều hướng theo đường lối tư sản dân chủ.


VĂN HÓA, VĂN NGHỆ, VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT, KỸ THUẬT


Ít lâu nay, người ta hay nói đến văn hóa, văn nghệ, văn học, nhưng nhiều người không quan niệm được sự khác biệt giữa ba danh từ đó ra sao. Nhiều nhà phê bình khảo cứu đã giải thích, nhưng vẫn không được rõ ràng tinh tế lắm. Theo chúng tôi, lời giải thích của ông Việt Điểu Thái Văn Kiểm tương đối rõ ràng nhất:


Hai chữ “văn” và “hóa” đã được ghi trong Kinh Dịch: “Quan thiên văn dĩ sát thời biến, quan nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ”, nghĩa là nhìn hiện tượng trên trời để xét sự biến đổi của thời tiết, nhìn hiện tượng của người ta trong xã hội để sửa đổi thiên hạ.


Lấy riêng từng chữ mà giải thích thì “văn” là nét vẽ, nghĩa là cái thể hiện xinh đẹp ra bề ngoài. Nói đến văn, người ta nghĩ ngay đến sự trau chuốt, thanh tao điều hòa và tinh tế. Trái với Văn là Chất, nghĩa là cái gì còn để tự nhiên, chưa trau chuốt, chưa gọt giũa.


“Hóa” là biến đổi cho tốt đẹp hơn. Nói đến “hóa” người ta nghĩ đến sự cố gắng, sự cải cách, sự tiến bộ.


Như thế, Văn là một trạng thái tĩnh, còn Hóa là một trạng thái động. Tuy nhiên, hai chữ ấy ngày xưa không thấy dùng liền nhau như một thành ngữ. Trái lại chỉ thấy từ “văn minh” trong Kinh Lễ “tình thâm nhi văn minh” nghĩa là lòng cảm động càng sâu thì bề ngoài càng sáng tỏ. Trong Kinh Dịch, ở quẻ Kiền có câu: “Hiện long tại điền, thiên hạ văn minh” nghĩa là rồng hiện ra ruộng thì vẻ ngoài của thiên hạ sáng rõ.


Tiếp xúc với văn học phương Tây, người Nhật, người Tàu gặp từ “culture”, thấy mình không có từ tương đương phải lấy chữ “văn”, chữ “hóa” ghép lại mà dịch từ “culture” của Tây phương. Từ “văn hóa” khai sinh từ đó.


Theo các sách từ điển của Tàu như Từ Hải, Từ Nguyên thì “Văn hóa là cái tổng hợp những thành tích cố gắng của xã hội loài người tiến từ bán khai đến văn minh; những thành tích ấy biểu hiện dưới những hình thức khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, đạo đức, pháp luật, phong tục, tập quán”.


Chúng ta nhận thấy trong đời sống hàng ngày của loài người có những hoạt động về đủ các phương diện: Chính trị, khoa học, kinh tế, nghệ thuật, đạo đức, tôn giáo v.v… “Văn hóa” chính là não tủy, là cái tinh thần đã sáng tạo ra các trạng thái và sự kiện ấy, và cũng vì năng lực sáng tạo ấy mà nó có sức hướng dẫn, ảnh hưởng và chi phối rất chặt chẽ đến đời sống và mọi hoạt động của con người, bao trùm cả phương diện tinh thần lẫn vật chất, nhưng nó không phải là bản thân của những trạng thái và sự kiện ấy.


Nói tóm lại, Văn hóa gồm có hai ngành chính:


Văn tức là văn học (les lettres) và nghệ thuật (les arts) nói chung là văn nghệ.


Hóa tức là khoa học (les sciences) và kỹ thuật (les technicques).


Văn học đưa ta đến Thiện, nghệ thuật đưa ta đến Mỹ, khoa học đưa ta đến Chân, kỹ thuật đưa ta đến Tiến.


Có nhiều người lầm lẫn trong việc sử dụng từ “văn học” và “văn hóa”. Chỉ một người học giỏi mà nói “anh đó văn hóa cao” hay ăn một bữa cơm ngon mà nói “văn hóa khá lắm” thì không đúng.


Nói một người có văn hóa (theo nghĩa tương đối) là nói một người không phải chỉ có học thức mà còn là người lễ độ, bặt thiệp, lịch sự và có nhiều kiến thức khác.


