tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19286591
04.04.2017
Hà Minh Đức
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4)



Những nhà văn viết về Hà Nội


Hà Nội là một đề tài lớn và lâu dài của văn hóa văn nghệ suốt trường kỳ lịch sử dân tộc. Từ đầu thế kỷ 20 trong quá trình hình thành các đô thị ở Việt Nam mà tiêu biểu nhất là thủ đô Hà Nội, nhiều văn nghệ sĩ đã hưng phấn và nhiệt tâm viết về Hà Nội. Thời kỳ 1930-1945, trong khoảng mười lăm năm phát triển và cùng nhiều biến động, tác phẩm viết về Hà Nội chịu sự tác động trực tiếp của thời cuộc chính trị.


Thành phố Hà Nội phát triển nhanh chóng từ đầu thế kỷ XX với tư cách là thủ đô quốc gia. Năm 1911 một số công trình lớn như cầu Long Biên (cầu Doumer), Nhà hát lớn Hà Nội, Đại học Hà Nội, Tòa án, nhà ga Hà Nội và một số công trình tiêu biểu khai trương xây dựng. Rạp hát, rạp chiếu phim, các câu lạc bộ nghệ thuật thu hút nhiều lớp công chúng nhất là thanh niên. Hà Nội cũng có sự phân lập rõ rệt qua người giàu và nghèo tạo nên nhiều mâu thuẫn xã hội. Trong văn học cũng hình thành nhiều nhóm phái, văn đoàn theo những hệ tư tưởng và quan điểm trái chiều. Có thể kể đến nhóm Tự lực văn đoàn gồm các thành viên Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo, Thế Lữ, Tú Mỡ, Xuân Diệu và sau này là Trần Tiêu. Tự lực văn đoàn có công đặt nền móng cho văn xuôi hiện đại, với các loại tiểu thuyết, truyện ngắn, các loại ký. Tự lực văn đoàn đã có ý thức nâng nghệ thuật văn xuôi phát triển với chuẩn mực trong quỹ đạo thời hiện đại. Về nội dung các tác phẩm vẫn hướng vào tầng lớp trên có phần cách biệt với đời sống chung của xã hội. Phần đóng góp cần được ghi nhận là tinh thần phê phán lễ giáo phong kiến, đấu tranh cho quyền tự do cá nhân chủ yếu là trong quan hệ hôn nhân gia đình. Hình ảnh những nam nữ thanh niên như Mai trong Nửa chừng xuân, Loan trong Đôi bạn của Nhất Linh tiêu biểu cho những thanh niên đấu tranh cho tự do cá nhân trong quan hệ luyến ái, hôn nhân. Trong Tự lực văn đoàn, Thạch Lam có những đóng góp riêng hướng về cuộc sống chung giàu ý nghĩa xã hội. Những nhân vật thuộc tầng lớp trung lưu, những viên chức,học sinh, sinh viên với những hoàn cảnh và số phận riêng. Đặc biệt tác phẩm Hà Nội ba mươi sáu phố phường là tập ký có giá trị góp phần ghi nhận và tôn vinh những nét tinh tế, những màu sắc riêng của người Hà Nội trong cuộc sống bình dị và gần gũi đáng yêu. Ngoài nội dung miêu tả, điều đáng quý nhất của Thạch Lam là những suy nghĩ sâu sắc và tình cảm yêu mến chân thành của Thạch Lam với Hà Nội: “Người Pháp có Paris, người Anh có Luânđôn, người Tàu có Thượng Hải. Trong các sách vở họ nói về thành phố của họ một cách tha thiết, yêu mến. Ta hãy nghe người Pháp nói đến Paris, người Paris nói lên được sự yêu quý ấy đến mức nào. Chúng ta cũng có Hà Nội một thành phố với nhiều vẻ đẹp, vì Hà Nội đẹp thật(chúng ta chỉ còn tìm những vẻ đẹp ấy ra) và cũng vì chúng ta yêu mến Hà Nội tấm lòng người Hà Nội cũng như người Paris yêu mến Paris. Trong những cuộc phiếm du, ngoài những phố Hà Nội là những thứ vô song của thành phố với những thú vui những cảnh lầm than, những cảnh người Hà Nội cũng như ta. Hà Nội có một sức quyến rũ với các người ở nơi khác[1]”. Nghĩ như thế và Thạch Lam đã làm như thế với những trang sách đẹp của một nhà văn Hà Nội. Hoàng Đạo cũng có nhiều trang viết chính luận sắc sảo trên cơ sở những tư liệu xã hội hấp dẫn. Tự lực văn đoàn với những tác phẩm mang nhiều màu sắc lãng mạn và cũng sớm nhường vị trí trên văn đàn cho khuynh hướng văn chương hiện thực. Thời kỳ 1936-1939 là giai đoạn phát sinh các cuộc đấu tranh giai cấp bộc lộ rõ rệt. Các nhà văn Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao với những kiệt tác