tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18106887
17.02.2017
Trần Thanh Phương
Văn Cao: Chừng nào tôi bỏ rượu thì bỏ thơ luôn!



 Nhà thơ Thanh Thảo nói về rượu với Văn Cao trên số báo Văn nghệ ra ngày 16-11-2013 rằng:


Nói tới Văn Cao, ngoài những chuyện tài (năng) và tai (nạn) của ông, người ta còn hay nói chuyện Văn Cao uống rượu. Nhưng theo tôi, nói “Văn Cao uống rượu” có vẻ chưa được ổn, mà nên nói đơn giản “Văn Cao rượu”. Vì, rất nhiều lần được ngắm Văn Cao uống rượu, tôi rất ít khi thấy ông uống, mà nhiều hơn, là thấy ông ngồi thiền trước chén rượu. Lặng lẽ. Người ta nói những người uống rượu như thế là những người “mượn rượu”, không phải chuyện mượn rượu giải sầu, mà là mượn chuyện uống rượu, mượn cái không khí rượu - dù là không khí ngoài quán hay trong nhà - để ngẫm ngợi cái gì, chuyện trò tương tác những gì với bạn bè anh em, hay cô đơn du hành trong tâm trí tới những vùng xa lạ nào của tâm tưởng. Đúng là rượu gắn bó với phần lớn cuộc đời Văn Cao, nhất là trong khoảng 40 năm cuối đời ông. Nhưng vì “rượu” theo kiểu riêng của ông như vậy, nên thực ra lượng cồn chảy vào người Văn Cao không nhiều. Có những buổi Văn Cao chỉ ngồi trước độc nhất chén rượu, như thế thì rượu trong chén cũng đã nhạt hơi và theo lời khuyên của các thầy thuốc bây giờ, thì đó chỉ là cách uống rượu dưỡng sinh. Uống như thế không thể say bét nhè, càng không có chuyện không làm chủ được đầu óc để dẫn tới những điều đáng tiếc. Không phải ai cũng có cách uống rượu như vậy, vì nếu ai cũng uống theo kiểu chỉ ngồi im nhìn chén rượu (hay cốc bia) thì các hãng rượu bia phải đóng cửa phá sản từ khuya rồi! Nhưng kỳ lạ là khi Văn Cao uống rượu theo kiểu của ông với đám đàn em chúng tôi, thì cách “rượu” của ông không hề ngăn trở hay làm mất hứng bất cứ ai trong bàn rượu, dù đó là những anh chàng đang độ hảo hán coi vài ba chai sáu lăm như đồ bỏ, coi vài chục vại bia hơi như trò súc miệng. Cái nét có thể gọi là đẹp, bây giờ người ta hay gọi là “văn hóa” trong chiếu rượu của Văn Cao, là ông biết chờ bạn rượu, biết lắng nghe người khác nói, dù đó là những đứa em út, và khi tới lượt mình, thì biết nói những điều tâm huyết, biết kể chuyện đời một cách nhẹ nhàng, và tuyệt đối không khoe khoang. Nghe Văn Cao bên chén rượu nói chuyện hay kể chuyện rất thích, vì ta có cảm giác một không gian thân mật ấm cúng bao phủ cả chiếu rượu, len lách vào từng người uống rượu, và ngay khi nghe Văn Cao kể chuyện, thì những chuyện buồn, những chuyện đau đớn của ông vẫn lâng lâng. Người như thế không biết oán thù, không sân hận, nhưng bao giờ cũng biết nhớ, nhớ một cách rõ ràng, chính xác từng chuyện một xảy ra với mình trong đời. Chính vì sống như thế mà tận cuối đời Văn Cao vẫn sáng tác được những bài thơ những bản nhạc cực hay. Có một cái gì nung nấu, một cái gì tinh lọc, một cái gì chưng cất lặng lẽ như qui trình chưng cất rượu trong tâm hồn người nghệ sĩ tài ba nhưng khiêm nhường này, để “hoạt động uống rượu” của Văn Cao trở thành như một nghi lễ với riêng ông. Người ta vẫn gọi những người đạt tới “tầm” uống rượu như thế là những “tiên tửu”. Đúng Văn Cao là tác giả Thiên Thai bất tử, nhưng ông rất người thường, rất như mọi người, chứ không phải “tiên”. Bây giờ, nhiều khi ngồi uống bia hay rượu với “những người nổi tiếng” tôi thấy họ nói nhiều quá, nhất là nói về mình nhiều quá, mà lại ít những câu chuyện kể về bản thân mình khiến người ngồi cùng chiếu rượu thấy thấm thía, nghe chén rượu hay cốc bia lên hương hơn là thực chất nó có. Văn Cao đã biết làm “lên hương” mỗi chén rượu ông và bạn bè uống trong một chiếu rượu bằng cách để chén rượu mình… hả nhạt, vì rất lâu ông không nhấp môi. Nhưng chắc chi chén rượu để lâu không uống ấy đã hả nhạt. Biết đâu, trong lặng lẽ, nó đang tự dồn nén hương vị của mình, và chờ đợi. Rất biết chờ đợi.


Một nhận xét khác về tài thẩm định rượu của Văn Cao:


Nhạc sĩ Văn Cao thích và thường uống rượu ta, loại rượu “cuối lủi”. Khi có rượu ngoại, ông để dành tiếp khách.


Ông uống rượu theo kiểu nhâm nhi, từ từ, từ khi ngủ dậy đến tận quá trưa. Sau ngủ trưa, ông lại uống tiếp. Một ngày, nhạc sĩ này dùng nhiều cữ rượu. Hầu như phố nào có rượu bán, ông đều mua uống. Bởi thế, ông biết vị rượu của từng nơi.


Một lần, vừa nhấp chén rượu, ông nói ngay: “Cái này ở chỗ cửa rạp Xiếc (phố Trần Nhân Tông), hơi “mỏng”, uống tạm được!”. Lần khác, khi vừa nhấp một chút, ông nói luôn: “Cái này men Hà Đông, “gợn” nhưng mà lành!”.


Hôm khác, vừa uống một ngụm, nhạc sĩ nói nghiêm: “Còn một mẩu, mang từ chỗ cụ Xưởng, ở 127 phố Nguyễn Khuyến về đây. Êm nhưng mà chết!”.


Lúc uống rượu “Thủy Hử”, cụ Cả Vạ bán, ở Ngô Sĩ Liên, ông kêu: “Rượu Thủy Hử, nhạt dần theo năm cụ Cả Vạ quy tiên!”.


Thật là, nhạc sĩ “Tiến quân ca” uống rượu nào là nhận ra vị của rượu ấy ngay một cách chính xác, chí lý, rồi khái quát chất vị rượu đó bằng lời gọn ghẽ với từ ngữ rất khác biệt.


Trong sách “Ba phút sự thật”, nhà thơ Phùng Quán kể rằng:


Hồi còn đánh Mỹ, tôi làm việc ở Vụ Văn hóa quần chúng. Chị Băng, vợ anh Văn Cao làm ở Ban B, cùng trong ngôi nhà 51 - Ngô Quyền, Bộ Văn hóa. Hồi ấy giá gạo ngoài ở Thái Bình lên đến 3 đồng một ký. Người Thái Bình đói kéo nhau về Hà Nội ăn xin. Một buổi trưa tôi ngồi uống nước chè chén 5 xu (ghi sổ nợ) ở cái quán xế bên cửa Bộ. Chợt nhìn thấy Văn Cao cùng với Đoàn Văn Chúc - Giảng viên Trường Đại học Văn hóa vịn vai nhau, sau một chầu rượu chếnh choáng, xiêu vẹo đi ngang qua. Tôi ơi ới gọi hai anh vào uống nước, hút thuốc. Lâu không gặp Văn Cao, tôi sửng sốt thấy gương mặt anh bạc trắng như tờ giấy, hai má hóp sâu, chòm râu lơ thơ làm cho khuôn mặt anh càng thêm nhọn hoắt. Trong quán lúc này có bốn năm người khách. Họ đều nhìn anh. Và tôi biết chắc là họ không biết anh là ai.


- Anh hút thuốc lào đi. Tôi đưa điếu cày cho anh, nói với chị chủ quán: Chị cho tôi gói thuốc lào.


Văn Cao chậm rãi thông điếu, hỏi chị chủ quán:


- Thuốc lào của chị là thuốc lào Tây hay thuốc lào ta?


Chị chủ quán ngơ ngác:


- Làm gì có thuốc lào Tây ạ?


Tôi cười giải thích:


- Ý anh ấy muốn hỏi thuốc lào của chị là thuốc lào mậu dịch hay thuốc lào chui. Thuốc lào mậu dịch là thuốc lào Tây.


Chị chủ quán nói:


- Thế thì thưa ông anh, thuốc lào Tây ạ, em không có thuốc lào ta.


Một ông khách móc túi lấy gói thuốc lào bọc trong túi giấy bóng, đưa cho anh:


- Tôi có thuốc lào ta đây. Chính hiệu Tiên Lãng, mời ông ăn thử.


Văn Cao đỡ gói thuốc lào, vê một điếu bỏ vào nõ, nói với ông khách:


- “Ăn thuốc” đó mới đúng là ngôn ngữ của người ghiền thuốc lào.


Văn Cao rít một hơi tận sức, từ từ nhả khói:


- Đúng là chính hiệu Tiên Lãng, ông cho tôi xin thêm điếu nữa!


- Mời ông cứ tự nhiên.


Văn Cao hỏi tôi:


- Quán có tiền đó không, cho mình vay 5 đồng. Hai thằng từ sáng đến giờ chỉ toàn rượu suông, muốn đi ăn bát cháo.


- Em chỉ có ba đồng, anh cầm tạm.


Văn Cao bỏ tiền vào túi. Hai người đứng lên, lại vịn vào nhau, xiêu vẹo dắt nhau đi.