Văn học chỉ là sản phẩm tinh thần của loài người được biểu hiện bằng văn tự, là môn học về văn chương, nghiên cứu về thơ văn, thi phú v.v…


Việt Nam Văn học sử là lịch sử văn học qua các thời đại từ cổ chí kim của Việt Nam (histoire de la littérature Vietnamienne).


Cũng nên nói thêm một chút về “nghệ thuật” vì từ này được người ta nói nhiều hơn hết cả bao giờ.


Nghệ thuật bao gồm tất cả mọi hoạt động nhằm mục đích nâng cao sự thẩm mỹ. Tác động của thi ca, hội họa, điêu khắc, trang trí v.v… đều có giá trị nghệ thuật.


Cái đẹp của nghệ thuật phải tiết ra muôn vẻ, muôn màu, hầu hết do sự sáng tạo của từng cá nhân, nên có mang theo nhiều quan điểm cá nhân. Do đó, một số nghệ sĩ tán thành chủ nghĩa “nghệ thuật chí thượng” (tức nghệ thuật vị nghệ thuật). Những người này chủ trương rằng mục đích của chế tác nghệ thuật là bản thân của nghệ thuật. Nghệ thuật là kết tinh của cái Đẹp thuần túy, nó siêu việt hơn cả những cái cao thượng nhất. “Nghệ thuật chí thượng chủ nghĩa” chỉ nhằm thỏa mãn riêng cho nghệ sĩ, ngoài ra nếu nó phù hợp với tình cảm của ai thì người đó có thể chấp nhận nó, chứ nó không nhằm phục vụ mục đích nào khác. Phục vụ khác là sai với tinh thần nghệ thuật.


Có “nghệ thuật vị nghệ thuật” thì cũng có người chủ trương “nghệ thuật vị nhân sinh”, nghĩa là nghệ thuật phải theo đuổi mục đích vì sự sống của con người, phải giải quyết được các vấn đề thiết thực, đẩy mạnh lịch sử tiến hóa của nhân loại.


Hai quan điểm nghệ thuật trên đã gây nhiều tranh cãi và ngày nay mọi người đều tán thành quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh”.


Nghệ thuật không phải chỉ là kỹ thuật: Kỹ thuật chỉ những chế tác có mang một nội dung kỹ xảo thường dùng theo kết quả của các vật phẩm về kiến trúc hay về cơ khí.


Song, ngày nay đã có nhiều người dùng theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa bóng của từ “nghệ thuật” thay thế cho “kỹ thuật”, nhất là trong trường hợp sự tinh xảo của chế tác không thuộc về ngành cơ khí hay kiến trúc.


Thí dụ: Nghệ thuật của anh thợ bạc, nghệ thuật của người leo dây, nghệ thuật làm tiền (như Vũ Trọng Phụng đã viết trong cuốn Kỹ nghệ lấy Tây).


TẠI SAO LẠI GỌI LÀ “TAM ĐẠI CHÍNH SÁCH”?


Để chỉ cái gì dở, không đúng, người Việt chúng ta hay dùng tiếng “tam đại” như “chuyện tam đại” để chỉ những chuyện viển vông từ đời nào, hay “đồ tam đại” để chỉ những đồ hư hỏng, không thể dùng được nữa.


“Tam đại chính sách” là ba chính sách lớn. Cụm từ này đặt ra hồi 1917 do chủ trương của Trần Độc Tú với cuộc vận động văn học ở Trung Hoa.


Nó gồm ba điểm lớn:


1) Lật đổ văn học gọt giũa và bợ đỡ, xây dựng văn học quốc dân bình dị và trữ tình.


2) Lật đổ văn học cổ hủ và phô trương, xây dựng văn học tươi mới và thiết thực.


3) Lật đổ văn học dài dòng tối nghĩa, khó hiểu (chi, hồ, giả, dã), xây dựng văn học xã hội, sáng sủa, gãy gọn và thông thường.


Văn chương bạch thoại được phổ cập từ đó.


Ở một số nước, mỗi khi trong kế hoạch của chính phủ hay đoàn thể, có ba chính sách gì lớn, kết hợp để thực hiện một chủ trương người ta cũng bắt chước gọi tắt là “tam đại chính sách”. Vì thế “tam đại chính sách” không có một nội dung nhất định.


