tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18489968
13.03.2017
Hoài Anh
Danh sỹ Hà Nội: Hoa Bằng



Hoa Bằng tên thật là Hoàng Thúc Trâm. Sinh ngày 30-8-1902, quê quán ở thôn Yên Quyết, xã Yên Hòa, huyện Từ Liêm (nay thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội). Ông học trung học tại Trường Bưởi- Hà Nội. Hoạt động báo chí từ năm 1925, cộng tác với tờ Thực nghiệp dân báo, Trung Bắc tân văn, Nước Nam, Tri Tân, Thanh Nghị, Tao Đàn… Kháng chiến chống Pháp, ông ở lại Hà Nội bị chiếm, viết báo sách nghiên cứu lịch sử.


Tác phẩm đã xuất bản:


Quang Trung (nghiên cứu, 1943).


Dương Hậu (tiểu thuyết lịch sử, 1949).


Hồ Xuân Hương nhà thơ cách mạng (nghiên cứu, 1950).


Hán Việt Tân từ điển (biên soạn).


Tư tưởng Đại đồng trong cổ học Trung Hoa (nghiên cứu).


Trần Hưng Đạo (nghiên cứu).


Quốc văn đời Tây Sơn (nghiên cứu).


Lịch sử xã hội Việt Nam Lý Văn Phúc (nghiên cứu, 1953).


Ông là Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957).


Từ 1956 trở đi, ông tham gia biên soạn Từ điển tiếng Việt, viết cuốn Khảo luận về truyện Thạch Sanh (1958), dịch và hiệu đính những tác phẩm cổ văn: Lê quý kỷ sự, Lịch triều tạp kỷ… dịch chung với các dịch giả khác: Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, An Nam chí lược v.v… góp phần biên soạn những cuốn Lịch sử Thủ đô Hà Nội (Viện sử học), Danh nhân Hà Nội (Hội Văn nghệ Hà Nội).


Trước 1945, Hoa Bằng có bài đăng thường xuyên trên tờ Tri Tân, từ số 2 ra ngày 10-6-1941 đến khi báo đình bản ở số 2-12-1943. Chẳng hạn như các bài:


- Thử viết Việt Nam văn học sử.


- Phê bình bộ Lịch triều Hiến chương của Phan Huy Chú.


- Phong dao, chia loại và giải nghĩa.


- Nước ta có sử từ đời nào?


- Việc dịch các sách bằng Hán văn của nước ta.


- Trước khi Âu hóa, Việt văn có nhiều cái ám hợp với Pháp văn.


- Nếu cần làm sách giáo khoa, Việt ngữ đã đủ chữ, đủ tiếng.


- Từ bước tiến hóa của báo… đến những vết biến thiên của quốc văn trên trang báo.


- Tư tưởng trọng nông trong ca dao.


- Nhân đọc bản dịch “Truyền kỳ mạn lục”.


- Thể văn ngụ ngôn của ai có tự bao giờ?


- Làm thế nào biết được những câu phong dao ấy là có liên quan đến người và việc trong lịch sử nước ta.


- Trở lại vấn đề cúng người vàng, triều đại nào đã làm điều ấy trước?


- Lối văn cử nghiệp khác với lối văn ngoài trường ốc như thế nào?


- Lịch trình tiến hóa của văn học phụ nữ ta.


- Dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc phải chăng là của bà Đoàn Thị Điểm?


- Bước tiến triển và việc biến thiên của thi ca ta v.v…


Trên Tao Đàn số 9-10, ngày 16-7-1939 Hoa Bằng viết bài:


Mấy cái lầm trên trang văn học Việt Nam


“Sử liệu văn học Việt Nam, cũng như sử liệu triết học Trung Hoa, có nhiều cái giả. Nhà làm sử nếu không phê phán tinh, lựa chọn kỹ, sẽ bị lầm to! Vậy, lựa chọn sử liệu là công việc cần nhất và trước nhất của ngòi bút sử.


Tại sao sử liệu ta có lắm cái không thật, râu nọ cắm cằm kia như vậy? Vì nhiều cớ:


1. Xứ này, xứ kia, chưa biết nghề ấn loát; in sách là một chuyện lên cung trăng. Sau, tuy tìm được sách in mộc bản, song phải chậm chạp, lâu la và chật vật lắm mới khắc và in được bộ sách. Vì vậy, câu thơ, bài văn của cổ nhân làm ra phần nhiều nhờ ở tai nghe, miệng đọc mà được lưu truyền. Cái lối “khẩu truyền” này rất dễ thất thực, vì một câu chuyện rất nhỏ nhặt tầm thường, thế mà người nọ nghe người kia, khi thuật lại còn không đúng ý hoặc thêm bớt sai suyễn đi, huống chi văn thơ là món khó nhớ hơn, ai là thánh cả đâu mà thuật được đúng từng chữ, từng tiếng?


Nghề in mộc bản đã khó và hiếm, nên họa hoằn mới in được cuốn sách, còn phần nhiều, phải chép tay cả. Đã chép tay, tất có cái nạn lầm, sót.


2. Tác giả ngày xưa ít khi nhìn nhận mình là tác giả:


a. Vì khiêm nhường. Đứng trước biển học mông mênh, nhiều cụ ta xưa cũng cảm thấy “mình chỉ nhỏ xíu bằng hột cát trên bờ biển”. Bởi thế, lắm cụ  thích ẩn danh, không “dám”, hoặc không “muốn” đứng tên trong tác phẩm mình.


b. Vì mượn tiếng người xưa để truyền bá tư tưởng. Hạng người này, bác sĩ Hồ Thích gọi là tụi “thác cổ nghĩ chế”. Họ thấy mình bé mọn, sợ lời mình nói không ai tin, sách mình viết không ai đọc, bèn đổi tên người khác có danh tiếng mà đánh “lộn sòng” tác phẩm mình.


3. Mỗi khi có ông vua nào ban chiếu chuốc cầu sách vở, như đời Gia Long chẳng hạn, là một dịp tốt cho kẻ trục lợi dâng ngụy phẩm, giả thư. Cái nạn đó chính Trường Bác Cổ Hà Nội cũng không tránh khỏi! Vì người ta cứ sao bừa, chép đại văn nọ, sách kia mà nói là của cô Xuân Hương, ông Tú Xương chi chi đó, rồi đem bán cho Trường Bác Cổ để kiếm tiền.


4. Các tác phẩm quốc âm viết toàn bằng chữ Nôm, mà Nôm thì có nhiều chữ viết theo ý riêng từng người, chứ không có lệ luật nhất định. Thành thử cùng một thứ, người nọ đọc thế này, người kia đọc thế khác. Kịp khi người ta sao lục lên trên mặt sách, báo quốc ngữ không khỏi có nạn gà hóa cuốc, thau lẫn vàng! Vả, nhiều nhà làm sách quốc văn, thường hay cẩu thả trong việc thu nhặt tài liệu: hễ nghe truyền tụng được bài nào thì in luôn bài ấy; người ta nói là của ai thì tin ngay là của nấy. Nên chi trên mặt sách quốc văn, thường nhan nhản những tài liệu không đáng tin được.


Vì những cớ nói trên, văn học sử liệu ta có lắm cái không được thuần túy. Vậy, trước khi dùng, cần phải theo phương pháp khoa học mà lọc sạch đã.


Xin phê phán hai cái sử liệu sau đây làm thí dụ:


1. Lê Văn Hưu phải chăng là người thảo trước ra tập Việt điện U linh?


Trước khi phê phán xem Lê Văn Hưu có phải là tác giả sáng thảo ra Việt điện U linh tập, tôi hãy nói qua nội dung sách đó: Nó là một thứ sách chép sự tích các thần thờ ở các đền miếu: linh thiêng ra sao và được các triều đại phong sách thế nào… Từ Sĩ Nhiếp đến Nam Hải Long vương cộng 27 truyện, đều là các vị thần trước đời Trần cả.