Ông khách cho thuốc lào ái ngại nhìn theo hai người đi khuất ở ngã tư Ngô Quyền - Trần Hưng Đạo.


- Nhìn cái nước da trắng bệch của ông ta mà tôi phát sợ. Chắc chẳng còn sống được bao lâu nữa.


Tôi hỏi ông:


- Ông có biết ông ấy là ai không?


- Không, tôi đoán là dân ở Thái Bình mới lên. Từ hôm gạo lên 3 đồng một ký, dưới đó nhiều người đứt bữa…


Tôi nói: Ông ta là người đã viết một bài hát mà mỗi lần hát lên, cả nước phải đứng nghiêm, kể cả Cụ Hồ.


Ông khách trợn tròn mắt:


- Ông ta là nhạc sĩ Văn Cao?


- Đích thị là Văn Cao!


Ông khách đang uống dở hớp nước, ngồi ngẩn ra một lúc lâu như người bị nghẹn, rồi buông lửng một câu: Thế thì còn ra thế nào nữa…!


Lát sau chị Băng từ trong cửa Bộ đi ra. Vừa nhìn thấy tôi, chị túm lấy hỏi:


- Từ sáng tới giờ anh có thấy anh Văn đi ngang qua đây không?


- Anh vừa đi cách đây hai mươi phút. Anh hỏi vay tôi năm đồng, tôi chỉ có ba đồng đưa cho anh.


- Có khổ thân tôi không! Ở nhà khách người ta đợi suốt từ sáng tới gần trưa.


- Khách ở đâu đến mà quan trọng thế? Chắc là nhà báo quốc tế đến phỏng vấn anh về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác.


Chị Băng nhăn nhó khổ sở: Khách từ Hà Giang xuống, ở Xí nghiệp chế biến chè. Họ muốn nhờ anh Văn vẽ cho cái nhãn chè. Người ta đem xuống 50 đồng với 10 gói chè loại 1 và một chai rượu ngon. Chờ mãi không được, thế là người ta đem tiền, đem chè, đem rượu đi nhờ họa sĩ khác.


Nghe chị kể tôi thầm tiếc cho anh. 50 đồng với 10 gói chè Hà Giang, và chai rượu. Chao ơi, thật đáng tiếc.


Hôm sau, gặp Văn Cao, kể lại chuyện hôm qua, hỏi anh:


- Sao anh lại bỏ dở một cái đơn đặt hàng ngon lành thế? Hay anh quên?


- Mình nhớ chứ, chỉ cần ngoạch trong nửa tiếng là có 50 đồng… Nhưng mình bỏ đi lang thang uống rượu suông với thằng Chúc và phải hỏi vay con gái.


Anh lắc đầu:


- Mình rất cần tiền và cũng vô cùng chán tiền.


Nhà văn Lý Khắc Cung kể:


Trần Hoạt là một số ít trong mấy người mở đầu cho việc hình thành nghề nghiệp đạo diễn kịch nói ở Việt Nam. Ông đã được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân ngay từ đợt đầu. Đó là một con người của Kinh Bắc. Lúc mới 8 tuổi ông đã bỏ nhà ra đi theo một gánh tuồng rồi phiêu bạt khắp Trung, Nam, Bắc. Là con người tài hoa, tận tụy, ông có công phát hiện ra nhiều tài năng sân khấu, giúp đỡ và hướng dẫn nhiều diễn viên thành tài. Trong công việc đạo diễn sân khấu, ông có cung cách làm việc và nói năng đột xuất, trái khoáy, giang hồ. Nhưng thông minh và sắc sảo. Ông rất hiểu nghiệp đời. Khi ông học tập ở nước ngoài, một số tiểu phẩm của ông được các đoàn kịch Trung Quốc sử dụng. Các đoàn kịch đủ kiểu: kịch nói, tuồng, chèo, cải lương đều đến trèo kéo ông. Ngay cả mấy đoàn ở các tỉnh xa và nghiệp dư cũng luôn mai phục để đón ông về đoàn mình. Có điều là phải luôn luôn có rượu cho ông. Ngồi đạo diễn, cạnh ông bao giờ cũng có thêm một chiếc ghế để chai rượu và chiếc chén. Ông bảo: “Không có rượu thì không làm được gì hết”.


Một lần tôi mời ông và ông Văn Cao đến nhà uống rượu. Ông Văn Cao nhận trang trí phông cảnh cho một vở kịch. Đây là hai ông bạn rượu hợp ý nhau. Hai ông cứ uống lai rai suốt từ 2 giờ chiều đến 12 giờ đêm. Họ vừa uống, vừa nói đủ chuyện trên đời. Họ bập bênh, say lại tỉnh, tỉnh lại say. Lúc nói to, lúc nói nhỏ. Có lúc cười ha hả, lúc lại đăm chiêu. Từ chén thứ hai trở đi, ông Văn Cao thường không dùng đồ nhắm hoặc dùng ít.


- Tớ cho hai cái vở kịch ấy chỉ đáng cho vào sọt rác.


- Cũng có một chút mê tít (đáng khen) đấy…


- Không, tác giả chưa vivre la vie mà mới chỉ là fréquenten la vie (chưa sống cuộc đời mà mới chỉ đi thăm cuộc đời).


- Thế mà tớ nhận làm đêco (trang trí) cho họ đấy…


- Tùy cậu.Với tớ, không sướng lắm. Vở kịch viết thật thà quá như cái kiểu bài thơ rau muống: Trong vườn có đám rau xanh. Đó là rau muống để nấu canh đấy chứ. Thế mà là thơ à? Tớ thấy tác giả không có chất “ngọc” mà chỉ toàn là gạch. Mà đã là gạch thì có nung mãi cũng chỉ là gạch… Nghệ thuật nó khó tính lắm chứ? Phải có cái thương cảm nhân thế. Phải có tấm lòng…


Tôi bảo: “Hai anh là cả một thư viện sống”. Ông Văn Cao không đồng ý và nói: “Tớ chỉ là một và rượu quốc lủi…”.


Thế rồi tôi cứ ngồi hầu rượu, chạy đi chạy lại, tiếp tế rượu và đồ nhắm. Nhưng chủ yếu là lắng nghe các ông. Nhưng các ông cũng đòi tôi phải kể lại những chuyện về rượu và tiếu lâm bên trời ấy cho các ông nghe.


- Phải bình đẳng chứ. Chúng tôi nói cho cậu nghe về chuyện của chúng tớ thì cậu cũng phải “cung” ra cho chúng tớ nghe với…


- Thu năng lượng của nhau như cái kiểu người Trung Quốc phát và thu “công lực ấy”.


Trong bữa rượu, tôi đã biết được nhiều điều ở hai ông. Nếu các ông không say khướt, thì tôi không thể nào “thó” được những câu chuyện thật hay, thật lạ mà chẳng bao giờ các ông chịu nói ra cho bất cứ ai. Đó là những câu chuyện dọc, ngang chất sống, tươi nhây nhẩy. Các ông là những người luôn thích thú và ngỡ ngàng với những điều mới mẻ, sinh động. Nhìn nhiều, nghe nhiều, đi nhiều, suy ngẫm nhiều… là những điều để giúp các ông trở nên Trần Hoạt và Văn Cao.


Trước kia, trong khoảng thời gian thời Pháp thuộc, ông Trần Hoạt đã từng làm qua nhiều nghề: Chạy cờ, bán lơ Vũ Tạo, đánh giầy, bán tranh, thầy ký, thầy dạy tiếng Pháp cho các chị em bán hoa để họ đỡ khổ, thầy giáo, diễn viên, thầy dạy đàn đáy và hát ca trù, đóng kịch, v.v… Tôi tính chừng có 30 nghề. Có dạo, ông quen một số ca kỹ phường Dạ Lạc. Một số chị em bị bắt bỏ bót (bốt cảnh sát ngày xưa) ông thương hại họ, chạy hết bót nọ đến bót kia xin cho họ được ra bằng cách bảo lĩnh, nhận làm chồng. Ông gọi đó là nghề “làm chồng thuê”. Kỳ thực, có ai thuê mà ông cũng không nhận của ai một xu nào.


Trong chừng 10 tiếng đồng hồ, hai ông đã uống rất nhiều rượu. Đến 12 giờ khuya, chị Băng đi xích lô đến đón anh Văn Cao về. Chị trách tôi đã để anh uống say. Nhưng, có trời mà ngăn được anh. Anh bảo trong khi say, trong ông nảy ra những tứ hay cho thơ, nhạc, họa. Ông có đủ cả cầm, kỳ, thi, họa, tửu. Tôi cũng phải thuê xích lô, đưa ông Trần Hoạt về nhà ở phố Lò Sũ. Ông đã quá say. Nhưng, sáng hôm sau, chừng 8 giờ, ông đã ngồi, dựng vở Bức tranh mùa gặt của Trần Vượng. Và bên cạnh ông, vẫn là chai rượu… -  Sách Văn hóa rượu.


