tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20518388
Truyện ngắn
07.07.2017
Triệu Văn Đồi
Anh Nhoàng



Xã có năm thôn thuộc ba làng. Làng Sài nằm bên phải, bên trái con đầm là làng Xá và làng Kẻ Chợ. Tiếng là trong một xã, một làng thậm chí một thôn nhiều khi cũng không biết hết nhau bởi địa giới rộng dài lại có con đầm ngăn cách. Người ta biết nhau là nhờ các mối quan hệ ruột rà, giao tiếp và cũng biết nhau qua những chuyện thường ngày của cuộc đời như sinh hạ, già lão, bệnh tật và tử tận... Để biết cho rõ, nhiều khi phải gắn với ngọn ngành rằng người ấy là con, cháu của cụ ấy, bà ấy hoặc cành nọ, họ kia thì mới tỏ. Vậy mà anh Nhoàng thì cả ba làng Sài, Xá, Kẻ Chợ từ trẻ lên ba đến các cụ già ai ai cũng biết và đều quen gọi là Nhoàng Nghệ sĩ, hay Nghệ sĩ Nhoàng cũng thế.Nhoàng không phải là cái tên cúng cơm cha mẹ đặt cho mà là do mọi người quen mồm vẫn gọi. Có lẽ bởi anh khiếm thị từ bé. Tuy vẫn nhìn được nhưng trước mắt anh cái gì cũng chỉ là một bức màn mờ mờ, nhạt nhạt, nhập nhoàng không thể nhận rõ sắc màu, hình hài, kích thước. Tạo hóa thật công bằng. Để bù đắp cho sự khiếm thị đã ban cho anh một thính giác cực nhạy. Nhờ có nó mà anh nhận ra được người nọ người kia qua giọng nói của họ. Kỳ diệu đến mức có người mới gặp đôi lần, sau mươi năm gặp lại anh vẫn nhận ra. Chịu cho trí nhớ của anh, vẫn biết con người ta có thể thay đổi hình dáng theo thời gian như béo gầy, già đi hay trẻ lại nhưng tiếng nói đành rằng rất ít thay đổi. Trừ những hạng người theo anh Nhoàng là loại "mất gốc". Mất gốc vì mới ra sống ở ngoài thiên hạ chưa lâu đã vội vàng vứt bỏ tiếng quê, đã quên cái âm sắc "con bò vang". Cái thổ ngữ nghe nặng trình trịch, na ná như tiếng miền Trung mà đằm thắm đến ngọt ngào, tha thiết. Chỉ một xã thôi mà các làng Sài, Xá, Kẻ Chợ mỗi nơi nói bằng một âm vực, thanh điệu khác. Làng Sài cách con đầm đã là một nhẽ, chứ nhiều nhà ở làng Xá với làng Kẻ Chợ cách nhau có giậu cúc tần, cùng ăn chung nước giếng Đầm mà tiếng làng nào vẫn ra tiếng làng ấy. Không trộn được.


Tuy không được đi học, không biết cái mặt chữ nó ra làm sao, thế mà Truyện Kiều, chuyện Trạng Quỳnh, Trê Cóc đến cả thơ tình Xuân Diệu anh Nhoàng vẫn thuộc làu làu, lại còn bình giảng đâu ra  đấy nữa chứ! Có ai nói: Chúa đã sinh ra con người chưa hoàn thiện. Có lý. Nhưng với anh Nhoàng thì hóa công đã rất độ lượng, công bằng. Anh Nhoàng đẹp lắm. Đám gái quê vẫn thèm cái nước da trắng như trứng gò bóc của anh. Đi làm đồng khăn đen che kín mặt mà nước da cũng chỉ gọi là sáng hơn củ gắm một chút. Giời đất ạ! Đôi bàn tay của anh thì đám gái quê chả thể màng tới vì quanh năm chỉ cào, bới trong  bùn đất, phân gio, bèo bã. Mà đẹp cũng chả để làm gì.