Từ thói quen dùng danh từ “tam đại” mà có “tam đại phát minh”, (thuốc súng, máy in, địa bàn) hoặc “tam đại kỷ luật” (kỷ luật của “Lộ quân thứ tám” gồm ba điều chính: Vâng lời cấp chỉ huy, không được lấy sợi chỉ của dân, không được bỏ việc công vì tư lợi)…


“Tam đại chính sách” khác với “tam tự chính sách”. “Tam tự chính sách” theo quan niệm của một số quốc gia là ba nguyên tắc cơ bản để xây dựng nước. Vấn đề:


1) Tự vệ: Tự bảo vệ lấy thì dân nước được tự do.


2) Tự trị: Tự cai trị lấy thì dân quyền mới được thực hiện.


3) Tự cấp: Tự cung cấp lấy thì dân sinh mới được phong phú.


ĐỘT XUẤT, ĐỘT BIẾN, ĐỘT KHỞI


Chữ “đột” đây có nghĩa là thình lình. “Đột xuất” là đưa đến, giao cho, xảy ra một cách thình lình.


Thí dụ: Công tác đột xuất.


“Đột biến” là thay đổi thình lình làm cho sự vật từ tình trạng này biến sang tình trạng khác.


Thí dụ: Anh ta có những vệt hắc lào trên người, thế rồi một hôm những vệt ấy đột biến.


“Đột khởi” là nổi lên bất ngờ.


Thí dụ: Tình hình đương yên tĩnh tự nhiên một hôm phong trào đốt xe Mỹ đột khởi ở Quy Nhơn trong kháng chiến chống Mỹ vừa qua.


“Đột kích” là đánh một cách thình lình khiến cho đối phương không kịp đối phó.


Thí dụ: Quân ta chiếm cứ của địch, chẳng có một ai, ta đương thu lượm võ khí quân trang thì địch tự nhiên đột kích vào.


“Đột nhập” là xông vào một cách bất thình lình. Thí dụ: Kẻ cướp đột nhập nhà ông X và chỉ trong mười phút cướp hết vàng bạc của ông rồi tẩu tán, cảnh binh không kịp can thiệp.


“Đột phát” là nảy sinh một cách thình lình, không ngờ.


Thí dụ: Bệnh sốt xuất huyết đột phát làm cho nhiều trẻ em lâm bệnh bác sĩ không kịp trở tay.


CỨ ĐIỂM, ĐỊA ĐIỂM, XUẤT PHÁT ĐIỂM


“Địa điểm” là nơi để thực hành một công việc gì. Từ này có tính cách rộng rãi.


Thí dụ: Địa điểm gặp gỡ, địa điểm cuộc họp.


“Cứ điểm” có tính cách quân sự. Đó là vị trí quân sự lập ra ở một nơi để làm chỗ dựa cho các vị trí khác hay để kiểm soát các vị trí khác.


“Điểm tựa”: nguyên là từ vật lý học, có nghĩa là điểm cố định xoay quanh nó sức tác động và sức cân cân bằng với nhau.


“Xuất phát điểm” là chỗ bắt đầu sinh ra việc gì, không cứ phải là quân sự.


Thí dụ: Vụ cái nhau giữa A và B là xuất phát điểm của mâu thuẫn giữa hai làng ấy.


Hay: Trong xã hội cũ, hiện thực khách quan bày ra trước mắt mọi người những cảnh tượng không tốt đẹp ảnh hưởng không hay đến cuộc sống. Những hiện tượng xấu xa, lố lăng vi phạm công lý và luân lý xã hội vì trái ngược với lý tưởng đó nên đã gây những phản ứng sắc nhọn, tinh tế. Phản ứng đó là xuất phát điểm, là cơ sở cho hư cấu(1) sáng tác nghệ thuật nhờ đó mà nhà văn đã vượt lên trên hiện thực mà phản ánh hiện thực.


ĐỘNG CƠ, HỮU CƠ, CƠ NĂNG, CƠ BẢN, CƠ SỞ


“Động cơ” là từ chung dùng để chỉ tất cả những khí cụ dùng để biến những năng lượng như nhiệt điện thành ra công. Do đó “động cơ” có nghĩa là yếu tố gây ra một hoạt động.


Thí dụ: Theo các nhà nho thì các soạn giả tiếu lâm là những người bất đắc chí. Sự bất đắc chí đó là động cơ thúc đẩy họ gom góp tất cả chuyện cười dân gian lại mà cười người, cười đời.


“Hữu cơ” có nghĩa là: Có những bộ phận quan hệ mật thiết với nhau để làm cho sự vật hoạt động và tồn tại.