Nhà thơ Phạm Tiến Duật nhớ lại:


Văn Cao có nhiều bạn rượu, nhưng những năm bảy mươi, tám mươi vừa qua, Văn Cao thường uống với họa sĩ Bùi Xuân Phái và họa sĩ đồ họa Lê Chính. Từ hồi ở Việt Bắc đến chặng đường mấy chục năm sau, họa sĩ Lê Chính là họa sĩ chính của Tạp chí Văn nghệ và Báo Văn nghệ cho đến lúc nghỉ hưu. Nay cụ Lê Chính hơn 80 tuổi, nhưng cũng tạm gọi là khỏe mạnh. Phu nhân của nhạc sĩ Văn Cao là cụ Băng, hồi trẻ là một người đẹp lộng lẫy đầy quý phái, đến nay vẫn đẹp. Cụ Băng còn là người chăm sóc từng ly từng tí cho tài năng của Văn Cao. Bởi vậy, nói thật, cụ rất dị ứng mỗi khi thấy họa sĩ Lê Chính xuất hiện. Lê Chính báo hiệu một cuộc rượu và nhiều khi báo hiệu một cuộc say. Thời ấy, ba người ấy có thể có tiền mua rượu, nhưng không phải lúc nào cũng đủ tiền mua đồ nhắm. Lương của cụ Lê Chính ba cọc ba đồng, còn Bùi Xuân Phái sống dựa vào cụ bà. Cụ bà Bùi Xuân Phái chạy chợ. Thằng lính ở trong rừng ra là tôi, còn trẻ và khỏe, chở Văn Cao đi chơi thì được cụ Băng tin cậy hơn chăng. Chỉ là xe đạp thôi, hồi bao cấp ấy, chúng tôi làm gì có xe máy. Đêm khuya về, nhạc sĩ Văn Cao ngồi sau chiếc xe Vĩnh Cửu của tôi. Tôi đèo Văn Cao dọc phố Lý Thường Kiệt, nhằm hướng nhà cụ ở phố Yết Kiêu. Đến ngã tư Lý Thường Kiệt - Quang Trung thì Văn Cao tự ngã vì say như thể bao bì hàng tuột dây. Tôi quẳng xe đạp xuống đất, hốt hoảng đỡ cụ. Mấy anh Công an từ bên kia đường, chắc là ngỡ tôi làm hung hoặc cướp giật của cụ già, chạy sang, súng ống sẵn sàng. Chạy đến và họ hiểu ra. Chúng tôi toàn mùi rượu. Tác giả của Tiến quân ca đứng không vững. Không để tôi cảm ơn, mấy anh Công an bảo tôi chờ, họ chạy về đơn vị đóng gần đâu đó. Một lát sau, một chiếc môtô thùng chạy tới. Tôi nhớ anh Thượng úy Công an tên Hoàng, dáng cao đẹp. Anh nói: “Đây là tài sản quốc gia, tại sao các anh lại để đi đứng thế này? Để bọn tôi chở cụ về”. Lúc tôi đạp xe đến nhà cụ thì chiếc xe Công an đã đi rồi... - Báo đã dẫn.


Còn nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý nhấn mạnh rằng:


Văn Cao là một nhạc sĩ có tài, trong ông cùng lúc luôn trào ba dòng chảy nghệ thuật: âm nhạc + thi ca + hội họa = Văn Cao. “Anh Văn” và tôi là một trong 5 nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên được Trung ương chỉ định thành lập Ban vận động Hội Nhạc sĩ Việt Nam (còn có Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước và Nguyễn Xuân Khoát). Lúc đó tôi là Thường vụ Ban chấp hành nên được phân công phụ trách nghiên cứu sáng tác lý luận và tờ Âm nhạc của Hội Nhạc sĩ Việt Nam, sau đó thêm các anh Nguyễn Xuân Khoát và Văn Cao qua hỗ trợ. “Anh Văn” minh họa và trình bày bìa, anh vẽ rất nhanh, nét vẽ phóng khoáng, có tính khái quát cao nêu bật chủ đề.


“Anh Văn” tính tình khiêm nhường, ẩn đằng sau là vẻ tự phụ rất lớn nhưng lại dễ gần gũi khác với Phạm Duy. Phạm Duy đối với những người không có tài thường tỏ vẻ khinh, ai “có cái gì đó” thì ổng mới thân. Văn Cao thì ngược lại, vì vậy mà tôi mới được dịp gần gũi “Anh Văn” dù tôi chẳng có tài cán gì.


Đêm nhạc Văn Cao tại Sài Gòn cách đây hơn 10 năm, khi tặng “Anh Văn” chai rượu, tôi đùa: “Ông này cả đời chỉ yêu thứ nhất là rượu, kế đến là vợ…”. Văn Cao cười tít mắt.


Năm 1958, Văn Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Huỳnh Văn Gấm, Nguyễn Tuân và tôi đi thực tế 6 tháng ở Điện Biên. Ông kiếm đâu được một chùm lạp xưởng rồi nhậu với rượu Tây Bắc nên bị xuất huyết dạ dày phải đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Thuần Châu (Lai Châu). Trung ương đang họp hội nghị phải hoãn lại tập trung ca mổ cho “Anh Văn”, sau ca phẫu thuật, Nguyễn Tuân được cử chăm sóc Văn Cao. Đến nửa đêm mọi người đang ngủ say bỗng nghe Nguyễn Tuân hô hoán: “Văn Cao đánh giắm rồi!”, anh em sực tỉnh giấc ôm chầm lấy nhau khóc ròng bởi người mổ dạ dày nếu đã “đánh giắm” được thì kể như thoát chết.


Nhạc sĩ Văn Thao, con trai của Văn Cao viết về cha mình nhân dịp 55 năm giải phóng thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2009): Ca khúc Tiến về Hà Nội trên tờ Văn nghệ công an, số ra ngày 5-10-2009:


Chiếc xe Uoát của Sở Văn hóa - Thông tin Thái Bình đến đón cha con tôi vào khoảng 2 giờ chiều ngày 10-10-1984. Khi xe chuyển bánh, mẹ tôi còn dặn với theo:


- Mày trông bố cẩn thận đấy. Đừng để bố uống rượu nhiều.


- Bố có nghe mẹ nói gì không?


Bố tôi cười:


- Mẹ mày đúng là giám đốc nhà trẻ Hoa Hồng…


Câu nói của ông làm mọi người cười rung cả xe.


Đoàn kịch nói Thái Bình dựng vở mới, mời ông Lộng Chương làm đạo diễn, ông Việt Hồ thiết kế ánh sáng, cha tôi (nhạc sĩ Văn Cao) thiết kế mỹ thuật. Còn tôi tháp tùng ông làm họa sĩ thể hiện.


Xe máy chạy đến đầu công viên (ngồi chưa kịp ấm chỗ), ông vỗ vai tôi:


- Mày có mang cho bố chai rượu không đấy?


Tôi giật bắn người:


- Thôi chết! Con để quên mất rồi!


Ông hừ lên một tiếng:


- Mày hại bố rồi… Con ơi!


Ông Việt Hồ bật cười, rút trong túi áo ra một chai thủy tinh dẹt:


- Đây, tôi có mang theo một chai.


Ông Lộng Chương cũng móc túi xách tay, rút ra nửa lít.


- Tôi cũng có một chai đây rồi, ông khỏi lo.


Cha tôi lắc đầu:


- Tôi sợ rằng đêm nay chúng mình không có cái uống!


Ông vỗ vỗ mấy cái vào trán rồi bật người lên:


- Mình nhớ rồi! Ở Phú Xuyên có một hàng bán rượu, qua đấy, dừng xe, ta vào làm một chai, chất nước hơi đục, nhưng được cái họ nấu bằng gạo. Rượu Phú Xuyên uống được.


Ông Việt Hồ móc túi áo ra một cái ly nhỏ, rót ra một ly đưa cho cha tôi!


- Nào chúng mình hãy uống với nhau mỗi người một ly đã. Mừng cuộc đi này thành công…


Đỡ chén rượu ông Việt Hồ đưa, nét mặt cha tôi có vẻ đăm chiêu:


- Này! Hôm nay là ngày quái gì mà suốt từ sáng đến giờ “bọn nhà đài” nó cứ phát liên tục bài “Tiến về Hà Nội” của tớ?


Đạo diễn Lộng Chương quay sang, giương mục kỉnh, mắt ông tròn xoe, ngạc nhiên nhìn cha tôi như một người từ hành tinh khác:


- Hôm nay là ngày kỷ niệm 30 năm giải phóng Thủ đô, “nhà đài” nó không phát bài “Tiến về Hà Nội” của ông thì còn ra cái quái gì nữa - Đạo diễn Lộng Chương khẽ lắc đầu - Hay thật! Tính đãng trí của bậc “nghệ sĩ nhớn” đôi khi cũng thật đáng kính nể…


Lộng Chương và Việt Hồ nhìn nhau bật cười. Tiếng cười của hai ông khùng khục, giật lên từng đợt. Mặt cha tôi dài thuỗn ra trong giây lát. Ông lúng túng đưa chén rượu lên, tợp một hơi rồi tủm tỉm buông một câu đánh trống lảng.


- Rượu này uống cũng được đấy.


Văn Cao ngó đầu nhìn qua cửa xe. Trên đường, xe đạp, xe máy, ô tô lũ lượt đi vào thành phố.


- Các ông nhìn xem, mọi người thì “Tiến về Hà Nội”, còn chúng mình lại “Tiến ra Hà Nội”.


- Nghe đâu bài “Tiến về Hà Nội” của cậu cũng gặp nhiều phiền toái lắm phải không. Cậu kể cho bọn này nghe đi - Ông Việt Hồ hỏi.


- Thôi chuyện dài lắm, xuống Thái Bình rồi mình sẽ kể cho các ông nghe - Văn Cao ắng đi, ánh mắt của ông nhìn mà không nhìn.


Bất chợt, chiếc Uoát giật lên, tiếng máy nổ có vẻ nghèn nghẹn, không đều. Cho xe đỗ lại bên lề đường, người lái xe áy náy:


- Các cụ chờ con vài phút, để con kiểm tra lại máy, rồi con lại đưa các cụ đi cho an toàn.


Người lái xe mở nắp cabô, lúi húi kiểm tra lại máy. Một cảnh sát giao thông từ bên đường tiến sang:


- Ai cho phép các anh đỗ xe ở đây! Giấy tờ đâu? Cho kiểm tra!


Người lái xe giật mình lúng túng:


- Báo cáo anh, đây là xe của Sở Văn hóa Thái Bình, em được cử lên Hà Nội đón nhạc sĩ Văn Cao, đạo diễn Lộng Chương, nghệ sĩ Việt Hồ về tỉnh công tác. Em vừa dừng xe kiểm tra lại máy một chút, mong anh thông cảm.