Tuy khiếm thị nhưng anh vẫn tự nuôi mình bằng cách xay bột thuê cho các lò đậu phụ. Nhìn  anh ngồi một tay quay cối, một tay múc nước với chiếc gáo bằng ống nứa xinh xinh như cái chén hạt mít chính xác, nhịp nhàng ngỡ như là đang múa vậy. Lấy anh, không sợ phải nuôi báo cô như vài người độc miệng vẫn nói. Vậy mà, mặc dù gia đình đã vài ba lần ướm hỏi nhưng chẳng có đám nào giám lấy anh. Những con mắt dài, lay láy đa tình chỉ muốn ve vuốt qua cái nhìn để đêm về nằm mộng. Hoặc lúc ngủ với chồng, nhìn khuôn mặt phì nộn hay quắt tai rơi thì lại tưởng tượng ra gương mặt thanh tú đến tài hoa của anh. Có lẽ vì thế mà có vài đứa trẻ trong làng sinh ra giống anh như lột khiến anh chồng cục mịch, đen đúa ghen lồng ghen lộn mà chẳng có chứng cứ nào bắt bẻ vợ. Thù anh thì không nỡ, không thể vì cả ba làng bảy xã, ai ai cũng biết anh tốt bụng và lành như cục đất. Đàn bà vùng này chính chuyên có thể không nhiều, chứ anh Nhoàng thì nhất định vẫn còn là trai tơ. Trinh tiết. Ở con người anh hội tụ sự thiếu thừa, tuy khiếm thị mà giọng hát mới tuyệt làm sao. Anh vừa quay cối, vừa buông những câu làn thảm trong các tích chèo Quan Âm Thị Kính hay ngâm sổng đoạn Lưu Bình bức chí... Nỗi oan khiên, buồn tủi của thân phận con người từ chất giọng thanh, cao và ấm áp của anh dội vào sâu thẳm cõi lòng khiến người nghe ngơ ngẩn và luyến nhớ. Các bà nạ dòng thì chen nhau ngồi hẳn trong lán làm đậu, thản nhiên phanh áo ngoài quạt phành phạch và cũng là những khán giả dễ biểu lộ tình cảm của mình nhất như cười giòn, xụt xịt khóc và nâng vạt yếm lên chấm nơi khóe mắt. Con gái chưa chồng thì thộp thò ngoài cửa dỏng tai nghe hát, nghe mà khuôn ngực cứ vồng lên, hạ xuống khi khúc hát chuyển đoạn, luyến láy hoặc bất ngờ buông lửng. Anh Nhoàng biết có những ánh mắt, nhịp thở đang dõi theo nhịp hát, lắc lư quay cối và chao gáo mềm mại, uyển chuyển của mình. Như đang đứng giữa chiếu chèo, giọng hát anh như cũng mượt mềm hơn, mịn mà như dòng bột trắng đang ri rỉ chảy từ ngõng cối ra vòi xuống chiếc nồi đình. Anh là hiện thân một cái gì rất mơ hồ mà những người đàn bà quê kệch không thể với tới. Đối lập với nó là một nghịch lý: Không phải không giám tới mà là không muốn tới. Biết làm sao khi cuộc đời họ vốn đã nhọc nhằn, lam lũ. Họ khát khao nhưng vẫn sợ cái nghèo đeo đuổi. Con người ta chả sang giàu ở như hai con mắt đấy thôi...


* * *


Những chiếc đinh đỉa bằng sắt to như những cái răng bừa đóng từ gốc lên chạc ba cây gạo mọc giữa hai làng Xá và Kẻ Chợ vẫn còn từ thời mồ ma ông Thảo. Ông Thảo là thông tin viên của xã từ cái thời chưa có loa dây, phải bắc loa đưa tin tức bằng loa ống cuốn sắt tây. Là thương binh từ hồi chống Pháp, tuy chỉ còn có một chân, nhưng chập tối nào ông Thảo cũng đeo loa, đàn lần theo hàng đinh đỉa trèo lên chạc ba cây gạo gọi loa. Tin tức từ Liên Xô xã hội chủ nghĩa, từ miền Nam chiến thắng đến kết quả họp Ban quản trị hợp tác xã... đều từ giọng nói to khỏe qua chiếc loa sắt tây cầm lên ngang miệng của ông. Sau mỗi bản tin, ông Thảo lại dạo một khúc đàn bầu khoan nhặt. Tiếng bầu tuy không vang xa bằng giọng nói nhưng đêm quê yên tĩnh như cánh đồng lúa con gái vào thu, vẫn dành cho gió những con sóng mênh mang, dập rờn tít tắp.


Cả ba làng người ta mê giọng hát của anh Nhoàng và anh Nhoàng thì lại mê tiếng đàn bầu của ông Thảo. Mối lương duyên kỳ ngộ. Đêm đêm, cặp thông tin nghệ sĩ ấy đã thả vào không gian yên ả, ngưng lắng của làng quê những bản tin dồn dập cùng những khúc đoàn ca réo rắt...