Thí dụ: Nghe trẻ con “bắt vần” trong lời nói đùa cợt, người ta thấy rằng nhu cầu âm điệu gắn liền một cách hữu cơ với tiếng Việt và cách phô diễn Việt Nam.


“Cơ năng” là một từ sinh vật học nói về chức phận của một bộ phận sinh vật.


“Cơ bản” là nền, gốc.


Thí dụ: Cách biểu thị ngày tháng, địa điểm trong tiếng Việt trái ngược với tiếng Trung Hoa, chứng tỏ ngữ pháp cơ bản không hề bị sự vay mượn văn hóa làm sai suyển.


Cuối cùng, cũng nên nói một chút về từ “cơ sở” (vì từ này được dùng tới luôn). “Cơ sở” là nền tảng của một tổ chức, một đoàn thể. Thí dụ: Trường Minh Thiên là cơ sở của Trung Tâm sinh ngữ. Cơ sở còn có nghĩa là chỗ dựa của lý luận, của học thuyết.


Thí dụ: Chủ nghĩa Mác Lê là cơ sở lý luận của các đảng cộng sản trên thế giới.


TÀN DƯ VÀ TÀN TÍCH


Ta thường dùng từ“tàn tích”. Chữ tàn tích thực ra chỉ dùng để chỉ những cái xấu còn sót lại.


Thí dụ: Tàn tích của thực dân phong kiến.


Muốn nói về những cái còn sót lại, không tất nhiên phải xấu, không tất nhiên phải tốt, người dùng chữ “tàn dư”. Tàn dư là những cái còn sót không cần biết xấu hay tốt.


Thí dụ: Tàn dư của công xã nguyên thủy tại nông thôn. Hay: Thơ ngụ ngôn giữ một vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh với các tàn dư của bọn phong kiến.


HÌNH THÀNH, HÌNH THỨC


“Hình thành” là từ để chỉ một sự vật hay sự việc gì đã đến lúc có đủ yếu tố cần thiết để trở nên một thực tế.


Thí dụ: Giai cấp tư sản Việt Nam hình thành sau Đại chiến thứ nhất (1914 - 1918).


Hay: Truyện cổ tích ra đời sau thần thoại và truyền thuyết, khi mà xã hội có giai cấp đã hình thành.


“Hình thức” khác hẳn “hình thành”. “Hình thức” là cách thức và khuôn khổ bên ngoài của sự vật, sự việc, khác với nội dung là cái bên trong, cái Cốt. “Chủ nghĩa hình thức” là quan niệm cho rằng chỉ có bề ngoài là đáng chú ý, còn nội dung không cần. Nói về văn nghệ, chủ nghĩa hình thức là quan niệm cho rằng nhiệm vụ của nghệ thuật là phải chú trọng đến kỹ thuật, màu sắc, cách bố cục, âm thanh mà không cần đến nội dụng.


Về chính trị, chủ nghĩa hình thức (hay bệnh hình thức) là quan niệm sai lầm của những người làm công tác mà chỉ chú ý đến bề ngoài, làm gì cũng chỉ lo lễ nghi cho long trọng, đi đâu thì xe đưa đón, vệ sĩ, “gác đờ co” theo rầm rầm, chỉ lo “lấy le” bề ngoài mà không chú tâm đến sự việc.


Cũng nên nói thêm rằng “hình tượng” không hề có nghĩa tương tự với “hình thức”. “Hình tượng” là phép tu từ dùng hình ảnh để diễn ý một cách linh động và sâu sắc.


Thí dụ: Bài văn của ông ấy giàu hình tượng (imagé).


TẠI SAO LẠI CÓ DANH TỪ SAIGON?


Sách “đất Việt trời Nam” đưa ra ba nguồn khác nhau về danh từ “Saigon”.


Saigon hoặc Sài Gòn (củi gòn) là một danh từ đã được thông dụng trong thư từ của các giáo sĩ Tây phương đến đây hồi thế kỷ thứ 18.


1) Nguồn gốc Cao Miên: Chữ Saigon phiên dịch ở chữ Preikor có nghĩa là “rừng gòn” hay là Prei Nokor (rừng của vua).