Tắt đèn, Bước đường cùng, Chí phèo đã đưa vấn đề nông dân lên đỉnh cao của văn đàn. Nam Cao với Sống mòn, Nguyên Hồng với Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu phần nào đã chạm vào vấn đề thành thị ở một góc nhìn,một góc độ nào đó. Phải nói người gánh vác chính về đề tài Hà Nội lúc này là Vũ Trọng Phụng người lăn lộn với phố phường Hà Nội với đủ loại người từ giàu có, nghị viên, tư sản cho đến thợ thuyền, gái điếm, kẻ lừa đảo, cờ bạc. Vũ Trọng Phụng nhập cuộc với đời sống từ đáy sâu cho đến những lớp sóng cồn của thời cuộc. Cứ nhìn vào tên các cuốn sách Cạm bẫy người, Cơm thầy cơm cô, Kỹ nghệ lấy Tây, Lục xì, Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê, Lấy nhau vì tình,… đó là những bức tranh nhiều màu sắc của thành phố, chân thực, sâu sắc, không tô điểm. Các nhân vật Xuân tóc đỏ, Nghị Hách, Bà Phó Đoan vẫn còn sức sống với thời gian. Tuy gặp nhiều trắc trở trong quá trình tiếp nhận nhưng rồi cái gì nổi lên vẫn nổi. Ngay trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Vũ Trọng Phụng được dư luận văn nghệ khẳng định “Vũ Trọng Phụng không phải là cách mạng nhưng cách mạng cảm ơn Vũ Trọng Phụng”. Nhà thơ Tố Hữu vốn có cách nhìn thận trọng và cởi mở cũng phải thừa nhận: “Cho đến nay trong văn xuôi chưa ai viết bằng Vũ Trọng Phụng”. Trong dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Vũ Trọng Phụng(1912-2002). Viện Văn học tổ chức lễ kỷ niệm trang trọng. Tiến sĩ Zinoman người dịch Số đỏ ở Mỹ đã khẳng định tài năng kiệt xuất của Vũ Trọng Phụng. Ông cho rằng tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là hiện đại, điều gì Vũ Trọng Phụng nói trong tác phẩm cũng đúng với xã hội hiện tại ngày nay. Xuân Tóc Đỏ, bà Phó Đoan, ông Typn, thầy cò Min-đơ, Min toa, ông lang Tỳ, ông lang Phế, cụ cố Hồng, cô Hoàng Hôn, tiểu thư Tuyết,... đều là người một thời của Hà Nội. Giáo sư Đỗ Đức Hiếu ca ngợi những làn sóng ngôn từ của Số đỏ - đó là ngôn từ của Hà Nội. Nếu kể công phải nhận công đầu của tác phẩm viết về Hà Nội thời hiện đại thuộc về Vũ Trọng Phụng. Tô Hoài trên chặng đường tiếp theo cũng là cây bút sắc sảo về Hà Nội. Nhà văn được xưng là hàng đầu về phong tục làng quê đã miêu tả sâu sắc bản sắc của làng quê vùng ven thành và nhiều cảnh đời số phận của người dân Hà Nội. Tác phẩm Tô Hoài không phải là dòng văn trôi nổi mà lắng sâu, phát sinh từ cái gốc ngọn nguồn của cuộc sống với bản sắc riêng của nó. Tô Hoài với Chuyện cũ Hà Nội quy tụ  nhiều cảnh đời, nhiều số phận mang đặc trưng rõ nét của người dân Hà Nội, nhất là lớp nghèo sống trôi nổi, âm thầm với số phận của mình. Cách mạng tháng Tám thành công, Hà Nội cũng diễn ra những biến động lớn, những cuộc đổi đời, sự bừng sáng của hàng triệu con người đến với cuộc đời mới, từ con người vất vả, người trí thức, người giàu có và cả những người lầm đường lạc lối. Nguyễn Huy Tưởng đã nhạy cảm chớp được được thời điểm trọng yếu ấy. Từ cuộc đời nô lệ đến đất nước độc lập tự do, từ cuộc sống thanh bình vừa giành được lại bước vào cuộc chiến tranh vệ quốc. Bao nhiêu đường gãy lịch sử, bao nhiêu mâu thuẫn xã hội quy tụ về thời điểm những năm đầu cách mạng tháng Tám và năm đầu kháng chiến. Nguyễn Huy Tưởng nắm bắt những biến động lịch sử và đổi thay của người Hà Nội trong các tác phẩm Sống mãi với thủ đôLũy Hoa. Thành quả ấy là sự tiếp nối của cả quá trình viết về Hà Nội qua các thời đại xưa, chốn kinh kỳ xưa mà Vũ Như Tô là một đỉnh cao. Trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng, Hà Nội là một dòng sông lịch sử. Đêm hội Long Trì, An Tư, Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng am hiểu lịch sử Hà Nội, yêu mến từng dấu vết của Hà Nội xưa. Có lúc kinh đô như một mê cung đẹp không dễ tìm được lối vào, lối ra.