Từ bé, mọi thứ anh Nhoàng chỉ toàn học lỏm, không có thầy. Đã bảo tạo hóa công bằng, cho anh sáng dạ nên học một biết mười và ông Thảo là thầy dạy đầu tiên truyền cho anh ngón độc huyền cầm có bài có bản. Từ cách so dây thế nào, gõ thử làm sao, cái chính là đôi tai biết lắng mà lẩy, vuốt cần đàn để âm thanh trầm bổng, ngắn dài cho hợp cung hợp quãng. Ngày đầu mới học, anh Nhoàng bật mạnh que tre, dây đàn bật lên những tiếng kêu dẳng, gắt. Đôi tai cực nhạy của anh điều khiển tay vuốt cần khiến cây đàn cứ vóng lên ử ử và liên tục đứt dây. May mà ở đầu thôn có ông Ba Nghiêm làm nghề sửa xe đạp cho mấy cuộn dây phanh cũ, nếu không trong chương trình của thầy Thảo nhiều đêm đã chỉ còn một vế.


Anh Nhoàng kiên trì lắm. Đêm đêm, sau các buổi phát thanh cùng thầy Thảo về, anh lại vác đàn ra giữa sân ngồi gảy. Dẫu không biết được ánh trắng xanh đến nhường nào nhưng nghe gió lướt trên những ngọn cây làm lao xao cánh lá, gió vuốt những sợi tóc lòa xòa trên vầng trán thông minh, anh Nhoàng như thấy lòng mình thơ thới và càng thêm cao hứng. Anh ngồi xếp bằng tròn, cái lưng cui cúi khòng khòng, cái đầu hơi nghiêng về một phía và thi thoảng lại gật gù như là tâm đắc lắm. Gảy rồi vuốt cần đàn, lại gảy, lại vuốt. Cây đàn chỉ có một dây ba khấc, mỗi khấc cách nhau chừng một gang tay khắc thành vạch trên mặt ống tre mà sao khó khiến. Gảy rồi vuốt mãi mà cây đàn chỉ phát ra những tiếng pập pập, pông pông, pập pông pông, pông pập pông. Anh đã cố nhẹ tay gảy, mềm tay vuốt như lời thầy Thảo dạy mà tiếng đàn nghe sao cứ đỏng đảnh, dấm dẳng như gái dỗi chồng.


Nghe anh đàn, nhiều người cũng đến nghe. Đàn vài khúc họ lại đòi nghe hát. Thế là đêm đêm trên sân gạch nhà anh Nhoàng lại có thêm một sân khấu vừa ca vừa nhạc. Quý anh, người ta bảo anh hát hay, đàn được. Nói thế là thật bụng chứ khen cả hát lẫn đàn hay thì chỉ là câu nói nịnh, bốc thơm. Anh nghĩ: Một ngày kia, người ta sẽ bảo: Anh hát được, đàn hay. Ấy là khi ngón đàn của anh đã vượt lên thêm mấy bậc thang.


Không thể nhớ được bao đêm anh Nhoàng đã ngồi bên cây đàn và gảy. Càng gảy anh càng thấy mình lạc giữa cô đơn.


Tạo hóa. Sự công bằng của Người đâu phải là vô tận, vô song.


Thầy Thảo bảo: - Giọng ca là của trời cho, tớ có muốn cũng không được. Còn như đánh đàn, ai học cũng đều biết. Còn giỏi, còn hay thì vô cùng lắm! Nhoàng cố mà học. Tớ có chết thì mình cậu làm luôn cả hai việc.


Thầy nói gở. Ai ngờ đêm ấy về, thầy thấy nhức đầu. Tưởng chỉ gió máy qua loa, thầy lên giường nằm mà không biết mình bị cảm nhập tâm ,cấm khẩu rồi chết, không trăng trối điều gì. Cây đàn còn đó nhưng bí quyết của ngón độc huyền cầm thì đã theo thầy ra ngủ yên trong khu mã ngoài Đồng Bãi.


* * *


Nhà chị ở bên kia con đầm thuộc làng Sài. Đêm đêm, chị vẫn nghe tiếng hát của anh Nhoàng như những âm thanh quen thuộc của làng quê: Tiếng đàn cò vỗ cánh trên rặng tre lúc chiều chạng vạng, tiếng sóng lúa rì rào trong mùa ngậm sữa cuốn câu... (Chị không nghe được tiếng đàn của thầy Thảo vì quá xa). Tiếng hát của anh như ngọn gió đùa trên mái rạ, len qua phên vách và chìm vào giấc ngủ. Tiếng hát như những giọt mưa ngấm vào lòng đất tụ thành những mạch ngầm lên giữa tâm tư. Trong nỗi cô đơn, thiếu hụt của người đàn bà góa bụa, giọng hát quen thuộc của anh Nhoàng tự bao giờ đã như một người bạn tâm giao, tri kỷ. Nó xoa dịu, vỗ yên những xao động trong lòng chị những đêm trời trở tiết. Đêm. Những que nhang vẫn cháy đỏ trên bàn thờ chồng khói nhang ngào ngạt, quấn quýt bao trùm lên gian nhà nhỏ bé vẫn lưu giữ những kỷ niệm về những ngày hạnh phúc. Trước khi rụi tắt, tàn nhang xoắn vào nhau thành những vòng tròn như vành khăn tang vẫn ngự trị trong tâm tưởng chị.


... Mấy đêm nay không nghe tiếng hát của anh Nhoàng. Chị bỗng thấy nhớ. Nỗi nhớ bâng quơ, vẩn vơ như thuở dậy thì. Nó đánh thức sự thiếu hụt mà bấy lâu nay chị đã muốn quên, đã cố tình khỏa lấp. Chị lần ra tận bờ đầm để nghe cho rõ. Chỉ có tiếng con cuốc lẻ kêu khan. Nhặt khoan. Khắc khoải. Chị lên giường nằm, búi tóc xổ tung, rối đen trên gối như tấc lòng thiếu phụ.


Ngoài hiên. Trăng vỡ òa. Lênh láng.


Chị trở dậy thắp hương trên bàn thờ rồi lầm rầm khấn vái. Que nhang cháy rồi lại tắt. Tay chị run run chạm vào những vành khăn tang tâm tưởng làm nó rớt xuống, vỡ vụn...


Không ai biết đêm ấy chị đã lội đầm sang với anh Nhoàng, len lỏi trong vườn khuya chờ nghe anh hát. Anh Nhoàng ngồi đấy. Trăng hắt lên khuôn mặt trắng xanh ngời ngợi. Ánh trăng không rọi sáng được vào hai hố mắt trũng sâu, đen quầng, đau khổ của anh. Anh dừng tay gảy khi nghe tiếng khóc dứt quãng, khe khẻ. Bằng sự tinh tế và nhạy cảm, anh nhận ra tiếng khóc như đã được kìm nén nhưng vẫn cứ tuôn trào của những nỗi niềm, cơn cớ. Phải chăng tiếng đàn của anh đã động tới tâm can? Đàn bầu ai gảy thì nghe/ Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu.


Cái bóng tối hằng bao bọc lấy anh như loãng ra khi có một bàn tay đàn bà nóng rực đặt lên tay anh, ngăn cho anh đừng gảy.


- Đừng gảy nữa. Tôi khổ lắm anh Nhoàng ơi!


Hơn bốn mươi tuổi, trái tim anh Nhoàng lần đầu run rẩy bởi những rung động đầu đời. Bao nhiêu năm qua, anh biết có những ánh mắt nhìn mình, những câu bỡn cợt, bóng gió buông tình. Tất cả chỉ là sự ve vãn thoáng chợt, như người ta vẫn vuốt, vẫn đá yêu con chó, con mèo khi nó chạy ngang qua. Mùi bùn, mùi lá sen của nước đầm và mùi mồ hôi ngầy ngậy trên cánh áo ướt của chị phả vào anh dịu dàng, chân thật.


... Anh Nhoàng đã yêu. Trinh trắng!


* * *


Anh Nhoàng cưới vợ. Đúng hơn là chị cưới anh Nhoàng bởi gia đình anh đã đồng ý cho anh ở rể. Đám cưới giản tiện, năm bảy mâm tập trung ăn uống ở nhà trai. Lúc trăng lên, khách đã về hết, chị mới xin phép nhà trai đón rể. Anh Nhoàng mang theo cây đàn của thầy Thảo để lại như  một thứ của hồi môn. Cô dâu dìu chú rể đi trên con đường giữa cánh đồng nối làng Xá với làng Sài. Sương đã ướt trên ngọn cỏ, đêm ngan ngát hương lúa non và ngất ngây mùi cỏ mật. Chị dìu anh lên chiếc giường cưới. Họ nằm bên nhau chưa ai nói câu gì. Chị biết. Anh đang trải qua cái phút giây hồi hộp và chờ đợi. Như cái đêm đầu tiên ngày trước chị nằm bên chồng. Thẹn thùng và khao khát những điều mới lạ. Như người ta giữa trưa hè mở lòng đợi gió heo may... Chị muốn làm một cử chỉ nào đó của người đàn ông trong đêm tân hôn như chủ động và âu yếm để anh đỡ ngượng. Nhưng chị không thể. Chị đang là phái yếu. Cái thiên chức bẩm sinh thụ động và nhất là trong đêm hợp hôn như đêm nay đã kìm giữ chị.