2) Nguồn gốc Trung Hoa: Saigon do hai chữ Đê Ngạn (bờ đê) mà người Quảng Đông đọc là Taigon hay Thầy Gòn. Đê Ngạn là một danh từ mà người Trung Hoa đã dùng để phiên âm hai chữ Saigon, khi họ dời bỏ Biên Hòa về Chợ Lớn năm 1778. Cũng có thể rằng người Tây phương tiếp xúc trước tiên với người Tàu trong việc thương mại nên họ đã phiên âm Tai Ngon ra Saigon chăng. Theo nhiều nhà hàng hải đã viếng Việt Nam hồi xưa như John White (1820), thành phố Saigon gồm có Bến Nghé và Đê Ngạn. Bến Nghé là Saigon nguyên thủy và Đê Ngạn là Chợ Lớn ngày nay vậy.


3) Saigon cũng viết là Tây Cống, nghĩa là nơi mà người Chân Lạp miền Tây đem phẩm vật cống hiến cho triều đình.


Vì thế bây giờ kêu “Sè Goòng”, “Thầy Gòn”, “Saigon” đều được, nhưng danh từ thông dụng nhất là Saigon.


LĂNG TÔ HAY LĂNG THÔ?


Nhân nói đến Saigon, ta cũng nên biết có một vài địa danh ở Việt Nam bị người ta kêu sai lầm. Như chữ “Lăng Tô” thật ra phải kêu là “Lăng Thô” (chữ này lấy ở chữ Tân Thuận ra)…


Mặt khác, nhiều người tưởng Cầu Ông Lãnh là cầu của Lãnh bán heo nói trong truyện cổ tích. Không phải. Ông Lãnh đây là một vị lãnh binh ngày xưa làm ra cầu này để qua lại con sông Bến Nghé. Người ta thuật rằng, ông Lãnh có tới năm vợ, mỗi bà khai thác một chợ, lấy tên là Bà Chiểu, Bà Điểm, Bà Hom, Bà Quẹo, Bà Hạt.


Cũng nên nói thêm rằng, danh từ “Vườn Bờ Rô” là do chữ Pháp “Jardin des Beaux Jeux”.


CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH, ĐƯỜNG LỐI


“Chủ trương” vừa là danh từ, vừa là động từ. Danh từ có nghĩa là kế hoạch lớn được chấp nhận để đem ra thi hành.


Thí dụ: Ân xá một số tù nhân là một chủ trương nhân đạo của Nhà nước ta.


Khi chủ trương là động từ, nó có nghĩa là ấn định, áp dụng một biện pháp để thực hiện kế hoạch.


Thí dụ: Nếu là nhà quân sự, tôi chủ trương đánh nhanh, thắng nhanh.


Định nghĩa “chủ trương” (danh từ) là một kế hoạch “lớn” vì trong chủ trương không có nội dung phương pháp thực hiện. Càng về sau, tiếng “chủ trương” càng được đem sử dụng một cách rộng rãi kể cả trong những việc lặt vặt hàng ngày.


Thí dụ: Chiều nay tôi chủ trương ăn mì, chẳng hạn.


Động từ chủ trương trong trường hợp này chỉ có nghĩa là quyết định, (tôi quyết định ăn mì), rất đơn giản vì nhanh.


“Chính sách” là một loạt những phương pháp để thực hiện chủ trương.


Thí dụ: Trong chủ trương đoàn kết dân tộc có chính sách đối với các tổ chức đoàn thể, tôn giáo…


Cho nên trong việc dùng từ, ta nên chú ý cho kỹ. Không bao giờ nên nói một cách cộc lổng: “Chính sách trung lập”, mà phải nói: “Chủ trương trung lập”.


“Đường lối” là con đường đi, cách thức phải theo để đạt tới mục đích.


Thí dụ: Đường lối chính trị của Tổng thống Nasser là cứng rắn. Để thực hiện đường lối, người ta phải áp dụng sách lược.


“Chủ trương”, “chính sách” và “đường lối” là ba vấn đề có liên quan với nhau, có cái trước cái sau, cũng như khi ta nói đến vấn đề lập trường, quan điểm và cách làm việc theo thứ tự trước sau của nó.


Khi có lập trường đấu tranh cho độc lập dân tộc thì cũng có chủ trương đoàn kết toàn dân; khi có quan điểm phân biệt bạn thù, thì cũng có chính sách tranh thủ hay liên minh các tầng lớp, khi có phương pháp vận động quần chúng cụ thể thì cũng có những đường lối cụ thể để phân công và kiểm soát công việc.