Nguyễn Đình Thi là nhà văn có nhiều đóng góp cho Hà Nội. Riêng một bản nhạc Người Hà Nội là một đỉnh cao nghệ thuật về Hà Nội kết tụ bao tinh hoa trong sáng tạo. Thơ Nguyễn Đình Thi là thơ của người Hà Nội viết về Hà Nội, đặc biệt là thơ tình. Từ nỗi Nhớ cho đến Chia tay trong đêm Hà Nội , vẫn là một giọng điệu tình cảm trân trọng, đằm thắm của tình yêu người Hà Nội. Nguyễn Đình Thi miêu tả được nhiều vẻ đẹp của cảnh sắc Hà Nội


Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội


Những phố dài xao xác hơi may


Người ra đi đầu không ngoảnh lại


Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy


Trong tiểu thuyết, những trang viết về tri thức văn nghệ sĩ Hà Nội thể hiện rõ đặc trưng của người nghệ sĩ tài hoa, yêu nghề và những nỗi đau riêng của họ trong cuộc đời cũ. Đề tài lịch sử trong kịch giàu suy nghĩ, chất chứa nhiều vấn đề của một thời và cũng là của nhiều thời.


Nói về nghệ sĩ viết về Hà Nội phải kể đến một tài năng, một nghệ sĩ chuyên biệt về Hà Nội: nhà văn Nguyễn Tuân. Con người tài hoa, kiêu kỳ ấy không phải ở nơi nào khác mà là con đẻ của Hà Nội, đặc sản của Hà Nội. Vang bóng một thời là chuyện của một thời hào hoa của văn hóa truyền thống tiêu biểu ở đất kinh kỳ. Với nghệ thuật cảm nhận và miêu tả sâu sắc, tinh tế,Vang bóng một thời được xem là tác phẩm văn xuôi đặc sắc của thời kỳ này. Nguyễn Tuân là người sành điệu trong đời và trong văn. Ông được bạn văn và bạn đọc nể trọng. Điều đáng quý nhất là ở tuổi trên sáu mươi ông đã có mặt tại Hà Nội trong những năm chiến tranh đặc biệt là những ngày giặc Mỹ dùng B52 rải thảm xuống thành phố, những lần nhà văn hỏi cung bọn giặc lái Mỹ cũng đem lại nhiều điều thú vị khi chúng bộc lộ tâm địa xấu xa và sự ngu ngốc. Tập sách Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi là một điểm sáng ghi nhận những đóng góp của Nguyễn Tuân miêu tả những kỳ tích của Hà Nội trong chiến tranh chống Mỹ. Có thể kể đến một số nhà văn khác như Hồ Phương, Lê Lựu trong văn xuôi và Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh trong thơ.


Bước sang thời kỳ đổi mới đời sống xã hội có nhiểu đổi thay nhất là khi xã hội đi vào nền kinh tế thị trường. Những chuẩn mực và giá trị trong xã hội có nhiều  đổi thay. Trong văn học những chủ đề lớn không tập trung như trước. Những vấn đề xã hội nào được xem là quan trọng hấp dẫn các nhà văn. Đồng tiền từng bước lên ngôi, đời sống cá nhân được quan tâm và xem trọng, thị hiếu trong nghệ thuật đổi thay chạy theo cái mới, cái lạ, cái hấp dẫn với nhiều cách tiếp nhận lẫn lộn. Qua nhiều giải thưởng của Hội nhà văn chưa có tác phẩm lớn viết về Hà Nội.


Hà Nội đã có bề dày lịch sử với kỉ niệm một ngàn năm Thăng Long. Hà Nội được mở rộng gấp nhiều lần diện tích vốn có. Hà Nội có nhiều vùng quê, có miền núi. Trung tâm Hà Nội ngày một chiếm lĩnh bầu trời cao với những tòa nhà lớn vài chục tầng cao sang và hiện đại. Người dân Hà Nội vẫn giữ được nhiều nét đẹp của truyền thống và cũng tiếp nhận những ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai có cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Một thủ đô hòa bình, có sức hấp dẫn nhiều bạn bè quốc tế. Tất cả là vốn quý, là niềm tự hào của đất nước và cũng là thách thức với các nhà văn trong thời kỳ hiện đại.


Đến với thơ Hà Nội là đề tài lớn hấp dẫn, mộng mơ. Khác với tiểu thuyết các tác giả lớn về văn xuôi là người Hà Nội. Nhưng với thơ Hà Nội là lộc quý đến với nhiều nhà thơ ở nhiều vùng quê khác nhau. Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh những tác giả ở miền Trung nhưng đều viết hay về Hà Nội. Một thế hệ tiếp theo là các nhà thơ thời chống Mỹ như Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ đến với Hà Nội với những trang thơ trẻ trung hòa nhập với cuộc sống. Phải có một chuyên đề về Hà Nội trong văn xuôi, Hà Nội trong thơ. Hà Nội vào thơ bằng hình ảnh, tình cảm, kỷ niệm vui buồn tuy mang tính riêng tư nhưng cũng có nhiều phần cộng hưởng chan hòa với cuộc đời chung. Nhà thơ Tố Hữu nói: “Mỗi độ xuân về thường có thơ, cảm nhận thế sự một năm qua và chào đón những mùa xuân mới đang về”. Sau bao nhiêu năm kháng chiến xa Hà Nội, nay lại trở về mừng vui sao xiết:


Hồ Gươm xanh thắm quanh bờ


Thiên thu hờn nước mong chờ bấy nay


Bây giờ đây lại là đây


Quốc kỳ đỉnh Tháp, sao bay mặt hồ


                         (Lại về- tháng 10/1954)


Về Hà Nội, Tố Hữu mỗi năm thường có thơ chào xuân với cảm hứng tươi trẻ, thiên nhiên tươi đẹp:


Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt


Nắng soi sương giọt long lanh


Nhà thơ lắng nghe những âm thanh của cuộc đời còn vất vả trong lao động. Tiếng chổi tre là bài thơ hay. Hình ảnh chị lao công “như sắt như đồng” trong những đêm quét rác:


Sáng mai ra


Gánh hàng hoa


Xuống chợ


Hoa Ngọc Hà


Trên đường rực nở


Hương bay xa


Thơm ngát


Đường ta


Nhớ nghe hoa


Người quét rác


Đêm qua


(Tiếng chổi tre- tháng 6/1960)


Trong thơ Tố Hữu về Hà Nội có hai âm thanh còn dư âm là tiếng xe điện leng keng như bầy con nít và tiếng chổi tre ca ngợi lao động.


Từ xứ Huế dịu dàng, Tố Hữu cảm nhận thấy Hà Nội trong nhiều vẻ đẹp khác nhau và duyên thầm một phẩm chất quan trọng của Hà Nội.


Xuân Diệu, Huy Cận quê gốc ở Hà Tĩnh nhưng đã có hộ tịch ở Hà Nội từ thời trước Cách mạng tháng Tám. Khi từ miền Nam ra đất Bắc, đặc biệt là Hà Nội, tác giả cảm nhận thấy một thiên nhiên đẹp của xứ Bắc, một trời đất mới của hoa lá cỏ cây. Xuân Diệu say đắm với cỏ cây hương hoa Hà Nội. Mùa hè tới những cây bàng mơn mởn lá xanh non, Xuân Diệu viết:


Lá bàng non trông ngon như ăn được


Nhìn loài hoa đẹp khoe sắc khoe hương


Nhà thơ để tâm hồn hòa trong hương sắc của hoa:


Tôi cầm nhành dạ lan hương


Trong tay đi đến người thương cách trùng


Dạ lan thơm nức lạ lùng


Tưởng như đi mãi không cùng mùi hương


Nhà thơ như ngơ ngác trước cảnh vật:


Cây sao sao lá sao sao


Sáng nay chào hỏi: Thế nào mùa thu


(Cây sao sao- 1970)


Xuân Diệu như trở về với thế giới trẻ con:


Ổi là thứ quả trẻ con ưa


Không đắt vài xu cũng đủ mua


Giá hãy trẻ con trèo hái ổi           


Thì ta ăn hết một đê vừa


(Ổi hồ Tây- 1966)


Với Chế Lan Viên, Hà Nội lại được cảm nhận ở những vĩ độ khác. Chế Lan Viên với các tập sách Ánh sáng và phù sa; Hoa ngày thường, chim báo bão đã mở rộng đề tài trên cảm hứng ngợi ca chân tình đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lấy sự vận động của tư tưởng và tình cảm của nhà thơ làm điểm tựa. Chế Lan Viên đã có những áng thơ hay về cuộc đời chung cũng như Hà Nội. Những bài thơ như Giữa tết trồng cây, Đi ra ngoại ô rất gần gũi mà có ý nghĩa sâu xa. Này đây là hình ảnh cô gái xeo giấy ở vùng quê ngoại thành Võng Thị:


Anh yêu bàn tay


Đong đưa như suối


Anh yêu bàn chân


Em dồn nhịp cối


Hỡi em xeo giấy


Em là thi nhân


Ngày mai dao ngà


Bổ đôi trang sách


Giấy ngời trinh bạch


Thơ vờn hương hoa


Là nhờ đêm nay


Từ trong hôi thối


Tay em vẫy gọi


Từng bông sen lại


Từng tờ thơ qua


(Đi ra ngoại ô)


Viết về Hà Nội thơ có một cách tiếp cận và cảm nhận riêng, miêu tả Hà Nội ở phần tạm gọi là hình nhi thượng, và sau là phần hình nhi hạ. Mỗi thể loại có những cách đóng góp riêng. Tiếp theo thế hệ những nhà thơ Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh một số nhà thơ trẻ viết về Hà Nội như Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn đã có những đóng góp riêng đặc sắc. Bằng Việt, Vũ Quần Phương là những nhà thơ của tuổi trẻ Hà Nội và gần như gắn bó suốt đời với đề tài Hà Nội. Hà Nội là đề tài lớn của hôm nay và mai sau.


 


HÀ NỘI BẢN HÙNG CA CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC


 


Thất bại đau đớn trên chiến trường miền Nam, giặc Mỹ liều lĩnh leo thang chiến tranh ra miền Bắc. Cả nước bước vào thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Ngay từ những trận đầu, các máy bay con ma Thần Sấm đã bị tổn thất nặng nề, một số giặc lái Mỹ bị bắt sống. Những máy bay Mig hiền lành đã chống chọi với kẻ thù hung hãn và giành thắng lợi. Giặc Mỹ dùng chiến dịch leo thang sát đích cuối cùng rồi lại hạ thang, rồi tiếp tục leo thang. Cho đến trận Điên Biên Phủ trên không diệt hàng mấy chục B52 gây kinh hoàng cho kẻ địch và lòng cảm phục sâu sắc của nhân dân toàn thế  giới. 


“Thăng Long phi chiến địa”, không câu nói ấy là của một thời, ngày nay Hà Nội là chiến địa, là kỳ đài, kỳ tích vinh quang của tổ quốc trong chiến đấu. Hà Nội bước vào cuộc chiến tranh với tinh thần chủ động và phong thái bình tĩnh của cuộc chiến tranh nhân dân. Các hầm trú ẩn tập thể và cá nhân đầy đủ trên đường đi. Trận địa pháo dàn trận khắp nơi. Ở các công viên có ụ súng. Ở trên các nhà cao năm bảy tầngcũng có ụ súng. Nhà thơ Lưu Quang Vũ có ý  thơ “Lên tới tầng 5 ta gặp đất”. Đất quen thuộc đắp nên ụ súng. Trên đỉnh cầu Long Biên giữa hai nhịp cầu rộng dài có ụ súng của bộ đội nhằm diệt máy bay tầm thấp. Phải bảo vệ cho được thành phố thân yêu, các cơ quan nhà nước, nhà máy điện Yên Phụ. Liễu đẹp của đường thanh niên phải chặt bớt cành cao để tránh chắn tầm ngắm của súng. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi trong bài thơ Chia tay trong đêm Hà Nội đã miêu tả cuộc chia tay đặc biệt của đôi trai gái. Trong đêm chiến tranh đi đến đâu cũng gặp cảnh chiến đấu, các nhà máy vẫn hồng ánh lửa trong ca đêm, đi vào vườn hoa gặp ụ súng và cuối cùng phải lưu luyến chia tay. Anh ôm em và ôm cả khẩu súng trường trên vai em. Có người hỏi ông trong phút quyến luyến chia tay sao lại có súng ống làm gì. Ông cười và bảo: “Cho khỏe và hợp với không khí chiến đấu”.Nói đến chiến tranh là nói đến sự chia ly xa cách, tạm biệt người thân trong gia đình, người yêu lên đường nhập ngũ. Thanh niên náo nức lên đường tòng quân. Ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, sinh viên trích máu ăn thề, thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Nhiều sinh viên lên đường ra trận. Nhiều em đã rời ghế nhà trường. Trong bài thơ Ngày mai kỷ niệm 50 năm thành lập Khoa, tôi xúc động viết:


Tôi nhớ các em


Từ mái trường ra đi


Trời đêm mịt mù khói lửa


Nhiều em không về


Trang sách ngày nào bay theo gió


Về chốn mênh mông.


Nhiều thầy giáo và sinh viên đã hi sinh như: Lê Anh Xuân, Đinh Dệ, Nguyễn Trọng Định, Chu Cẩm Phong. Các em đã để lại cho thế hệ sau những tấm gương cao đẹp. Từ chiến trường xa, nhiều em đã có những trang thơ xúc động. Nguyễn Trung Thu với bài thơ đẹp chân tình Đêm trường sơn nhớ Bác. Vũ Đình Văn làm thơ khi hành quân qua phà Long Đại, Nguyễn Trọng Định từ chiến trường xa nhớ về bát nước vối quê hương. Có những chàng lính trẻ như Hoàng Nhuận Cầm ra trận khi mùa ve đang kêu và trong đêm canh gác vẫn lắng nghe tiếng chim trên đồi chốt. Trần Tiến tức Chu Cẩm Phong, Nguyễn Trọng Định, Đinh Dệ đã anh dũng hi sinh trong chiến đấu. Các em đã làm vẻ vang cho một thế hệ. Chia ly, xa cách là chuyện của thời chiến. Trong những năm chống Mỹ sinh viên các nước xã hội chủ nghĩa học ở khoa Văn cũng phải đi sơ tán. Các anh Valériu Arténi và Christiane (Rumani), Chulung (Mông Cổ), Péka (Albani), các anh Ngọc và Hoàng (là tên đặt khi học ở Việt Nam – Lào) đều học ở khu sơ tán, khi thì ở Vạn Thọ (Thái Nguyên) khi thì ở Hiệp Hòa (Hà Nam). Có lần Christiane nói với tôi: “Em khâm phục nhưng lo lắng cho nhân dân Việt Nam. Mỹ có sức mạnh tàn bạo, đã đổ bộ lên mặt trăng”. Tôi cười và nói: “Em yên tâm, kết cục rồi sẽ tốt đẹp”. Trong số sinh viên trên nhiều anh có thời kỳ làm đại sứ Rumani, Albani, Mông Cổ ở Việt Nam.


Cuộc sống vẫn tiếp diễn, đêm đêm những con tàu vẫn từ Hà Nội đi về bốn phương, tàu chở vũ khí phủ kín bạt đen, tàu chở hành khách le lói ánh đèn. Trường Đại học Tổng hợp sơ tán ở Ký Phú- Đại Từ- Thái Nguyên. Thỉnh thoảng chúng tôi lại ra đi chuyến tàu đêm khoảng mười giờ. Tờ mờ sáng thì đến Thái Nguyên, xuống ga ăn nắm xôi lót dạ và uống nước trà nóng rồi đi xe đạp gần trưa thì tới. Mỗi lần về Hà Nội lại đảm nhiệm việc tiếp tế cho gia đình sơ tán ở vùng quê khác. Có những chuyến đi tàu vắng khách, toa lấp loáng chút ánh sáng đèn dầu. Nằm nghĩ đến gia đình, đến cuộc chiến tranh rồi bao giờ sẽ  kết thúc. Tôi nhớ mỗi lần cán bộ ở khu sơ tán về thường đông hơn, có khi khoảng vài chục người. Tàu về Hà Nội chuyển bánh lúc 6 giờ tối. Khó nhất là việc gửi xe đạp, từng người tuần tự giơ cao xe lên, người ở trên nhận và xếp gọn vào chỗ quy định. Lúc này bộ đội Trung Quốc cũng có một bộ phận sang chi viện việc đánh Mỹ. Họ thường giúp chúng tôi chuyển xe đạp lên tàu. Khi kết thúc mọi người cũng vỗ tay và hô “Khủ chủ xỉ oan xế”(Hồ Chủ tịch muôn năm) và “Mao chủ xỉ oan xế” rồi vỗ tay và giơ tay chào thân thiết. Duyên nợ với chuyện đi tàu hỏa chưa hết.


Khổ nhất là vào dịp tết, tàu đông khách phải chen chúc chờ đợi để về thăm quê nhà. Toa khách, toa đen chở hàng đều chật chỗ. Tôi về thăm mẹ,mẹ nhớ con hỏi “Sao không thấy về”? - “Con đang về đây mẹ ạ, con đang trên con tàu đêm”. Tàu chở hàng không có cửa chỉ có một sợi dây thép căng ngang ở chỗ cửa. Tất cả đều đứng dựa vào nhau và điều kỳ lạ là hai chân hoặc co một chân lên như vịt ngủ. Đêm cũng qua, trời bắt đầu rạng dần, thăm mẹ được hai ngày rồi lại trở ra sống trong không khí thời chiến của Hà Nội. Sao tôi cứ bị ám ảnh với những con tàu trong đêm chống Mỹ, tuy vất vả nhưng cũng ghi nhận nhiều kỷ niệm.


Mùa hè nhà trường đại học phải cử giáo viên vào trông thi ở khu 4 vùng quê Nghệ Tĩnh. Cái đêm hôm ấy tôi gặp em ở một ga nhỏ. Linh cảm là người tử tế em nhận giữ ba lô cho tôi, và nhờ tôi lấy vé. Ga vắng vẻ mọi việc diễn ra nhẹ nhàng, trong câu chuyện tôi nhận ra em là nữ sinh Khoa Văn trường Vinh. Tàu vắng khách tôi và em ngồi đối diện ở hai đầu ghế. Tôi có dịp hỏi chuyện các thầy. Tôi chỉ cho em biết tôi là thầy dạy Sử quen biết các thầy Văn. Có điều lạ là khoa ở Vinh lúc này quy tụ toàn thầy giỏi tầm cả nước như các thầy Sử, thầy Tửu, thầy Hiến, thầy Mạnh, thầy Phi...Em thích nhất thầy Hiến, tôi hỏi vì sao, em trả lời vì thầy Hiến luôn làm cho em ngạc nhiên, tri thức, điệu bộ, ngôn từ rất lạ và thú vị. Nếu thầy Hiến khi còn sống biết được điều đó thì rất hạnh phúc. Về khuya, em nói: “Trời lạnh đấy, thầy sang ngồi với em”. Tôi lặng lẽ làm theo em.


Cũng lại chuyện tàu đêm khi hòa bình lập lại, nhà thơ Xuận Diệu kể chuyện vào nói chuyện thơ ở miền Trung, mọi người lưu luyến tiễn ra tàu. Tàu đêm vãn chỉ có một đèn dầu treo ở đầu toa. Đi được vài bước không thấy gì Xuân Diệu liền kêu to “Ai ở trong đó giúp tôi vào với”. Có tiếng đáp lại “Bác Xuân Diệu, bác ở đó chờ cháu ra đưa bác vào”. Anh bạn trẻ một lần được nghe nhà thơ nói chuyện nên thuộc giọng ra đưa nhà thơ vào. Vất vả nhưng cuối cùng được ngồi trên một bao gạo và tựa vào một bao khác. Xuân Diệu cám ơn và nghĩ cái ghế cao quý này chờ đợi dành cho nhà thơ.Và nhà văn Nguyễn Tuân thường vào Hỏa lò phỏng vấn giặc lái với những phóng sự sắc sảo. Nguyễn Tuân vẫn cho thuốc, cho bia giặc lái và nghe họ kể chuyện thất bại với giọng ảm đạm. Nguyễn Tuân chú ý đến những công việc bình dị quen thuộc nhưng nhiều ý nghĩa. Hà Nội trong chiến tranh nhưng vẫn có không khí thanh bình. Những viên đá trắng vẫn được lát dưới lòng đường phân ranh giới cho người đi lại. Hoa vẫn được chăm sóc nở đẹp trong công viên. Khi có còi báo động tất cả lại chuẩn bị sẵn sàng trách nhiệm của mỗi người. Chiến sự vẫn đang kéo dài và ngày ấy, thử thách ấy đã đến như lời tiên đoán của Hồ Chủ tịch. Cuộc chiến tranh chống Mỹ sẽ kết thúc với hành động điên cuồng của đế quốc Mỹ và chiến thắng vang dội của quân dân ta trên đất Hà Nội. Điều đau đớn không tránh khỏi của các tốp B52 rải thảm ở Khâm Thiên, An Dương với hàng trăm người thiệt mạng và kẻ thù phải trả nợ với mấy chục B52 bị hạ gục trên bầu trời Hà Nội. Vẫn còn đây những dấu vết tội ác của kẻ thù với những thân máy bay trên đất Hữu Tiệp và những nơi khác.


Giặc lái Mỹ  khi được thả trở về nước không thể không ghi nhắc những ngày chúng bị giam giữ ở khách sạn Hilton Hà Nội. Chuyện giặc lái ở khách sạn Hilton đã được báo chí nói đến nhiều. Họ được đối xử tử tế, ngày lễ tạ ơn có rượu và thịt gà quay. Có một điểm ghi nhớ là đêm giải giặc lái trên đường phố Hà Nội. Tôi đứng ở góc phố Tràng Tiền trên bờ hồ Hoàn Kiếm và quan sát đoàn giặc lái Mỹ đi qua. Mọi người giận dữ thét vang những lời phản đối. Giặc lái lặng lẽ từng bước, từng bước đi dưới đường. Không có đánh đập, xô xát hoặc ném cà chua, trứng thối như một vài nước phương Tây, chỉ có tiếng đả đảo, thậm chí có người căm giận đến phát khóc vì những đau đớn riêng. Những phi công Mỹ này trong cảnh bị giam hãm nhiều năm tỏ ra hối hận, nhớ nhà.


Trong những năm chống Mỹ, người dân Hà Nội gặp nhiều khó khăn. Các cơ quan trung ương Hà Nội đều có một vùng quê sơ tán. Nhưng nhiều gia đình Hà Nội vẫn ở lại và sinh hoạt bình thường trong hoàn cảnh có chiến tranh. Nghe còi báo động máy bay đến phần thì vào hầm trú ẩn, máy bay đi xa lại trở lại bình thường. Thành phố mất điện ở khu phố cổ, một tuần chỉ có một hai đêm có điện sáng. Cán bộ sơ tán thường về Hà Nội vào đêm có điện để thăm nhà cửa và chuẩn bị tiếp tế lương thực, thuốc men. Nhiều vùng quê sơ tán thiếu thốn trăm bề. Cuộc sống khó khăn phải tiết kiệm trong sinh hoat. Mua bán theo tem phiếu và thường xuyên phải xếp hàng mua gạo, mua thịt cá, thậm chí mua nước mắm, đậu phụ, rau quả. Xếp hàng là quy tắc, thông lệ và đạo đức. Nhà thơ Chế Lan Viên đã làm một bài thơ hay về xếp hàng. Quà bánh làm bằng gạo đều bị hạn chế và cấm. Hàng xôi vừa bán vừa bỏ chạy khi thấy cán bộ phòng thuế. Giáo sư Bùi Văn Nguyên cũng bị nhầm là cán bộ thuế khi mua xôi. Ông hỏi tôi: “Tại sao tôi đi mua xôi lại bị bà xôi kêu: “Cháu xin bác”, rồi bỏ chạy?”. Ông thường đi trên vỉa hè rón rén, lại che nửa mũ nên bị nghi là phòng thuế. Tôi góp ý cho ông là không đội mũ, đi dáng đàng hoàng và ông đã mua được xôi ăn sáng. Đầu phố Hàng Buồm, giáp Hàng Ngang có hàng chả nhái. Loại nhái được bắt về làm thịt băm nhỏ làm viên chả. Người ăn khá đông và khen ngon. Đêm đêm có hàng ngô nướng rồi sắn luộc. Những thức ăn đồng quê này có sức hấp dẫn riêng trong thời buổi khó khăn. Trong những năm chống Mỹ ở Hà Nội chế độ tem phiếu được thực hiện nghiêm nhặt. Mỗi gia đình được phát tờ tem phiếu, từng ô nhỏ có ghi số dành cho một thứ hàng được mua. Phụ nữ mới sinh con, được mua 4 hộp sữa ông Thọ, ô mua thịt chừng hai lạng một tháng cho một khẩu, ô mua dầu hỏa thắp trong những đêm mất điện. Tem phiếu ngày Tết cũng được Sở thương nghiệp tính toán kỹ quà tết cho mỗi gia đình. Riêng về gạo có sổ riêng và thành phố chú ý đến các lứa tuổi, tuổi đang trưởng thành số gạo được mua cao hơn. Riêng ngày Tết mỗi nhà được phân vài cân gạo ngon và gạo nếp. Phải giữ cẩn thận tem phiếu còn hơn giữ tiền của vì mất không được cấp lại. Có câu nói vui khi thấy một người dáng mệt mỏi nuối tiếc “Trông như người mất sổ gạo”. Tuy có tiêu chuẩn nhưng không dễ mua hàng. Phải chờ đợi hàng về, phải xếp hàng theo thứ tự.


Hàng hóa khan hiếm, nạn con phe phát triển. “Con phe” hai chữ này chỉ những người chạy hàng kiếm sống mua đi bán lại gây khó khăn cho việc mua bán của người dân. Phố Hàng Ngang có một cửa hàng bách hóa, con phe đứng ngồi chầu chực. Hàng gì chuyển về họ tranh mua, xà phòng, thuốc đánh răng, khăn mặt, bao diêm, cây nến. Có người lại nói: “con phe góp phần lưu thông hàng hóa”. Đó là cách nói vui. Hà Nội mất điện nên những ngày hè càng nóng bức có hiện tượng buổi chiều người dân thường ra ngồi mát ở vỉa hè. Một số người lại tắm ở các vòi nước công cộng. Chuyện giải khát cũng khó khăn, không có đá nên các hàng giải khát, nước mía khi có đá đều đề ngay ở cửa hiệu biển “Có đá”.


Về cuộc sống của thành phố trong chiến tranh khá ảm đảm. Quần áo nam nữ thường chỉ một màu tím than, mùa đông thì có áo bông tím than, mùa hè áo quần màu sẫm. Phụ nữ vẫn theo truyền thống là quần lụa đen, chưa có cải cách gì. Ngành thương nghiệp cung cấp hàng triệu thước lụa đen cho phụ nữ là một điều vất vả. Tôi nhớ sau những năm đầu giải phóng thủ đô, khi đó đồng chí Đỗ Mười phụ trách Bộ thương nghiệp trong một lần nói chuyện đã kêu: “Sao lại cứ phải mặc quần lụa đen. Các nước họ không sản xuất lụa đen cho phụ nữ. Phải gom lại nhiều nơi mới đủ”. Một vài năm sau, một bộ phận quan trọng nữa nhất là thanh nữdần chuyển sang mặc theo hướng âu phục.


Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không đã góp phần thắng lợi cho sự nghiệp chống Mỹ. Hà Nội lại càng thêm tự tin, tự hào về sức mạnh của quân dân thủ đô.


Tôi nhớ khi B52 bắt đầu đem bom rải thảm khu vực ngoại thành. Tôi và cháu gái Uyên lúc đó mới lên 5 tuổi. Đêm đầu hai bố con trú ở nhà ông ngoại số 3 Hàng Phèn. Ngày hôm sau thành phố phức tạp hơn, tôi đưa cháu về trú tại tầng hầm tòa nhà 19 Lê Thánh Tông. Thành phố bình tĩnh, người dân cũng bình tĩnh trong trách nhiệm của mọi người. Tối ngày hôm sau của đêm bắn pháo thứ hai tôi đưa cháu ra ngoại thành với mẹ. Không khí náo nức với tin vui chiến thắng hàng loạt, pháo đài B52 bị tiêu diệt. Quân dân Hà Nội còn bắn rơi máy bay tàng hình cánh cụp cánh xòe. Thăng Long không còn là đất phi chiến địa mà là chiến trường. Đặc biệt chiến thắng Điện Biên Phủ kết thúc cuộc chiến tranh chống Pháp, Điện Biên Phủ trên không kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh chống Mỹ như lời dự đoán của Hồ Chủ tịch.


(còn tiếp)


Nguồn: Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười. Tập Bút ký của GS Hà Minh Đức. NXB Công an nhân dân, 2016. Tác giả gửi www.trieuxuan.info







[1]Nhà xuất bản Minh Đức 3.1957.




 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
xem thêm »