Tiếng đôi chuột cắn rạ roàn roạt. Chúng vờn cắn nhau chí chóe vô tư đến bản năng rồi đuổi nhau trên cây đòn tay chạy dọc nhà. Vì quá đam mê nên cả hai con cùng ngã xuống, chạm phải dây đàn bầu mà chị đã để cạnh đầu giường. Dây đàn rung lên hai tiếng: Tình - Tang. Đêm yên tĩnh ngỡ như nghe được cả tiếng mầm non đang tách vỏ, bật nhú một mầm xanh. Tiếng bầu ngân nga, dài mãi như không muốn dứt phụ họa cho khúc dạo đầu bản tình ca muôn thuở: Ái ân.


Họ như hai mảnh đời đã vỡ. Đêm nay xáo trộn để rồi liền lại trong nhau.


Người dân làng Xá, làng Sài quanh năm bán lưng cho đất, bán cật cho giời. Cảnh thuần nông không có đồng ra đồng vào, mọi thứ chi tiêu đều đổ dồn vào hạt thóc. Được mùa còn khả trợ, chỉ một vụ mất mùa thì mấy vụ tiếp gieo neo. Gán lúa non, đợ gạo. Trả nợ lãi vài năm chưa hết.


Làng Sài kiếm được đồng tiền mà không phải bán thóc khi ấy chỉ có anh cu Chỉnh (Không nói làng Kẻ Chợ vốn buôn bán từ xưa). Thời ấy còn làm ăn theo lối rong công, chấm điểm, bỏ việc hợp tác đi làm ngoài là vi phạm, phải kiểm điểm lên bờ xuống ruộng chả chơi. Ai cũng nghĩ vậy, cả làng đều nghĩ vậy nên cứ chưa chập tối đã vác tăm đi bình công chấm điểm. Tối nay nhà này nấu nồi bảy chè tươi, dăm bảy nhà ăn xong tới uống, ngồi nói chuyện tào lao, tối mai lại đến nhà bên cạnh. Cứ thế. Nhà nông mà nắng hạn, mưa úng cứ bình chân vì ruộng chung, chả phải lo nghĩ gì, cứ việc gác chân lên đố thượng mà ngủ. Mọi thứ đã có hợp tác. Chỉnh thì khác, Chỉnh học đâu được cái nghề bật mền chăn cũ. Ngày đi làm hợp tác, đêm vác đồ lề hành nghề khắp huyện. Pựt pựt, pông pông độ vài tiếng Chỉnh đã có thu nhập bằng mấy trăm điểm mà lại tiền ngay.


Bố chị bảo: - Đứa con gái nào có phúc mới lấy được thằng Chỉnh con ông Tề. Thằng ấy rồi sau sẽ làm nên công trạng.


Đêm ấy, chị đi làm bèo hoa dâu về, cái giống bèo dâu đêm nào cũng phải quải tro lên mới chịu được sương muối.  Mới đến ngõ đã nghe tiếng bật bông của Chỉnh. Tắm rửa qua loa, chị vào bếp ăn vội mấy sét cơm rồi ra ao vớt bèo cho lợn. Tiếng bật bông của Chỉnh từ nhà ngang cứ như níu theo chân chị. Rộn rã. Vui tai. Chăn đã bật xong chỉ còn trần chỉ, bố chị ngáp liền mấy cái, kêu mỏi lưng rồi đi nghỉ. Sở dĩ ông thức khuya là có ý canh chừng, chỉ sợ người ta ăn cắp bông của nhà mình. Chị ngồi nhìn Chỉnh luồn kim lên lên xuống xuống, các mũi cứ nối nhau đều tăm tắp. Đàn ông mà rõ khéo tay.


- Chăn nhà em mấy cân?


Kể cả xô trần, kém mấy hoa thì được ba cân.


- Chắc ấm lắm!


- Chưa ấm bằng chăn... Chỉnh không nói nữa, chỉ tủm tỉm cười rồi lại cúi xuống, bàn tay thoăn thoắt đưa kim. Chăn đã trần xong, chị gặng:


- Chăn mấy cân thì mới ấm?


- Chăn phải sáu mươi cân và ba mươi bảy độ. Chỉnh cười, khuôn mặt hồng hào, rạng rỡ.


- Phải gió cái nhà anh này.


Chị phẩy tay toan phát cho anh ta một cái, ai ngờ mất đà ngã chúi vào Chỉnh. Hai cánh tay Chỉnh ôm gọn chị vào lòng. Riết chặt. Giá như ở chỗ khác như ngoài bờ đầm thì chị sẽ kêu toáng lên. Nhưng ngay ở nhà mình, sợ bố thức giấc... Người đâu mà tợn như gấu thế. Chị lặng lẽ cự lại mà thấy râm ran từ gan bàn chân lên gáy. Chỉnh nhấc bổng chị lên thì thào:


- Mai tôi nhờ người sang đánh tiếng, bỏ trầu rồi xin cưới em làm vợ.


- Buông người ta ra...


Chị nhớ năm ấy rét ghê rét gớm. Trâu bò ra đồng phải đắp bao tải trên lưng. Nhiều con không chịu được quỵ luôn ở ngoài đồng. Người ta đốt lửa sưởi xung quanh, con bò gầy vừa lẩy bẩy đứng lên lại quỵ ngay xuống. Cánh ba toa được dịp trổ tài. Ông Tề được hợp tác ưu tiên bán cho một đùi làm đám cưới con trai. Chị lấy chồng mà cứ như chuyện của người ta. Chả kịp sắm sanh, chuẩn bị gì sất. Đêm tân hôn nằm trong chăn bông bốn cân mà chị cứ run bần bật. Sự lạ lẫm, ngỡ ngàng rồi cũng chóng qua đi. Nghĩ lại, thấy buồn cười. Có thế thôi mà cứ lo sốt vó. Bén hơi chồng, chị mơn mởn như cây mạ cắm xuống chân ruộng ngấu.


Đêm đêm Chỉnh vẫn đi bật bông, về đến nhà là chui đầu vào nách vợ... Rồi một đêm, chị vẫn để cửa chờ chồng. Nằm chờ mãi không thấy Chỉnh về. Ngóng ra ngóng vào cho đến sáng, thấy người ta hô hoán mới biết đêm qua, khi làm chăn xong, Chỉnh được chủ nhà tốt bụng đãi rượu. Khuya về gặp lạnh, đến đồng nhà bị trúng gió độc nằm chết còng queo ngay cạnh bờ mương.


* * *


Đêm chăn gối bao giờ cũng vẫn khởi đầu bằng một sự khám phá. Giá như đêm ấy anh Nhoàng đừng hỏi. Đừng muốn biết rằng vì sao chị lại lấy anh? Và có phải tiếng đàn bầu của anh đã khiến chị xiêu lòng?


Số chị đa đoan. Thầy bói bảo phải qua hai lần đò mới đứng số. Chị nghe chỉ biết vậy. Vốn thật thà như đếm, nghĩ sao nói thế, nghe anh Nhoàng hỏi chị bảo:


- Cái đêm nấp ở trong vườn đót, nghe anh gảy đàn làm tôi nhớ đến tiếng bật bông của Chỉnh nên mới khóc.


Đúng là may mà anh không gảy nữa. Nếu không, chị sẽ không còn là mình lúc lội đầm sang với tiếng hát của anh.


Nghe chị nói vậy, anh Nhoàng bỗng toát mồ hôi. Phát sốt. Vậy mà bấy lâu nay anh những tưởng... Hèn nào ở đời, người ta lắm khi chết vì cái danh hão cũng phải.


Chị kéo chăn xuýt xoa:


- Khiếp! Rét thế này không khéo trâu bò bị cước chân lại chết hàng loạt như năm nào thì khổ!


TVĐ


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Yêu rừng như yêu đời - Triệu Xuân 01.09.2017
Nắng chiều - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Lầu 3 Phòng 7 - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Ba sao giữa Giời - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Dưới bóng hoàng lan - Thạch Lam 10.08.2017
Người vác tù và - Triệu Văn Đồi 03.08.2017
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
xem thêm »