HỘI ĐÀM, THÂM ĐÀM, HÒA ĐÀM, TỌA ĐÀM, THOẠI ĐÀM


“Hội đàm” là gặp gỡ nhau để nói chuyện. Từ này rất thông dụng. Như ta thường nói: “Thủ tướng Anh Winston Churchill hội đàm với Tổng thống De Gaulle”.


“Thâm đàm” là một cuộc nói chuyện thân mật. Thâm đàm cũng có khi gọi “thâm ngôn”. Cả hai từ này không có nghĩa như nhiều người vẫn tưởng lầm là câu chuyện hay lời nói thâm hiểm, ác hại. Chữ “thâm” ở đây là sâu tận đáy lòng, là thân mật.


Từ “thâm ngôn” là một trong các danh từ mới được du nhập Việt Nam. Do đó, có người đùa giỡn bằng cách nói trại “chúng mình ngồi xuống đây thông ngôn” (thay vì thâm ngôn) với nhau một chút chơi”.


Cũng nên coi chừng từ “thông ngôn” nói đùa mãi thành quen, đến khi tìm thấy xuất xứ cũng khó lắm đấy.


“Hòa đàm” là hòa hoãn để nói chuyện với nhau, mong đến chỗ giải hòa. “Hòa đàm Balê” là một thí dụ điển hình nhất cho từ hòa đàm.


“Tọa đàm” là ngồi mà nói chuyện. Song không phải nó chỉ ngụ ý khi nói chuyện thì ngồi mà nói (vì thông thường có mấy trường hợp đứng hay nằm mà nói chuyện!) mà còn nói chuyện một cách thoải mái. Từ này được dùng để chỉ một cuộc họp mặt của một số người vừa phải cùng nhau trao đổi, thảo luận, bàn bạc một số vấn đề gì. Trong cuộc bàn bạc này, không cần có chủ tịch hay nghi thức, trật tự gì hết, xoay quanh vài vấn đề đã định, ai muốn nói gì thì nói dễ dàng như một cuộc nói chuyện, có thể vui chơi, có pha trò và nhất là rất nên điểm thêm cả đồ giải khát hay bánh kẹo.


Có thể nói các cuộc gặp gỡ nhau ở các tiệm trà, quán nước hay đình làng (trong thời kỳ kháng chiến, anh em du kích vẫn họp ở đình làng, mỗi người kể một chuyện cảm động nhất, hoặc chuyện tiếu lâm) là một hình thức thấp của tọa đàm vậy.


“Thoại đàm” (hay mạn đàm) cùng một nghĩa. Nó không phải chỉ có nghĩa đàm thoại (tức là nói chuyện) một cách chung, mà nó còn có nghĩa nói chuyện một cách thong thả.


Nó có thể bộc bạch cho nhau nghe cả những chuyện thầm kín, riêng tư. Lối nói chuyện này rất thích hợp cho việc trao đổi sự hiểu biết về nhau, giữa người trí thức và một người nông dân, giữa một người thôn quê và một người thành thị.


Vì tính chất thong thả (dịch nghĩa chữ “mạn” là chậm chậm) và tính chất không câu thúc (trong lúc nói chuyện có thể nằm được, ngồi được v.v…) mà có người chế giễu cách nói chuyện này là “màn đàm” (nói chuyện trong màn).


Tính thích trào lộng của người Việt quả là phong phú.


Sau hết, cũng nên nói qua một câu về từ “đàm phán”. “Đàm” là nói chuyện, “phán” là phán quyết. “Đàm phán” là nói chuyện với nhau để tiến tới một giải quyết ổn thỏa với nhau về một vấn đề gì đó.


ĐẠI NGÔN CÓ PHẢI LÀ NÓI LỚN?


Một từ cũng mới nữa mà có một số người hay nói là từ “đại ngôn”.


Nghĩa chữ “đại ngôn” không phải là nói to, (âm thanh lớn) mà là nói lối suy diễn, nói lối “đao to búa lớn”, nói dựa theo cảm tình chủ quan, không đúng với tình hình thực tế.


Đại ngôn cũng không có nghĩa là lời nói thay, như khi nói “đại diện” (thay mặt), “đại biểu” (người thay thế).


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







(1) Tư liệu: vật liệu để làm một việc gì, tài liệu nghiên cứu. Thí dụ: Tư liệu kiến trúc, tư liệu lịch sử.




(1) Hư cấu: dựng ra, tạo ra theo sự tưởng tượng. Thí dụ: nhà tiểu thuyết tất phải hư cấu.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »