tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21290838
13.03.2017
Hoài Anh
Hoàng Đạo Thúy với những trang viết về Hà Nội



Nhà văn hóa Hoàng Đạo Thúy sinh năm 1900 ở làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Thân sinh ông là cụ Hoàng Đạo Thành (vốn họ Cung) hiệu Cúc Lữ, đỗ tú tài năm 1870, cử nhân năm 1884, làm giáo thụ các phủ Quốc Oai, Hoài Đức, Đa Phúc, Thuận Thành, Từ Sơn rồi tri huyện Quế Dương, đồng tri phủ Thuận Thành, thương tá Bắc Ninh. Về hưu năm 1902. Tác phẩm có: Đại Nam hành nghĩa liệt nữ truyện, Việt sử tân ước,  Việt sử tứ tự. Mất năm 1908.


Năm 1920 sau khi tốt nghiệp Trường Sư phạm Hà Nội, Hoàng Đạo Thúy dạy tiểu học Trường Sinh Từ - Hà Nội. Đời nhà giáo của ông theo ông tự thuật có khoảng 28 năm.


Năm 1944 ông cho xuất bản cuốn Nghề thầy (Nhà xuất bản Đời Mới) với lời văn gọn, giản dị, dễ hiểu cuốn sách đã hướng dẫn cho người làm nghề thầy giáo về hầu hết những nhiệm vụ cụ thể, rèn luyện cho học sinh trong tu dưỡng xử thế, phương pháp học tập. Tác giả khẳng định người thầy giáo phải có đạo đức gương mẫu, phải làm gương cho lớp hậu tiến từ những việc nhỏ nhất trong gia đình, ở trường và ngoài xã hội. Những lời căn dặn rất thiết thực, những chỉ dẫn rất chi tiết được ông trình bày với cả một nhiệt tình phục vụ cho sự nghiệp dạy người. Ông thực sự quan tâm đến thiên chức của người thầy. Cuốn sách rất thích hợp với đại đa số giáo viên trong cả nước, nhất là ở các bậc sơ học, tiểu học.


Hoàng Đạo Thúy hoạt động trong phong trào Hướng đạo và trở thành Tổng ủy viên trưởng Hướng đạo Đông Dương. Phong trào này do Baden Powell đề xướng nhằm hướng thanh thiếu niên đi vào cuộc sống lành mạnh, phát huy được những sở trường của tuổi trẻ, tập luyện vượt những khó khăn, làm việc thiện cùng những điều công ích.


Năm 1933, Hoàng Đạo Thúy cho xuất bản cuốn tiểu luận Trai nước Nam làm gì giáo dục cho thanh niên những nội dung: Chí làm trai, sống và làm việc, lòng yêu nước yêu nhà, yêu quê hương, tỉnh táo chống các tệ nạn cám dỗ, luyện rèn ý chí… Trang đầu cuốn sách có đề mấy chữ sẵn: “Anh… tôi biết là tôi có thể nói chuyện với anh”. Cuốn sách đưa đến tay ai thì cũng có thể điền tên người ấy vào hàng để trống. Vậy là ông muốn cho cuốn sách của mình có thể đến tay những người ông kỳ vọng. Những người ấy phải là trai nước Nam. Ông nhắc nhở nước sẽ mạnh, đời sẽ đẹp vì có những thanh niên như thế.


Sách xuất bản vào giữa lúc lòng yêu nước của dân ta đang sục sôi nên bán rất chạy, chưa đầy một năm mà đã in lại tới hai lần. Sách đã có ảnh hưởng quyết định đến tâm hồn anh chị em thanh niên cả trong tổ chức Hướng đạo lẫn ở ngoài tổ chức nữa.


Hoàng Đạo Thúy là thủ lãnh phong trào này, tập hợp được nhiều huynh trưởng cầm đầu ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam như các ông Trần Duy Hưng, Phạm Ngọc Thạch, Tạ Quang Bửu, Võ Thành Minh, Tôn Thất Tùng, Trần Văn Khắc. Thời gian kháng chiến chống Pháp (1946-1954) Hướng đạo vẫn hoạt động trong hoàn cảnh mới, được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận làm hội trưởng danh dự. Có nhiều trí thức, nhiều thanh niên đã trưởng thành trong phong trào này và tất cả đều tín nhiệm mến phục anh “Hổ Sứt” (tên rừng của Hoàng Đạo Thúy) kể cả những thành viên người Pháp trong ban chỉ đạo.


Ngay từ năm 1940, Hoàng Đạo Thúy đã bắt liên lạc được với các đồng chí Hoàng Văn Thụ và Trần Đăng Ninh và tham gia Việt minh từ đó.


Tháng 6-1945, mặc dù có tin được sắp xếp làm Bộ trưởng Bộ Thanh niên của chính phủ Trần Trọng Kim, ông Thúy vẫn bị phát xít Nhật truy nã. Hai đồng chí Trần Quốc Hoàn và Hà Huy Giáp đã đưa ông Thúy lên chiến khu Tân Trào. Ở đó ông Thúy đã gặp được Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Mặc dù đã 45 tuổi, ngày 2-9-1945, ông Thúy vẫn xin được gia nhập quân đội. Ngay từ đó, ông được giao trọng trách tổ chức liên lạc từ Lạng Sơn đến Cà Mau sao cho Bộ quốc phòng nắm được mọi liên lạc quân đội được thành lập ở ngôi nhà số 16 Ri-ki-ê (nguyên là trường trẻ mồ côi của Pháp, nay là Tổng Cục Bưu điện số 18 đường Nguyễn Du - Hà Nội). Hoàng Đạo Thúy trở thành người lãnh đạo một binh chủng kỹ thuật đầu tiên trong quân đội - binh chủng thông tin và là Cục trưởng Cục Thông tin liên lạc Bộ Quốc phòng.


Sau đó ông được giao nhiệm vụ làm hiệu trưởng Trường Võ bị lục quân Trần Quốc Tuấn (sau là Trường Sĩ quan Lục quân).


Ngày khai trường 26-5-1946, Bác Hồ tới dự lễ khai giảng khóa đầu tiên và trao cho nhà trường lá cờ mang dòng chữ Trung với nước - Hiếu với dân.


Với cương vị hiệu trưởng nhà trường, Hoàng Đạo Thúy phát biểu:


“Trung và hiếu là hai đức căn bản của dân tộc ta. Trên nền nhà cũ của Trần Quốc Tuấn nay còn khắc hai chữ ấy. Trung với nước - Hiếu với cha mẹ. Cụ Chủ tịch viết cho trường chúng ta sáu chữ: “Trung với nước, hiếu với dân” chữ cũ nhưng ý mới của cụ là: “Trong khi nhà gặp nguy nan, thì cả Trung và hiếu đều phục vụ dân nước”. “Trung với nước, Hiếu với dân” là lời dặn của Hồ Chủ tịch là mệnh lệnh hành quân khắc sâu trong tim sáu chữ ấy, chúng ta lên đây học tập, đến ngày chiến đấu, lá cờ này sẽ phất trên đường của chúng ta đi. Chúng ta sẽ tô thắm màu cờ của Hồ Chủ tịch”.


Năm 1948, Bác Hồ đã tặng Hoàng Đạo Thúy một chiếc quạt giấy do nhân dân thôn Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ kính tặng Bác. Bác căn dặn: “Chú dùng cái quạt này để quạt cho phong trào lớn mạnh lên”.


Những năm sau ông được phân công phụ trách Trường Dân tộc Trung ương.


Năm 1966, ông về hưu với phong hàm đại tá. Những năm nghỉ hưu tuy tuổi đã ngoài 60, ông vẫn bền bỉ nhẫn nại viết sách về Hà Nội, về đất nước:


- Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội (1968, được giải Hội Văn nghệ Hà Nội 1969).


- Phố phường Hà Nội xưa (1974)


- Đi thăm đất nước (1978)


- Người và cảnh Hà Nội (1982, 2004 tái bản).


Trong Người và cảnh Hà Nội, Hoàng Đạo Thúy viết về những ngày Pháp mới chiếm Hà Nội “Lính mới, quan mới, dân Hà Nội đến tội. Việc gì cũng phải lên “quý quan”, “quý tòa” mà Tây không biết tiếng ta, thông ngôn nói thế nào hay thế. Bắt đầu những thầy thông này là những thầy làm với thủy quân Pháp, nên gọi là “anh te bờ rét ma rin”. Chắc rành tiếng Pháp không nhiều lắm, nhưng Pháp chẳng cần gì nhiều. Rồi các sở cũng có thông ngôn, mới làm được. Vì làm ở tòa, ở sở nên gọi là quan phán. Nhà Nguyễn bắt làm đơn bằng chữ Hán đã quen nên lại phải có ký lục. Tây gọi là “lét tờ rê” để dịch ra Quốc ngữ, rồi thông ngôn lại dịch ra tiếng Lăng sa. Thông và ký thành ra một cái trung gian bắt buộc phải dùng. Họ nói gì hay thế, hóa ra có quyền to lắm; quan cũng phải nể phải chiều. Mấy tên cũ gọi là “quan tham” thì to khiếp. Họ kiếm tiền như rác. Nói về đời sống ở Hà Nội bấy giờ, nhà văn kể:


Bạc đánh huyên thiên, thông với ký


Rượu say đảo địa khách cùng Tây


Các ảnh lúc ấy còn lại bên cạnh thông ký, cứ có vài người các chú. Đám nào cũng thấy họ xun xoe, sắc mắc, ra cái vẻ có ta đây mới xong chuyện. Nét mặt của họ như muốn nói: “Trước đây các người làm thể lệ cư trú ngặt thế, bây giờ thì biết chúng tớ”. Nhưng họ vẫn giữ phong cách lễ độ cổ truyền, vào đâu cũng lọt. Quan Tây quan ta hỏi cung tù, những người đuôi sam cũng cứ đứng chỉ chỏ. Quả là họ đã đóng một vai trò trong xã hội nhốn nháo ấy.


Thành trấn hải ở cửa Thuận An có chín mươi chín khẩu thần công. Trước đây đã đánh tan một hạm đội nước ngoài. Nhưng bây giờ súng khác rồi. Thành bị hạ ngày 23 tháng 7 năm 1883, hai tướng hy sinh, hai tướng tự tử. Triều đình đang trong cơn sốt “phế, lập” đẩy hai ông quan không có vây cánh là Trần Đình Túc và Nguyễn Trung Hợp ra giảng hòa. Đến nay cuộc bảo hộ đã thành, lại cử Trọng Hợp ra làm Khâm sai kinh lược Bắc Kỳ. Vì đã ký vào hòa ước, Pháp cho ông Bắc đẩu bội tinh hạng hai và đúc một pho tượng ông. Nhưng chắc ngượng với làng Nho, ông không đeo mề đay và bảo đem tượng đi chôn.


Đến Hà Nội, ông Hợp đặt Nha kinh lược ở nhà số 79 Hàng Gai và ở nhà số  83, bên đình Cổ Vũ, có cây đa. Thì Tây cũng đặt ngay Résidence de France (Rêdiđăng đơ Frăng-xơ) ở ngay bên kia phố nhà số 80, chỗ nhà bà Tú Trợ cũ. Nhà 80 hai gian, một lối đi, cửa lùa. Tây treo ở cửa một cái bảng tròn bằng cái mẹt với dòng chữ Résidence de France. Hai bên cửa có hai cột cờ con. Mới đến chỉ xưng là Résidence tức là “trú sứ”, quan ta  dịch ra “công sứ” cho trọng sự thể, và có vẻ là quan sứ thay mặt nước Lăng Sa… Sau này thì họ đòi triều đình nhượng hẳn Hà Nội vào năm 1888, rồi đi bước nữa, xóa chữ bảo hộ và viết trên công văn là “Thuộc địa Bắc Kỳ”. Rồi không công sứ gì cả, gọi là chủ tỉnh. Với dân, thông thường cứ thấy da trắng thì gọi là quan, nhưng nói riêng với nhau thì gọi là “thằng Tây” cả. Quan công sứ đem từ Nhật Bản về vài cái xe tay. Các quan hay đi thử. Đi thong thả, rồi bắt phi nước đại. Phi thì cũng chỉ phi từ cây bàng đình Đông Hà đến cây đa đình Cổ Vũ thôi. Đi xa hơn sẽ mất mạng. Đi xong có quan quên trả tiền, nhưng không biết tiếng Lăng Sa, anh xe sợ ra hiệu thì bị cái ba toong, đành ghếch xe bên đường.


Xe tay là việc khai hóa đầu tiên. Rồi một nhà doanh nghiệp Pháp nhập từ Hồng Kông vào 6 chiếc xe, đặt cơ sở cho một doanh nghiệp ít vốn nhất mà lãi lâu dài, sản xuất nhiều mồ hôi và nước mắt. Tám chiếc xe sắp hàng trước quý tòa. Các quan cũng thấy lạ. Bên Paris cũng chưa có hiệu xe này. Người thay ngựa đỡ tốn hơn. Thế là từ quan đến lính thay nhau, nhảy lên xe, ngồi ưỡn ngực, mồm “ếp ếp” chân dậm “mao lên, mao lên”, thỉnh thoảng đưa gót giày vào cật người kéo.


Các quan ít khi ra khỏi khu phố. Một vài người dò vào các xóm ăn mảnh, không thấy trở về. Người ta kể rằng, những tên ấy bị “ngâm tôm”. Ngoài thành có một cái chùa lớn chùa Quan Thượng. Chùa to lắm, làm từ 1842, có đến hai trăm tượng to. Cơ man nào là Phật. Người ta làm động “thập điện Diêm Vương” để răn đời, nhưng với các quan thì đây là một kho quý. Tùy các ngài, có ngài cho rằng các tượng này có một giá trị nghệ thuật đặc biệt. Đem những tượng thế này mà đặt trong một viện bảo tàng ở Paris thì đẹp lộng lẫy, lại tô thêm vinh quang cho nước Pháp, nhiều ngài thì cho là đem vài pho về bán cho hàng đồ cổ sẽ được nhiều tiền lắm đấy. Công sứ đại thần Bonnal làm một pho đẹp nhất. Lính tráng cũng mon men đến, mỗi người thó vài ông phỗng, nhét vào cái túi quần thùng thình, làm “sú vơ nia” (souvenir) khoe với bà con được về “Thắng lợi Tông keng” và khi cần, đổi thành nhiều tiền. Người Pháp vốn thích “lon” và tiếng tăm. Đến đây thì dại gì mà không thích tiền.


Đi đánh từng độ rồi cũng về nghỉ. Nghỉ thì các quan ra phố xem “dân tình”, khen phụ nữ đẹp, chỉ ngại mỗi cái “răng đen”. Khi gặp bên Nam, các quan hỏi: “Các bà đầm thế nào?”. Không biết các ông nói gì, nhưng thông ngôn dịch: “Lúy điếc, bà đầm bố cu giô ly, nhưng răng như răng chó ấy”. Âu cũng là tùy thích.


Dù sao, sau khi đi bắn giết, các quan Đại Pháp cũng thấy rằng dân này có một nền mỹ thuật. Các quan đi lùng đồ về làm quà, để kỷ niệm. Các thợ thủ công đang ế ẩm, nay có khách mua hàng thì dù có phải đút tiền “bẻo” cho bọn thông ngôn thì cũng còn kiếm được. Thế là có một loạt hàng lo làm việc  thỏa mãn các quý quan. Các quan cũng biết đẹp đấy, nhưng mỗi quan thích một kiểu khác. Có quan thích cái đẹp tinh vi của những hàng làm từ trước, có quan thích pha những nét châu Âu vào. Lại có quan có cảm tình với nghệ thuật thô kệch hay tục tằn. Các quan ngắm nghía không chán cái tranh cô bé hớ hênh hứng dừa. Các quan muốn về thì giới thiệu nền văn minh của một vùng của các quan đã “khai hóa”! Còn nói gì. Ai chẳng biết là ăn cướp. Nhưng nói “khai hóa” vẫn đàng hoàng hơn.


Từ ngày có các tướng, các chánh văn phòng thì có nhiều đầm. Váy họ quét đất. Các bà nhà mình cứ muốn hỏi xem họ làm ăn thế nào. Các quan hay đưa đầm đến phố Hàng Trống. Ở đó có những bức thêu như sống. Bức “anh hùng tương ngộ” thêu một con đại bàng đậu cành cây, một con hổ đứng cạnh tảng đá. hai con gầm gừ như cấu xé đến nơi. Lại có những diềm màn yếm bàn độc. Các khách xì xồ khen đẹp, nhưng họ lại đặt làm những khăn giải bàn. Rồi làm cũng được. Bên cạnh hàng thêu có hàng tranh. Các quan rút kính một mắt ra ngắm, khen với một vẻ thương hại, rộng bụng, bảo các bức tranh này là sản phẩm của một nghệ thuật cấp thấp. Nhưng chỉ ít lần sau là hàng tranh đông khách ngay. Các ông thợ vẽ, nắm ý khách tài lắm. Các ông vẽ nhiều tranh Tây say, trong đó có hai kiểu nhiều người mua nhất: một là “Hạ thành Hà Nội” vẽ lính thủy Pháp “phi ngựa” lấy thành. Lính thủy phi ngựa! Vẽ quả là tài. Thứ hai là tranh “Tây hôn” vẽ một võ quan Tây tay những lon là lon, đang ôm hôn một “cô Tây” son phấn quá xá, tay cô móc vào túi ông. Đúng tâm lý Lăng Sa chinh phục giỏi và “thắng lợi trên các trái tim”. Thắng lợi này cũng oanh liệt lắm sau cái thắng lợi kia.


Các quan đến ăn tiệc yến ở nhà bang trưởng, thấy nhiều đồ gỗ chạm đẹp nên rồi cũng tìm đến phố thợ chạm. Các quan khen tài nhưng cho kiểu là xấu. Đặt làm những cái búp phê chạm mái nóc đình, những ghế thì phải theo kiểu vua Lu-y mười mấy ấy! Thợ nghe chả hiểu thế nào. Họ có vua à? Đặt thì làm phải kiếm ăn mà. Thế là đẻ ra những cái ỷ, cái tủ kiểu quái lạ. Quái lạ nhất “giả cầy” là thế mà các quan lại thích.


Ở Hàng Khay có Bang Kim hay làm quen với các quan Tây lắm. Lại ở trên đường đi nên các quan đến xem đồ khảm luôn. Ấy thế mà khó. Người thợ chọn từng mảnh ốc nào ốc bể, nào ốc sông Mã, rũa sao cho mỗi tàu lá lan, mỗi cánh hoa lan, uốn  éo như thật, rũa mài từng sợi râu, sợi tóc để gắn làm bức truyền thần. Đằng này các quan lại thích những cái khay loạn màu, sặc sỡ. Thế ra cũng dễ. Không tốn công mấy mà bán chạy đáo để.


Một nghề ít khách mà lại lắm tiền là nghề làm khay và ấm chén bằng bạc chạm. Ấm chén không để uống chè mà là để bày. Khách chỉ có mấy vị quan Tây to, thửa hàng để gửi biếu các quan ở bên quý quốc, hay là vài ông chủ sau khi đã thầu được một món bở, thửa để tạ ơn các quan.


Một hạng người khá đông đảo làm với Tây nữa là “cô Tây”, sau này mới gọi là “vợ Tây”, “me Tây”. Ở phố thì người ta gọi là đĩ Tây. Một loại người nữa, có ngay bên cạnh Tây. Đó là bồi bếp. Bắt đầu chỉ là “bé con”, dùng tiếng Hồng Mao gọi là “bồi”. Bồi là chú bé làm với Tây, pha cà-phê đi chợ. Các chú thích vì được mang cái ô, được mặc cái quần thùng thình mà trước đây mơ ước. Rồi có bếp. Rồi các bà đầm dùng phụ nữ làm “chị hai” khuân vác cho đầm, bế con”…


Hoàng Đạo Thúy được giải Thăng Long năm 1994.


Ông qua đời ngày 14-2-1994 tại làng Đại Yên, quận Ba Đình, Hà Nội.


(Còn tiếp)


Nguồn: Danh sỹ Hà Nội. Tác giả: Hoài Anh. Di cảo, sẽ xuất bản.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện nhân thế đời thường, chuyện facebook - Triệu Xuân 04.12.2017
Thăng Long Hà Nội, ngàn năm Văn hiến (1010 – 2010) - Nguyễn Xuân Tư 02.12.2017
Quê mình Hà Nội – Văn viết cho tập Thơ: Kinh thành cổ tích - Nguyễn Nguyên Bẩy 02.12.2017
Về xứ Bốn Ngàn - Nguyễn Hồng Lam 27.11.2017
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
xem thêm »