Người cảnh sát giao thông khoảng hơn 30 tuổi liếc mắt nhìn vào trong xe thấy “ba cụ”… Anh tiến lại ngó vào trong xe:


- Xin phép hỏi, ai là nhạc sĩ Văn Cao?


- Có việc gì đấy đồng chí công an? Tôi là Văn Cao đây.


Mắt người cảnh sát sáng lên. Anh vội vàng dập gót giày, đứng nghiêm đưa tay lên mũ chào cha tôi.


- Con nghe tiếng ông từ lâu. Hôm nay mới được gặp ông, thật vinh dự cho con quá. Con công tác ở trạm Ngọc Hồi. Tuần nào con cũng hát bài chào cờ của ông - Nói xong anh công an trịnh trọng, kính cẩn đưa cả hai tay lên nắm lấy tay cha tôi, lắc lia lịa.


- Cám ơn anh! Tôi rất vui. Đây là đạo diễn Lộng Chương, còn đây là nghệ sĩ ánh sáng Việt Hồ - Cha tôi giới thiệu.


Người công an cung kính bắt tay hai ông:


- Quý hóa quá, không ngờ hôm nay con lại có vinh dự được gặp các ông - Nói xong anh ta lại dập gót đứng nghiêm chào ba người - Con xin phép các ông, con phải đi làm nhiệm vụ. Con chúc các ông đi đường bình an…


Rồi anh quay sang người lái xe đứng cạnh đang còn ngỡ ngàng:


- Anh có thể cho xe đi! Nhớ đi cẩn thận và an toàn đấy.


Xe chuyển bánh. Cha tôi giơ tay vẫy, người công an trẻ tần ngần nhìn theo với vẻ mặt xúc động. Từ phía bên chợ Ngọc Hồi, chiếc loa truyền thanh công cộng phát ra tiếng: “Trùng trùng quân đi như sóng/ Lớp lớp đoàn quân tiến về…”.


Hơn 6 giờ chiều, chúng tôi mới về đến Sở Văn hóa Thái Bình, không có người đón. Ông Giám đốc Sở đợi lâu quá đã về nhà. Sau khi đưa chúng tôi vào “nghỉ tạm” tại nhà khách của Sở (một căn nhà cấp bốn có hành lang rộng và thoáng), anh lái xe hấp tấp đánh xe đi tìm Giám đốc Sở.


Buổi tối ở đây thật dễ chịu, không khí mát mẻ, thoáng đãng. Tôi lấy chiếc chiếu trải ra thềm. Mọi người quây quần, chuyện gẫu bên ấm trà đặc. Riêng Văn Cao vẫn uống rượu. Mất điện. Bù lại cho chúng tôi là một vầng trăng tròn vành vạnh như một cái đĩa bạc treo lửng lơ, chênh chếch giữa bầu trời đêm trong vắt. Một thứ ánh sáng dìu dịu, mát lạnh bao trùm lên không gian, thoảng đâu đó, mùi hoàng lan ngan ngát lởn vởn. Hiếm có khi chúng tôi được sống trong một không gian huyền ảo như thế này. Trong đầu tôi vọng lên tiếng hát: “Thiên thai, ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian…”.


Đêm ấy, dưới ánh trăng, bên ly rượu, Văn Cao đã thủng thẳng kể lại cho chúng tôi nghe về bối cảnh ra đời của bài “Tiến về Hà Nội”.


Anh Văn Thao lại nhớ bữa cơm tất niên của gia đình chiều 30 Tết Ất Mão (1975):


…Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, đời sống của nhân dân rất vất vả, khó khăn thiếu thốn, mọi người dân đều sống bằng tem phiếu do Nhà nước phân phối. Thời kỳ đó được gọi là thời bao cấp. Cho nên, để có ba ngày Tết được tạm gọi là tươm tất, mọi nhà dù miếng ăn chưa đủ cũng phải “bóp mồm, bóp miệng” để dành cho Tết, vì thế dân mới có câu “No ba ngày Tết nhịn đói quanh năm”. Những bữa cơm tất niên ở nhà, cha tôi thường tổ chức mời một số người bạn của ông là họa sĩ Nguyễn Sáng, họa sĩ Lương Đống, nhạc sĩ Đắc Nhẫn, nhạc sĩ Ngọc Thới, vợ chồng nhạc sĩ Hồ Bông - Thanh Trì… đến ăn Tết với gia đình. Họ đều là người miền Nam tập kết ra Bắc. Cha tôi nói: “Các chú ấy phải xa gia đình, vợ con ra đây chịu nhiều thiệt thòi. Những ngày Tết họ cô đơn, buồn và nhớ gia đình, bố mời các chú ấy đến ăn bữa cơm tất niên với nhà mình trong không khí đầm ấm của ngày Tết để họ vơi bớt nỗi nhớ nhà”. Nghe cha tôi giải thích, anh em tôi rất vui và cảm nhận được tấm lòng nhân ái, chân tình của ông với bạn bè. Chúng tôi càng thêm yêu quý và kính trọng ông hơn. Là con lớn trong nhà nên tôi thường phải giúp mẹ tôi quán xuyến công việc bếp núc trong gia đình ngay từ khi mới lớn. Cha tôi hay có khách nên thường chỉ bảo tôi nấu một số món ngon cho bạn của ông uống rượu. Tôi cũng lấy làm lạ, vì không ngờ một người như ông lại có tài nấu ăn như thế. Ông bảo tôi: “Không có điều kiện thì thôi, nếu có điều kiện thì phải nấu ăn cho ngon, món nào cũng có những gia vị riêng của nó, nếu thiếu gia vị là mất ngon, mất đi cái hương vị đặc trưng của món ăn đó…”. Cha tôi cũng hay được mời đi ăn, vì vậy nếu thấy có món nào ngon và lạ miệng ông đều tìm hiểu cách chế biến rồi về nhà đợi khi có điều kiện là tiến hành nấu thử cho gia đình thưởng thức trước.


Có lẽ trong cuộc đời tôi, bữa cơm tất niên đáng nhớ nhất là chiều 30 Tết năm 1975 (Ất Mão) lúc đó tôi đã có gia đình và ở riêng. Trước Tết mấy hôm ông bảo tôi: “Chiều 30 con lên giúp bố làm cỗ, năm nay bố mời thêm vợ chồng cô chú Hồ Bông, Thanh Trì cùng đến ăn Tết với gia đình. Bố đã dặn mẹ mua chân giò và một cân thịt bò để bố con mình làm thêm món nhụ mỵ (chân giò nhồi thịt) và món thịt bò cuốn”.


Chưa hết một tuần nhang thì những người bạn của cha tôi lần lượt đến. Năm đó có họa sĩ Nguyễn Sáng, nhạc sĩ Đắc Nhẫn, nhạc sĩ Ngọc Thới, nhà văn Thanh Châu, nhạc sĩ Hồ Bông và vợ là Thanh Trì. Tôi dọn mâm ra chiếu trải trên nền nhà. Mọi người ngồi quây quần quanh mâm cỗ bên chậu hoa đào. Cha tôi lấy chai rượu cuốc lủi ra rót mời mọi người. Tôi là con trưởng, đã có vợ con nên ông cho phép ngồi cùng mâm. Mẹ tôi không uống được rượu, bà liên tục tiếp thức ăn cho từng người và luôn mồm nhắc cha tôi: “Ông uống vừa thôi không có lại say ra đấy thì rông cả năm…”. Nhạc sĩ Hồ Bông cười nói: “Chị Băng ơi, chị cứ để anh uống với bọn em cho đã đi. Dân miền Nam chúng em đã không nhậu thì thôi, đã nhậu là phải nhậu cho xỉn mới đã”.


Bữa cơm tất niên năm đó kéo dài cho đến gần giao thừa trong không khí gia đình đầm ấm, vui vẻ. Mọi người lưu luyến chia tay cha tôi. Trong ánh mắt họ thoáng hiện lên một nét buồn. Cha tôi đứng lặng trên ban công nhìn lên bầu trời đêm đặc quánh. Lát sau ông buông ra một tiếng thở dài. Vừa hay lúc đó những tràng pháo đón giao thừa đồng loạt rộ lên giòn giã.


Linh cảm của ông đã đúng. Mấy tháng sau, vào ngày 30-4-1975, đất nước đã hoàn toàn thống nhất. Cả dân tộc reo vui. Những người bạn miền Nam của cha tôi sau bao năm xa cách đợi chờ đã được trở về quê hương để gặp lại cha mẹ, vợ con và những người thân. Họ mừng vui, vội vã ra đi không còn kịp đến chào cha tôi. - Báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 15-1-2015.


Năm 1994, nhà báo Lê Minh Quốc cùng vài người bạn thơ đến thăm Văn Cao. Anh viết một bài “giấc mơ của một người đang ngủ” (Báo Phụ nữ, 20-8-1994).


Đúng Ngọ. Trời nắng gay gắt. Sau khi uống cạn ly bia trên phố Lý Thường Kiệt, ai đó đã nói: “Chúng ta đi thăm nhạc sĩ Văn Cao”. Thế là tôi, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Trương Thị Kim Dung và một hai người nữa ngất ngưởng đến căn nhà 108 Yết Kiêu, Hà Nội.


Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt tôi là cây đàn dương cầm phủ một lớp bụi mờ. Căn phòng bề bộn những bức tranh, những vỏ chai rượu nghiêng ngửa… Văn Cao ngồi đó, gầy guộc, râu tóc bạc trắng, bàn tay hằn những đường gân xanh. Tôi cầm bàn tay ấy, lạ lùng thay, lòng bàn tay lại ửng hồng như màu của hoa sen với những đường chỉ tay chạy chằng chịt… Ông mỉm cười độ lượng: “Bà ơi! Lấy chai rượu”. Đó là chai Johny Walker của ông Trần Bạch Đằng gửi tặng cho Văn Cao. Rượu đã rót. Ông đọc những câu thơ của ông đã viết thời xa, xa lắm:


Một đêm đàn lạnh trên sông Huế


Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh


Vạt áo xanh nào vừa thoáng hiện qua trí nhớ của ông? Bà Băng - vợ ông - nói với tôi: “Mỗi ngày, bốn giờ sáng là ông nhà tôi đã thức dậy và ngồi uống rượu”. Văn Cao ngồi đó, với một dáng vẻ tiên phong đạo cốt. Nhưng nụ cười thì rất đỗi trẻ thơ. Điều đó, khiến cho ta dễ gần với ông, và mãi mãi chẳng bao giờ ta có thể hiểu được trọn vẹn về ông. Từ đầu năm 1994 đến nay, ông chỉ có vẽ một vài bức chân dung về người phụ nữ ngoài 40 tuổi, nhưng thời tiết nóng quá nên ngưng vẽ. Ông trầm ngâm: “Mấy năm nay tôi không làm được gì. Không tìm được điều gì báo trước ngày mai. Ngày mai sẽ như thế nào? Tôi chỉ viết những gì đã suy tư từ mấy chục năm qua”. Rượu lại rót, và ông lại run rẩy nâng ly lên môi, mỉm cười. Rồi đột nhiên ông cười lớn một cách sảng khoái:


Mão triều thiên, mão triều thiên


Danh chung kiếp anh hùng vui sự nghiệp.


“Chỉ có ngủ với đàn bà rồi mới viết được những câu như vậy. Thời trai trẻ nghe câu thơ đó tôi thấy buồn cười, nhưng bây giờ lại thấm thía.. Phải có một chút máu hiệp sĩ ở trong người chứ?”. Trong câu chuyện, đôi lúc ông nhắc đến Trịnh Công Sơn một cách thân mật: “Tôi thích sống như thằng Sơn đã viết: Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui; còn tôi, mỗi ngày tôi kín một niềm vui”.


Thế nhưng, ngồi hầu chuyện với Văn Cao, tôi cảm giác rằng ông rất hiếm hoi những niềm vui. Từ năm 1936, ca khúc đầu tay Buồn tàn thu đã báo hiệu điều đó. Và bây giờ, ông cho biết là sẽ không bao giờ còn viết nhạc nữa. Cách đây đã lâu, ông rất buồn khi có đợt vận động sáng tác quốc ca mới, để thay bài Tiến quân ca đã được ông viết tại căn nhà 171 phố Mongrant (nay là 45 Nguyễn Thượng Hiền). Nhưng cuộc đời này vốn công bằng. Những lời hát thiết tha và hùng tráng của Tiến quân ca vẫn sống mãi cùng lịch sử. Và cũng rất đỗi lạ lùng khi lớp trẻ bây giờ tiếp nhận Tiến quân ca - như tiếp nhận bài thơ Năm buổi sáng không trong sự thật ông sáng tác từ những năm 60, sau rất nhiều năm mới được in. Bây giờ, Văn Cao ngồi đó và đọc lại những câu thơ này. Tôi nghe rờn rợn thịt da và đau nhói:


Buổi sáng nay cả phố phường như mở hội


Mỗi con người đeo mặt nạ đi chơi


Những bước chân nhảy múa


Vui lên cành non


Lá bàng trên phố màu xanh ngọc.


Trong cuộc đời của ông đã có bao nhiêu buổi sáng như thế này:


Ngủ dậy một sáng


Cả phố biến đâu mất


Buổi sáng nay không nghe tiếng chim hót


Một buổi sáng không thực (…)


hoặc:


Buổi sáng nay không phải mình thức dậy


Một người nào trong tôi đang thở


trước mặt tôi…


Để bây giờ khi chúng tôi cùng nâng ly chúc mừng sức khỏe thì ông lại tự hỏi: “Cuối thế kỷ này có phải là cơn hồng thủy không?”. Chẳng có ai trả lời câu hỏi đó. Tôi nghĩ rằng, không phải lúc này, 71 tuổi, Văn Cao mới tự vấn điều đó. Trong triển lãm duy nhất năm 1944 (Salon Unique) tổ chức tại nhà Khai Trí Tiến Đức với bức tự họa Sám hối nửa đêm hoặc Cuộc khiêu vũ của những người tự tử, Văn Cao đã bàng hoàng tự ý thức như vậy rồi chăng? Tôi đem suy nghĩ này hỏi ông, nhưng ông im lặng, đôi mắt nhìn vào cõi xa xăm mơ hồ nào đó… Mà thôi, đã có quá nhiều người hỏi Văn Cao, viết về Văn Cao, nhưng tôi nghĩ rằng, chẳng ai có thể hiểu được ông cả. Làm sao có thể hiểu được về giấc mơ của một người đang ngủ? Còn tôi, lần đầu tiên được diện kiến ông, tôi chỉ muốn đưa xe, hầu ông đi trở lại căn nhà mà ông đã viết Tiến quân ca để chụp một bức hình kỷ niệm. Thế nhưng vợ ông cho biết: “Hiện nay ông đi lại khó khăn vì bị ngã xe đạp vào năm 1988, và nay một đốt sống bị thoái hóa”. Biết vậy, nên tôi không dám làm phiền ông.


Văn Cao đang ngồi đó. Từ trong sâu thẳm tâm linh ông nghĩ gì?


Những mái nhà như những cánh chim đêm


Ủ những giấc mơ dưới trời sao lồng lộng.


Câu thơ chợt bay ngang trí nhớ của tôi. Ly rượu vẫn còn đầy… ngoài trời vẫn nắng gắt.


Sau ngày đất nước giải phóng, một trong những nhạc sĩ ở miền Nam thân thiết và gần gũi, tri âm, tri kỷ nhiều nhất với Văn Cao là Trịnh Công Sơn. Sơn nói:


Đối với tôi, anh Văn Cao chưa ra đi, một chuyến đi xa, mà người chờ đợi có thể sẽ mòn mỏi nhìn một con đường ở đó không có bóng dáng một con người trở lại.


Ra đi là bỏ lại bạn bè ở đằng sau. Anh Văn Cao đâu nỡ đành bỏ lại những cuộc vui nhẹ nhàng nhỏ nhẻ mà nó có âm hưởng dài lâu lạ kỳ. Cứ ngồi bên cạnh nhau mà nhâm nhi những khúc rượu cao rượu thấp và cười nói những câu chuyện không đâu vào đâu mà thật sự là những câu chuyện đời nghe xong cũng có thể buồn vui đôi phút.


Anh Văn Cao ơi, đi và ở lại có gì quan trọng đâu. Anh đi mà vẫn còn ở lại. Cái chỗ anh ngồi đó từ mấy mươi năm vẫn là cái chỗ của anh. Ly rượu trước mặt anh mỗi sáng mỗi chiều hàng mấy mươi năm vẫn ở đó. Anh đi xa và chiếc ghế, ly rượu ở lại. Ở lại để ôm để ấp một hình hài tạm thời vắng bóng. Có phải khóc phải buồn không khi một người hẹn chiều nay uống một ly rượu mà không trở lại. Anh đang bận uống rượu ở nơi nào. Anh cứ uống mà đừng say để nhớ lại con đường dẫn anh về nơi này. Nơi đây bạn bè cứ mỗi ngày chờ anh. Thế nào cũng gặp nhau mà. Anh phải về vì cuộc đời vui quá và ai cũng chờ anh. Đừng hờn dỗi cuộc đời và đừng hờn dỗi bạn bè, nhất là Sơn.


Nhớ anh quá. Anh Văn Cao ơi, sống là vui mà ly biệt cũng đừng để quá não nề. Anh đang làm một cuộc đi xa, đi xa mà không hề báo trước. Thế thì này vậy, anh phải xin lỗi tụi em vì anh đã phụ tấm lòng yêu mến anh của những đứa em của anh còn ở lại nơi này.


Một bài khác, Sơn viết:


Xuống phi trường Nội Bài về phố Lê Duẩn. Cùng nhạc sĩ Thanh Tùng và Từ Huy đến phố Yết Kiêu - ở đó chúng tôi đã từng nhiều năm uống rượu với anh Văn Cao. Uống với ai mà chẳng là uống. Nhưng uống với Văn Cao hoặc anh Nguyễn Tuân, anh Bùi Xuân Phái, thì là một loại uống khác. Uống mà vẫn thấy mình chưa uống hoặc chỉ mới bắt đầu một cuộc uống. Bắt đầu đồng thời cũng là kết thúc. Kết thúc một ngày tẻ nhạt và bắt đầu một cuộc vui sẽ kéo dài đến đâu thì không ai biết được.


Tôi trở lại căn nhà anh Văn. Buồn quá. Ở đó bây giờ là bàn thờ, là những cái bàn tẩm liệm một màu đau khổ. Cái bàn nhỏ nhắn ngày xưa tôi thường ngồi với anh để cùng anh uống những ly rượu anh em buồn vui cười cợt bây giờ nằm ở góc xó nào. Tôi bỗng muốn sắp xếp lại một trật tự cũ. Cứ để lại những gì nó đã như thế. Cần gì phải thay đổi một thứ trật tự đã từ lâu làm thành nếp sống một con người.


Anh Văn ơi, anh sẽ không bao giờ ngờ được khi một người bỗng nhiên vắng mặt thì cuộc đời cũng sẽ đổi thay. Sự đổi thay đôi khi là cần thiết nhưng dù sao cũng mang đến một nỗi buồn. Nỗi buồn của một điều gì đó không còn như cũ.


Anh ra đi thì ai buồn nhất. Không phải là người ra đi mà hóa ra là cho người ở lại. Em không có buồn đâu anh ơi vì anh được trở về với Thiên Thai của anh mà em thì thích thú với địa đàng của em. Thiên Thai và Địa Đàng hình như cũng chỉ là một. Vậy thì anh cứ sống trong thiên đường của anh và em sẽ sống trong địa đàng của em.


Cuộc đời nhỏ hẹp mà bao la quá. Anh nhỏ hẹp và anh bao la. Cứ thế mà cuộc đời tồn tại. Thế thôi nghe anh Văn.


Anh Văn ơi, chết có nghĩa là không còn có mặt trong cuộc đời này nữa. Tuy nhiên không có mặt nơi này biết đâu vẫn có thể có mặt ở một nơi nào đó. Làm sao minh họa một cuộc đời cho thật hoàn chỉnh. Khó quá, thế thì anh Văn đã ra đi hay vẫn còn ở lại. Ra đi và ở lại hình như cũng là những khái niệm tương đối, có một điều gì đó rất mơ hồ về sự hiện hữu.


Đêm nay Hà Nội hát nhạc anh. Anh vẫn có mặt và như thế có nghĩa rằng hôm qua cũng chỉ là hôm nay, và quá khứ cũng phần nào chỉ là hiện tại. Anh vẫn ở đó dù ly rượu trên bàn không thuộc về anh nữa. Ở đó hoặc không còn ở đó có gì là quan trọng vì ở và đi chỉ là một hành trình vô nghĩa.


Anh Văn ơi, sao anh ra đi mà tôi cứ có cảm giác như một cuộc hành hương tưng bừng về cố quận. Chỉ thấy nụ cười và nụ cười. Nụ cười anh đã lỡ mở ra không cần giấu giếm với một không gian nhỏ bé quanh anh.


Ở đâu rồi và ở đâu anh đang bước những bước đi không chính xác. Không chính xác đôi khi cũng là bản chất của người nghệ sĩ. Anh thì cần gì nghệ sĩ hay không. Quên đi những ai tự cho mình là nghệ sĩ. Anh cứ là anh như một kẻ tình cờ lạc lối đến nơi này. Không mưu toan gì, không ân hận gì nhưng dù sao cũng phải yêu thương cuộc đời này dù anh đang ở một cuộc đời khác.


Một cuộc đời khác, anh Văn ơi, chỉ là để nhớ cuộc đời này.


Còn nhà báo Lý Quý Chung nhớ lại, viết một bài dài đăng trên nguyệt san Thanh niên thời đại, số tháng 7-1995, có đoạn:


Những lần ông vào Sài Gòn và đến nhà tôi, ông lặng lẽ uống Johnny Walker, vui vẻ lắm kể một hai chuyện xưa (không phải kể để khoe khoang mình), và nếu chị Băng, vợ ông ép lắm thì ông ăn một hai miếng gì đó hoặc húp một quả trứng gà “la cót” là xong. Người khác nói ông nghe và khó biết được ông nghĩ gì. Trong căn phòng khách của tôi có treo khá nhiều tranh, ông cầm ly rượu đi tới đi lui, xem mỗi bức rất kỹ nhưng không hề… phát biểu (biết tính ông, tôi cũng không hề hỏi cảm tưởng của ông”. Cho nên với tôi, Văn Cao… rất gần nhưng rất xa. Có cố tìm hiểu ông hay nhìn ngắm ông thì chỉ lấy trí nhớ về Văn Cao lùi về quá khứ, mà để hiểu như một khách vào bảo tàng xem… tượng. Nhưng sẽ hết sức sai lầm nếu coi đó là một thứ tượng đá, tượng gỗ. Hơn một lần tôi chứng kiến “bức tượng” ấy di chuyển lên sân khấu và đối đầu với những câu hỏi hóc búa của nhiều thành phần khác nhau. Lần đáng nhớ nhất là tại Nhà Văn hóa Thanh niên TP.Hồ Chí Minh vào năm 1989, nếu tôi nhớ đúng. Sau một tuần rượu rất vui cùng anh em văn nghệ sĩ, Văn Cao cũng có mặt trên sân khấu với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Các câu trả lời chính xác của Văn Cao khi thì tế nhị, khi thì uyên bác, nhưng bao giờ cũng hết sức khiêm tốn và giọng rất tình cảm, xúc động khi nói về tình yêu dành cho người vợ hy sinh cả cuộc đời cho mình, khiến cho tôi hiểu đó là một tượng tự đóng băng, thật sự sức sống bên trong vẫn không ngừng nẩy nở.


Tôi không hề mê muội nhìn ở Văn Cao mọi thứ đều… kỳ diệu. Ông cũng là một con người. Nhưng một con người - thiên tài. Con người - thiên tài là một thứ kim cương lấy thẳng ra từ trong lòng đất. Đừng đòi hỏi nó thật hoàn chỉnh - không có một hạt bụi, hạt than hay bọt - như những thứ kim cương được làm ra theo những qui trình khoa học.


Một người bạn của Văn Cao ký tên là M.N[1] viết một bài nhớ về “Bữa rượu cuối cùng với Văn Cao” đăng trên báo Văn hóa số ra ngày 23-7-1995:


Sau hôm nhạc sĩ Văn Cao qua đời, tôi đi cùng với các ông Tô Hoài, Nguyễn Văn Bổng và Vạn Lịch đến ngôi nhà 108 đường Yết Kiêu, thắp nén nhang và đứng cúi đầu trước bàn thờ nhạc sĩ vừa được thiết lập. Ông Văn Lịch nói với bà Băng, người vợ góa của nhạc sĩ: “Chị Băng ạ, tôi với ông Mai Ngữ vừa rồi được uống bữa rượu với ông Cao. Lúc ấy chẳng ai dám nghĩ đó là bữa rượu cuối cùng ngồi với nhau…”.


Ông Vạn Lịch, một cán bộ chính trị rất thân thiết với nhiều anh em văn nghệ sĩ chúng tôi, từ ông Nguyễn Tuân, Tô Hoài, ông Nguyễn Sáng, Hà Minh Tuân, Văn Cao, v.v… Trước tết Ất Hợi vừa qua, ông Vạn Lịch rủ tôi sau Tết cùng đến thăm ông Văn Cao. Đã lâu tôi cũng không đến thăm Văn Cao, tôi cứ ngài ngại nhà ông bây giờ lắm khách.


Cũng may hôm đó, chủ nhân không có khách. Ông Văn Cao vẫn ngồi trên cái ghế riêng của ông, bên cái bàn nhỏ dưới chân là cái sọt trong có cái điếu cầy. Thấy chúng tôi, chủ nhân rất mừng, bà vợ cũng chạy ra. Ông khoát tay, bà vội mang ra chai rượu tây Whisky đen, ba cái ly. Rồi bà lại vào bê ra đĩa bánh chưng, đĩa giò chả, đó là món ăn của ngày Tết. Hai vợ chồng nhạc sĩ cùng ngồi với hai chúng tôi, uống rượu và ăn bánh. Tiệc rượu còn nồng nàn hương vị đầu xuân. Ngoài kia trời lạnh, gió bắc thổi, trong phòng được che kín, ấm áp tình người, tình bè bạn với nhau. Nhạc sĩ rất vui, ông kể lại chuyện cũ, những ngày trước và sau cách mạng, rồi những ngày khó khăn sau này. Tôi hiểu tâm trạng của chủ nhân và tôi nói:


- Năm kia tôi xuống Hải Phòng có gặp cô H. Cô ấy hỏi tôi có hay đến thăm anh không? Người đàn bà ấy vẫn còn những nét phúc hậu xưa kia tuy bây giờ đã ngoài sáu mươi rồi, tóc đã bạc cả…


Văn Cao nghe tôi nói, chợt ông lặng đi. Đôi mắt già nua chớp chớp, tay run run nâng chén rượu đưa lên môi, lập cập.


Bà vợ ông chen vào:


- Phải rồi, năm trước chị ấy có lại đây thăm nhà tôi… Tình cũ đấy….


Tôi gật đầu:


- Vâng tình cũ. Sau lần gặp lại cô H, tôi có viết cái truyện ngắn lấy tên “Tình cũ”, cũng cảm xúc từ lần gặp lại người xưa, anh Văn Cao ạ… Người ấy vẫn còn đẹp, cái đẹp dịu dàng, xưa kia…


- Phải rồi, ngày xưa… Văn Cao chợt cười khẽ - Cô ấy là em gái T. Hồi mình sống ở đấy, nó thường bảo tao sẽ gả em tao cho mày.


Bà Băng bảo:


- Hôm nào anh gửi cái truyện “Tình cũ” của anh cho anh Văn đọc. Xưa kia, cái truyện của anh viết về anh ấy, tôi đem về đưa anh ấy đọc và anh ấy khóc…


Văn Cao gật gù:


- Mình nhớ cái thời ấy, cái thời trai trẻ lang thang đến nhà mấy thằng bạn, trong đó có nhà thằng này. Mình tưởng đã quên hết rồi vậy mà Mai Ngữ vẫn nhớ, nhớ đến từng chi tiết…


Tôi im lặng, cái chuyện ấy, “Câu chuyện bốn mươi năm về trước”, tôi viết về Văn Cao và đăng ở Văn nghệ quân đội năm 1987, thời điểm mà người ta chưa dám nhắc đến ông. Thật ra những kỷ niệm của Văn Cao cũng là những kỷ niệm của tôi. Khi ông từ Hà Nội xuống Hải Phòng để bắn tên thân Nhật Đỗ Đức Phin ấy, ông có dừng lại ở nhà tôi, nghỉ lại rồi hóa trang thành một lão già, xong mới đạp xe đi tiếp. Tên Việt gian bị bắn chiều hôm sau trong một tiệm thuốc phiện.


Người thanh niên ngoài hai mươi tuổi năm xưa bây giờ đang ngồi trước mặt tôi bên chai rượu vuông vức, lặng lẽ nâng ly rượu lên môi và nhớ lại một kỷ niệm xa xưa. Chúng tôi cùng ngồi uống rượu trong sự lặng lẽ ấy. Chị Băng nhắc chúng tôi ăn bánh, ăn giò chả. Chị cầm chai rót thêm rượu. Rồi chị kể hôm nào đó trước Tết, nhà thơ Tố Hữu có đến thăm anh Văn. Vâng, tôi hiểu bây giờ anh Văn có rất nhiều khách quý. Khách trong nước và khách ngoài nước. Văn Cao vẫn ngồi đúng cái nơi anh thường ngồi và tiếp khách, không có khách thì uống rượu một mình. Bây giờ sự đi lại của ông rất khó khăn, phải có người dìu mới nhúc nhắc được. Ba chục năm ở ẩn bây giờ thiên hạ mới đổ xô đến thì ông già gần đuối sức rồi. Ba chục năm ông mải miết vẽ, vẽ tranh và bìa sách. Tranh của ông rất riêng, bức tranh “Leo cột” ông vẽ dăm năm trước có lẽ là bức tranh cuối cùng, giờ nằm trong nhà ông Lâm “toét”.


Bữa rượu kéo dài đến trưa, tôi và ông Vạn Lịch đứng lên, chai rượu tây đã cạn. Ông Vạn Lịch hồi này cũng yếu lắm, người chính ủy của trung đoàn 209 năm xưa bây giờ hay đau yếu luôn, chẳng mấy khi được đến nhà ai. Vậy mà hôm ấy ông đi cùng với tôi đến thăm ông Văn Cao, kể cũng là chí tình lắm. Thật tội, sáng ngày 10[2] vừa qua, ông lệ khệ xách túi quà đến bệnh viện Hữu Nghị để thăm bạn, đến nơi người ta thông báo cho ông biết ông Văn Cao đã qua đời, xác được đưa vào phòng lạnh. Ông Vạn Lịch lặng lẽ ra về, sụt sùi vì thương bạn, tự trách mình đến quá muộn. Sáng hôm sau, tôi đi cùng với ông cùng hai nhà văn lão thành đến viếng bạn ở nhà, thắp nén nhang lên bàn thờ bạn, nhìn tấm ảnh bạn treo trên, người chết lặng lẽ nhìn lại chúng tôi. Ông ôm lấy cô con gái ông Văn Cao an ủi khi cô gái khóc nức nở rằng “Bác ơi, những ngày bố cháu vô cùng khó khăn bao giờ cũng có bác ở bên, bây giờ bố cháu không còn nữa…”.


Còn Nguyễn Trọng Tạo cho rằng có một Huế riêng của Văn Cao. Nhà thơ viết:


Ngoài sự ngưỡng mộ một tài năng lớn, những người Huế đều còn có riêng một hàm ơn đối với anh, đấy là nhờ có Văn Cao mà Huế có bài thơ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế, và bản nhạc Thiên Thai bất hủ từ năm 1940-1941. Lúc ấy Văn Cao mới 17 tuổi, trong một chuyến lãng du về phương Nam anh đã dừng lại Huế, lênh đênh trên sông Hương cùng những điệu hát Nam ai, Nam bình rỉ ra nước mắt, cùng những “vạt áo xanh” kỹ nữ đẹp đến não nùng. Và bài thơ của anh từ dạo đó, hôm nay vẫn còn được ngâm lên quyến rũ trong những con đò thơ nhạc đêm đêm trên “sông Huế”:


Em cạn lời thôi anh dứt nhạc


Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh


Một đêm đàn lạnh trên sông Huế


Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh.


Cùng với bài thơ ấy là bài hát Trên sông Hương ra đời. Dù bài hát này đã được anh hát trực tiếp trước micrô của đài phát thanh Sài Gòn sau khi rời Huế, nhưng không được hài lòng lắm. Trở về Hải Phòng, Văn Cao đã viết lại bài hát này. Thế là Trên sông Hương đã trở thành Thiên Thai của lòng anh, và âm hưởng của bài hát này suốt hơn nửa thế kỷ qua luôn vang vọng trên chính xứ sở đã sinh ra nó:


Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng


Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên…


Bài hát Thiên thai đã được các nhà du hành vũ trụ mang theo lên không trung. Và khi chọn nhạc hiệu cho đài phát thanh Thừa Thiên - Huế, có người đã đề nghị sử dụng âm hưởng của Thiên Thai, nhưng không thành vì “buồn quá”. Thôi “Tiếng phách ròn lắng xa. Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta”…


Vậy mà 47 năm sau Văn Cao mới có dịp trở lại Huế. Ấy là sau khi tôi đã về “định cư” ở Cố Đô, anh Văn bảo tôi: “Tao nhớ Huế lắm, nhưng mần răng mà vô được chừ?”. Tôi bàn với Hoàng Phủ Ngọc Tường (lúc đó là Tổng thư ký Hội Văn nghệ) mời anh Văn vào Huế chơi. Anh Văn rất mừng khi nhận được lời mời từ Huế, chưa rời Hà Nội, anh lại đã có thơ về Huế. “Về Huế xưa - Đường nối mưa dài”. Đã bao người làm thơ về Huế, nhưng thơ Văn Cao và là những giọt tinh chất của tình anh với Huế.


Giọt người chia ly


Giọt người yêu thương


Giọt nào không vương


Giọt người bơ vơ


Giọt người theo mưa về phố.


Anh trở lại Huế giữa mùa xuân đẹp trời năm 1987. Biết nhà tôi ở gần khách sạn, chưa kịp nghỉ ngơi, anh giục chị cầm chai Vodka sang thăm nhà. Bạn bè ở Huế biết anh vào, đổ lên khách sạn rồi dồn cả về nhà tôi với nem Huế, rượu Huế, và những giọng hát mang sẵn trong lồng ngực. Thế là cụng ly, đàn hát. Cả một chương trình nhạc Văn Cao như không bao giờ dứt. Có ai đó nhắc tới Phạm Duy. Và anh Văn đã rất xúc động khi nghe lại vài bài hát tiền chiến của người bạn thuở hàn vi…


Những ngày ngắn ngủi ở Huế cuốn anh Văn ngập lụt trong vui buồn kim cổ. Anh phát hiện ra bài vị của vợ Tự Đức đặt cao hơn bài vị vua, và bảo rằng “Vua Tự Đức cùng hội sơ-vơ với mình”. Anh nhấp rượu làng Chuồn và khẳng định ở đây cũng có một “nền văn hóa rượu”… và cái “nền văn hóa rượu” ấy đã làm anh say nghiêng say ngả trên phá Tam Giang, đến nỗi chị Băng ngăn không nổi, dọa anh uống nữa là chị sẽ nhảy luôn xuống phá. Anh đùa chị: “Dưới thuyền có lưới đấy”. Nhờ thế mà anh lại có được bài thơ Đêm phá Tam Giang thật hay:


Tôi níu lấy mảnh lưới


Lưới là cái cuối cùng


Đang hắt tôi xuống biển.


Rồi huyết áp anh bị tụt, phải vào trung tâm cấp cứu. Các bác sĩ, giáo sư giỏi nhất của bệnh viện Trung ương Huế túc trực bên anh. Các đồng chí lãnh đạo tỉnh, bạn bè văn nghệ và những người ngưỡng mộ đến với anh. Anh quá yếu, phổi bị khô… Nhưng chỉ một ngày sau, tỉnh táo trở lại, anh đã rỉ tai tôi: “Tạo lén kiếm cho anh cút rượu”!


Thơ ca nhạc họa và rượu là những thứ không thể thiếu với Văn Cao. Cũng như Huế, sẽ trống trải biết bao nếu không có anh, không có Thiên thai, không có Một đêm đàn lạnh trên sông Huế, và bây giờ là Huế xưa, Đêm phá Tam Giang…


Khi tôi đang viết những dòng này thì từ quán cà phê cạnh nhà vọng lên những âm điệu của Văn Cao. Tôi dừng lại lắng nghe từ Buồn tàn thu đến Thiên thai, từ Trương Chi đến Suối mơ, từ Đàn chim Việt tới Cung đàn xưa… Phải chăng người Huế đã có một Huế riêng của Văn Cao, một hạnh phúc vĩnh hằng của người nghệ sĩ đa tài. - Báo Văn nghệ, 22-7-1995.


Một bài khác trên mạng với địa chỉ: www.nhuygialai.com, nhan đề “Một lần uống rượu cùng Văn Cao” của NPV, có đoạn:


Khi đặt bút viết dòng này, tôi đã có không ít băn khoăn, Văn Cao chỉ kém ông nội tôi khoảng chục tuổi, đương nhiên là bậc tiền bối rồi. Về xã hội, Văn Cao là một nhạc sĩ nổi tiếng, một họa sĩ, nhà thơ với nhiều tác phẩm giá trị; một danh nhân văn hóa có tầm vóc vượt cả ra ngoài Việt Nam, được đặt tên đường tại nhiều thành phố trong cả nước. Nói “uống rượu” cùng ông nghe có vẻ ngang hàng, bất kính quá. Nhưng nếu dùng từ “đối ẩm”, “hầu rượu”… càng không ổn, vì cái bối cảnh và cách uống rượu, nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất giữa tôi và ông hôm đó rất là phóng khoáng, thoải mái đến mức bình dân, chẳng có gì gọi là quan cách cả. Tôi tin ông sẽ vui vẻ với cái tựa đề của tôi, vì tính cách của ông vốn là như vậy.


Ấy là dịp đầu năm 1993, khi tôi trở ra công tác dài hạn tại Hà Nội sau kỳ nghỉ tết Âm lịch. Cùng đi với tôi có Nguyễn Tấn Hạnh, bạn và đồng nghiệp chung công ty xuất nhập khẩu Gia Lai. Hạnh có ông anh ruột sống tại Hà Nội là họa sĩ Nguyễn Tấn Cứ - nguyên Trưởng phòng bảo tồn của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Chính vì mối quan hệ như vậy nên khi đến Hà Nội, việc đầu tiên của hai chúng tôi là đem mấy chai sâm Khu 5 - hồi đó sâm Khu 5 còn rẻ và không hiếm như bây giờ; đến nhà anh Cứ thăm và chúc Tết. Đó chỉ là một căn hộ tập thể nhỏ, thấp lè tè nhưng có khoảnh sân khá rộng nằm ngay trong khuôn viên xưởng phục chế của Bảo tàng. Nghe tiếng xe máy, anh Cứ hối hả ra mở cổng. Sau một loạt câu hỏi chen nhau vì lâu ngày gặp lại trong không khí Tết muộn, anh nắm tay hai chúng tôi như lôi đi:


- Vào đây, vào đây. Anh đang chuẩn bị tiếp hai ông bạn già. Trà tam, rượu tứ; thêm hai anh em nữa là quá hay rồi.


Chúng tôi vào nhà. Căn phòng khách chật hẹp ngày thường vốn bề bộn khung vẽ, tranh, màu… nay được dẹp gọn một bên, hai ông bạn già của anh đang ngồi trên chiếu với mâm rượu chờ sẵn. Hai con người thoạt nhìn gây hai ấn tượng trái ngược nhau. Một người khoảng tuổi 60, dáng tầm thước, gương mặt đầy đặn, đôi tai to, mái tóc nghệ sĩ và bộ râu rậm rạp được chăm chút cẩn thận - chính là Thái Bá Vân, nhà nghiên cứu và phê bình mỹ thuật nổi tiếng. Người kia già hơn, gầy gò trong chiếc áo bông, tóc bạc rối ngang vai và chòm râu lơ thơ trên gương mặt hom hem, phong trần - tất cả như một cái nền làm nổi bật trên đó đôi mắt tinh nhanh, nét miệng lúc nào cũng như cười cười khinh bạc, giễu cợt gì đó. Anh Cứ giới thiệu Thái Bá Vân xong, quay sang ông cụ:


- Đây là tác giả bài “Tiến quân ca”…


Tôi há hốc miệng kinh ngạc:


- Hóa ra đây là… bác Văn Cao?


- Còn ai vào đây nữa? Vậy chứ chú em nghĩ Văn Cao là như thế nào?


Tôi lúng túng thật sự:


- Dạ không, cháu chỉ bất ngờ thôi, chứ chưa bao giờ hình dung bác như thế nào cả…


Văn Cao cười khà khà, cái miệng cười đậm nét khôi hài:


- Đúng là lớp trẻ bây giờ, chỉ biết Văn Cao là tác giả “Tiến quân ca”; còn Văn Cao… thế nào thì chịu. Mà hai chú là em chú Cứ thì cứ xưng em là được rồi… Ngồi xuống đi.


Ông nâng lấy ấm rượu - loại ấm nhỏ thường hay dùng uống trà, rồi rót từ từ vào mấy chén hạt mít. Tôi để ý thấy nắp ấm rượu được đúc liền một khối với thân ấm, hơi là lạ nhưng không tiện hỏi. Nâng chén rượu đầu xuân chúc nhau, thăm hỏi theo lệ thường xong, tôi nói:


- Thú thật với bác Vân là em mới biết tên tuổi bác gần đây thôi, nhưng riêng bác Văn Cao thì từ lâu lắm rồi. Chín, mười tuổi em đã nghe không biết bao lần mấy đĩa nhựa Thái Thanh hát: Buồn tàn thu, Suối mơ, Thiên thai… của bác mà. Em còn nhớ trên bản in Buồn tàn thu do NXB Sóng Nhạc ấn hành có ghi lời đề tặng của bác: “Tương tiến nhạc sĩ Phạm Duy, kẻ du ca đã gieo nhạc buồn của tôi khắp chốn”…


Văn Cao nhìn tôi, cái nhìn đầy hoài nghi. Nói qua nói lại một hồi, tôi mới hình dung được lý do vì sao ông lại không tin như vậy.


Ấm rượu rót vài vòng thì cạn hết. Anh Cứ mang ra một chai rượu lớn, bảo tôi châm vào ấm. Tôi ngớ người ra, chẳng biết phải làm thế nào. Nắp và thân ấm đúc liền khối, vòi ấm thì nhỏ, chẳng lẽ lại dùng “xiranh” hay ống “tizô” bơm vào? Văn Cao vuốt râu cười rũ ra: “Để coi chú em làm cách nào”. Tôi lắc đầu chịu thua. Ông bảo: “Thì lật ngửa nó ra”. Tôi càng ngơ ngác hơn. Ông liền cầm lấy chiếc ấm lật ngửa thật. Té ra đít ấm được đúc theo kiểu một cái phễu thu nhỏ vào trong, cứ cho rượu vào lưng nửa ấm rồi lật nhẹ lại, rượu không đổ ra ngoài tí nào. Ông cười hỏi tôi:


- Chú em thấy cái ấm này như thế nào?


Tôi ngắm đi ngắm lại bộ ấm chén rồi dè dặt đáp:


- Em có biết gì về đồ cổ đâu. Nhưng giới văn nghệ sĩ mấy bác dùng nó uống rượu thì quá hợp “gu” rồi còn gì.


- Ý chú em là…


Thấy Văn Cao tỏ vẻ chăm chú, tôi liền mạnh dạn tiếp lời:


- Bộ ấm chén này bề ngoài trông xù xì, thô ráp; cái cách dùng nó lại ngược đời không giống ai… Vậy nhưng bên trong lại chất chứa rượu nồng, men say lòng người - Chả phải giống như tính cách của mấy bác văn nghệ sĩ là gì?


- Ấy ấy - Văn Cao xua xua tay: chú em quá lời rồi. Chẳng qua do thời thế thôi mà. Cái ấm này là cả một vấn đề triết học nhân sinh đấy, còn sâu xa hơn cả chuyện tích cái lọ “đầy thì đổ” của Khổng Tử đấy.


Hôm đó cao hứng Văn Cao, rồi cả Thái Bá Vân và anh Cứ cùng nhau giảng giải, bình luận về các vấn đề “triết học nhân sinh” ngóc ngách của bộ ấm chén không giống ai cho tôi nghe, nhưng đáng tiếc là tôi không hiểu được nhiều. Chỉ nhớ riêng về mảng văn học nghệ thuật, Văn Cao có ví von, đại khái sự sáng tạo của người nghệ sĩ như những giọt rượu được chắt lọc từ thực tế cuộc sống; quá trình thai nghén, hoàn chỉnh nên tác phẩm thoạt nhìn có khi ngược đời, không dễ được chấp nhận và khuất lấp dưới đáy xã hội, nhưng cuối cùng hương thơm vẫn ấm nồng tỏa quyện cùng tâm hồn con người. Sự sáng tạo trong văn học nghệ thuật dường như không có giới hạn, nó chính là dòng chảy không ngừng của cuộc sống. Như những giọt rượu rót vào chiếc ấm kia vậy, rót vừa đủ đầy ta lại uống cho vơi, càng vơi ta lại càng say, cảm hứng càng dâng trào… Không như chiếc lọ “đầy thì đổ”, chỉ đổ ra đổ vào để răn đời mà thôi!


Tôi chỉ nhớ đến vậy. Tiệc rượu tan, ngủ nghỉ một tí thì chiều cũng vừa tàn, hình như Thái Bà Vân đèo Văn Cao ra về bằng xe đạp thì phải. Từ đó tôi không có dịp nào gặp lại ông nữa. Thời gian thoáng chốc đã gần 20 năm trôi qua; lần lượt Văn Cao, Thái Bá Vân, rồi anh Cứ nối nhau về cõi vĩnh hằng; bộ ấm chén uống rượu năm xưa cũng không biết có còn giữ được hay không. Nhưng dù sao đi nữa, trong tâm tưởng tôi, cái duyên hạnh ngộ một lần uống rượu cùng Văn Cao không bao giờ có thể quên được…


Nguồn: Rượu với văn chương. Trần Thanh Phương sưu tầm, biên soạn. NXB Hội Nhà văn, 02-2017.


www.trieuxuan.info







[1] Triệu Xuân biết “MN” tức là Mai Ngữ. Nhà văn Mai Ngữ có truyện ngắn rất hay, như là một kho tư liệu quý về các nhà văn: “Lãng đãng chiều sương”. Triệu Xuân đã post tác phẩm này trên www.trieuxuan.info từ ngày 05-12-2013; và in trên Nguyệt San Văn Chương Ngày Nay, số 6, tháng Tư năm 2014. Nguyệt san này do Triệu Xuân chủ biên, Nhóm Văn Chương Hồn Việt & NXB Hội Nhà văn. Đồng thời, Triệu Xuân đã giới thiệu cho Văn Chinh in truyện này trên Nhà văn và Tác phẩm. (Chú thích của Triệu Xuân).




[2] Ngày 10-7-1995, ngày Nhà thơ, Nhạc sỹ, Họa sỹ Văn Cao từ trần (Chú thích của Triệu Xuân).




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trang Thế Hy: Già rồi, đi chỗ khác chơi! - Trần Thanh Phương 19.02.2017
Văn Cao: Chừng nào tôi bỏ rượu thì bỏ thơ luôn! - Trần Thanh Phương 17.02.2017
Tô Hoài: Món nào cũng chán, chỉ ngon món rượu! - Trần Thanh Phương 14.02.2017
Nguyên Hồng: Lúc uống rượu, một xúc động nhỏ ông đã khóc! - Trần Thanh Phương 14.02.2017
Sài Gòn chuyện đời của phố: Làng Lai Xá, trùm nghề ảnh Sài Gòn/ Dầu dừa tóc mượn... - Phạm Công Luận 06.02.2017
Tứ Bình Làng Việt - Nguyễn Xuân Diện 03.02.2017
Sài Gòn chuyện đời của phố: Nhộn nhịp từ Bonard đến Lê Lợi - Phạm Công Luận 03.02.2017
Sài Gòn chuyện đời của phố - Sách về Sài Gòn xưa - Phạm Công Luận 02.02.2017
Nguyễn Bính, rượu và thơ - Tư liệu 26.01.2017
Nguyễn Tuân “Người cũ về rồi hoa mới nở…” (2) - Nhiều tác giả 25.01.2017
xem thêm »