Trong bài tự dẫn ở quyển “Tân Đính Hiệu Bình Việt Điện U Linh tập”, viết thượng tuần, mùa thu năm Giáp Ngọ niên hiệu Cảnh Hưng (1774), Hồng đô (Hải Dương) Trư Cát Thị (?), chủ bạ bộ Lễ có nói: “Tập này (chỉ sách Việt điện U linh) làm ra từ triều nhà Lý, trước do ngòi bút Lê Văn Hưu ghi chép lấy sự tích… Đời nọ qua đời kia noi theo thảo ra, hãy còn sơ lược chứ chưa đầy đủ… Kịp đến đời nhà Trần, Lý Sinh (Tế Xuyên) lại nối khúc đuôi: kiếm xa nhặt rộng góp nên sách này”.


Vậy nay ta có dám theo lời tự dẫn đó của Trư Cát Thị mà bảo Lê Văn Hưu là người thảo trước ra tập Việt điện U linh không? Không! Quyết không! Vì biết bao bản viết (manuscrits) sách đó đều có bài tựa của tác giả Lý Tế Xuyên(1) đề niên hiệu Trần Hiến Tôn Khai Hựu thứ nhất (1329), trong nói tự mình làm ra, chứ không phải dựa theo ai trước hoặc nối tiếp của ai viết:


“Nhân tùy sự thấy, nghe nông thấp của mình, góp nhặt biên thành sách này… Mong rằng nếu được bạn nào cùng chung hiếu thượng sửa chữa cho thì hay lắm!”…


Như vậy, mấy lời Trư Cát Thị nói “tập này… trước do ngòi bút Lê Văn Hưu” là lời không có căn cứ. Vì chính tác giả tập đó đã nhận của mình thì còn ai làm vào đấy nữa?”.


Trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn cũng nói Việt điện U linh là do Lý Tế Xuyên vâng theo chiếu chỉ (phụng chỉ) của vua Trần mà làm ra.


Cũng công nhận như vậy, Phan Huy Chú trong Lịch triều Hiến chương, Văn tịch chí, truyện ký loại, quyển 35 chép rõ Lý Tế Xuyên là soạn giả của sách Việt điện U linh tập.


Thế thì cái ức thuyết của Trư Cát Thị kia quyết không thể đứng vững trước những chứng cớ đã dẫn ở trên đó được nữa. Vậy nay nên cải chính: Lê Văn Hưu không phải là người thảo trước ra tập Việt điện U linh.


2. Bài thơ Bán than(1) của ai? - Nhiều nhà làm sách quốc văn gần nay vẫn trả lời: Của Trần Khánh Dư! Đó chắc vì họ nghe được bài thơ “Bán than” ở cửa miệng người đời truyền tụng, rồi thấy Trần Khánh Dư cũng làm nghề bán than, bèn yên chí là của Khánh Dư chớ không còn của ai vào đấy nữa. Vì vậy mới xảy ra cái nạn “râu ông nọ cắm cằm bà kia” như ta đã thấy nhan nhản trên mặt sách, báo quốc ngữ hiện kim!


Vậy bài thơ đó của ai? Thì đây đã có ông Nguyễn Án, tên tự là Kính Phủ, ở đời Lê Cảnh Hưng (Hiển Tôn) làm chứng:


- Một người di thần đời chúa Nguyễn đi ẩn, không xuất chính, làm nghề bán than gặp quốc lão họ Hoàng(?) kéo quân trảy. Ông Hoàng trông thấy lấy làm lạ bèn bảo làm một bài thơ bán than bằng nôm. Người kia liền ứng khẩu làm thơ đó. Ông Hoàng khen phục lắm, thưởng cho năm quan tiền quý, song người bán than không chịu nhận, lại quẩy gánh ra đi. (Coi Tang thương ngẫu lục cuốn dưới tờ 48-49).


Như vậy, nay ta phải cải chính: Bài thơ Bán than đó là của một người di thần ẩn danh chứ không phải của Trần Khánh Dư.


Không những vậy, tôi còn nhiều lý cớ để chứng rõ thêm nữa:


1. Thơ phú quốc ngữ của ta mới bắt đầu có từ Hàn Thuyên, mà Hàn Thuyên là người ở đời Trần Nhân Tôn, đồng thời với Trần Khánh Dư. Xin các bạn thử nghĩ: một thứ “Thơ mới” mới phôi thai tất phải trải qua nhiều bước vụng về, nặng nề, nệ nập, rồi mới đến thời kỳ khéo léo, chải chuốt được chớ. Một người mới xướng ra được mấy bữa, không có ai phản đối, là phúc rồi, chứ đâu lại được người ta hưởng ứng ngay, mà lại hưởng ứng được một cách tài tình, mau chóng đến thế?


Chứng cớ rõ là: đến đời Lê rồi mà thơ Nôm vẫn còn nặng chình chịch và lủng củng những chữ Nho! Ta cứ đọc ngay những bài thơ của Lê Thánh Tôn và của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì đủ biết, chứ có đâu nhẹ nhàng và ít chữ Nho được như bài thơ Bán than đó? Nếu cho bài đó là của Khánh Dư ở đời Trần, thì thật là trái ngược với trình tự tấn tới của văn học.


2. Ông Nguyễn Án ở đời Lê Cảnh Hưng, tức là đời Lê Hiển Tôn (1740-1786), mà nói chuyện ở đời gần đấy, thì chắc rõ hơn nhiều người ở đời sau ông. Vả chính ông Án còn biết nhiều thơ của người di thần đời chúa Nguyễn kia, nên mới thêm:


“Người di thần này có nhiều thơ lắm, nay không chép được đủ hết, xin hãy lục ra đây vài bài”. Thế rồi ông Án kể luôn ra bài thơ chữ nho của người kia. Vậy đủ chứng rằng ông Án biết rõ tác giả bài thơ bán than lắm.


3. Khi việc binh đang gấp rút, vua Trần Nhân Tôn cần phải bàn tính lắm việc, chắc không hơi đâu mà làm những sự tủn mủn như hạng hủ nho, bắt làm thơ tức cảnh để thử thách người. Vả ông Khánh Dư vẫn là một tay tướng tài xưa nay, hồi giặc Nguyên mới sang lần đầu đã bị ông nhân lúc hở cơ, đánh úp cho một trận liểng xiểng! Vì vậy được vua Trần Thánh Tôn khen là có trí khôn và chước khéo, lập làm con nuôi của nhà vua. Sau ông đi đánh giặc Sơn Man lại đại thắng, được phong làm chức Phiêu kỵ đại tướng quân. Cái tài của Khánh Dư như vậy chắc Trần Nhân Tôn đã thừa biết rồi, chứ có phải xa lạ gì đâu mà còn phải thử thách bằng một bài thơ, rồi mới biết được chí khí? Như vậy tôi dám chắc rằng Khánh Dư khi vào yết kiến ở Lục Đầu Giang, không phải nhờ một bài thơ làm tay giới thiệu cho vua biết đến chí khí và tài cán mình.


Coi những lý cớ nói trên, tôi lại quả quyết lần nữa rằng: Bài thơ bán than đó không phải của Trần Khánh Dư!


Vì cần phải phán đoán các sử liệu văn học cho biết cái nào là thật cái nào là giả, nên ta không thể dung thứ những cái sai lầm trong các sách báo quốc văn ngày nay được”.


Hoa Bằng qua đời ngày 5-3-1977 tại Hà Nội.


(Còn tiếp)


Nguồn: Danh sỹ Hà Nội. Tác giả: Hoài Anh. Di cảo, sẽ xuất bản.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
Những đám khói - Võ Phiến 23.03.2017
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
Mười ngày rung chuyển thế giới (11- tiếp và hết) - John "Jack" Silas Reed 15.03.2017
Hoàng Đạo Thúy với những trang viết về Hà Nội - Hoài Anh 13.03.2017
xem thêm »