tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20012106
Truyện ngắn
07.06.2017
Ngọc Toàn
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền



Sống thì canh cửa Tràng Tiền


Chết làm bộ hạ Trung Hiền Kẻ Mơ.


 Ca dao Hà Nội


I-              Ba Tròn kéo xe đưa bà khách vào chùa Liên Phái lễ phật, lúc trở ra phải qua một cái nghĩa địa. Chùa rộng mênh mông, xây cất ở giữa thửa đất. Vườn chùa có hàng trăm cái mả dưới bóng những cây sấu cổ thụ. Ba Tròn thầm nghĩ: “Cảnh chùa như vậy mà chỉ có sư bà, sư bác và mấy chú tiểu thì sợ thật. Họ bạo quá!”.


Đến chỗ ngoặt, Ba Tròn nhìn thấy bức ảnh lồng kính của một cô gái trẻ trên ngôi mộ còn mới. Giời đất ơi! Đúng là cô ấy. Cô gái đã đi xe của anh hôm mùng 1 tháng 2 âm lịch. Không thể lầm được!


Bỗng có tiếng người nói:


- Đừng sợ! Không ai làm gì bác đâu.


Ba Tròn quay mặt lại. Cô gái bữa trước đã ngồi trên xe. Người trong ảnh, người đã đi xe và cô gái này chỉ là một.


Ba Tròn ấp úng:


- Thưa bà! Trăm lạy bà. Bà tha cho con làm phúc!


- Bác là người lương thiện, không ai làm hại đâu. Tôi còn ít tuổi. Đừng xưng hô như vậy!


- Thưa cô, con…


- Tôi chưa có gia đình, bị bạo bệnh, ra đi khi mới 23 tuổi, được 3 năm rồi. À này, tiền tôi trả bữa trước, bác tiêu hết chưa?


- Thưa cô, nhà cháu mới tiêu có 4 hào. Số còn lại, hôm sau…


- Hôm sau biến thành tiền âm phủ, làm tại phố Hàng Mã phải không? Tiền trên trần đốt cho chúng tôi, nếu người dương thế nhận lại thì phải tiêu ngay, để đến hôm sau thì biến thành giấy lộn. Thôi được, hôm nay tôi sẽ bù cho bác!


- Cảm ơn cô!


- Này! Bác có biết câu ca dao của Hà Nội về thần Trung Hiền và tây đen gác cửa Tràng Tiền không?


- Dạ có!


- Bác đọc tôi nghe!


- Sống thì canh cửa Tràng Tiền. Chết làm bộ hạ Trung Hiền Kẻ Mơ.


- Ở đây gần chợ Mơ. Bác cho tôi xuống đình Trung Hiền.


- Vâng!


 


- II -


Tối mùng 1 tháng 2 âm lịch, Ba Tròn kéo xe tay từ phố Bạch Mai lên phố Huế. Hôm nay ế quá, cả ngày mới chạy được một hào, không đủ trả tiền thuê xe cho chủ. Chiếc xe của Ba Tròn bao giờ cũng sạch sẽ, nệm và tựa bằng vải chúc bâu trắng, luôn luôn được giặt giũ cẩn thận như xe nhà, được gọi là xe Ô luých. Xe kéo thuê, sở đốc lý quy định sơn màu xanh dương, gọi là xe Ô mích. Ba Tròn luôn tự hào xe của mình bao giờ cũng tinh tươm như xe Ô luých.


Bỗng có tiếng gọi:


- Cho tôi lên chợ Hôm.


- Dạ, xin bà cho 1 hào.


- Được! Chạy cẩn thận. Tôi thưởng thêm.


Một cô gái ăn mặc lịch sự bước lên xe.


Ba Tròn ngạc nhiên: Sao cô này nhẹ như giấy? Loại người nào đi chơi vào lúc này nhỉ? Đã 8 giờ tối rồi. Gái làng chơi đi “bổ lẻ” chăng? Không phải! Hạng đó thì phải ăn mặc lòe loẹt, phấn son đầy mặt. Me tây chăng? Cũng không phải! Bọn ấy thường mặc váy đầm, hở rộng cổ, phi giê đầu xoăn tít, đi giày cao gót, sơn móng tay xanh đỏ, nói một câu phải đệm vài tiếng tây bồi. Chị em dưới xóm Vạn Thái, Khâm Thiên chăng? Cũng không phải! Mấy cô này ăn mặc nhếch nhác, nửa quê nửa tỉnh, đánh phấn như rơi vào thùng bột… Cô gái này lạ quá! Mặc áo lơ muya[1], hai vai bồng bằng nhung tím, cổ đeo kiềng vàng, tay đầy những xuyến, chân đi guốc kinh. Loại người nào nhỉ?


Cô gái khẽ gắt:


- Bác nghĩ bậy bạ gì thế?


Ba Tròn toát mồ hôi, cô ấy đọc được cả ý nghĩ của mình.


Đến trước miếu Hai cô cạnh chợ Hôm, khách nói:


- Cho tôi xuống đây!


Ba Tròn hạ càng xe, chờ mãi không thấy người bước xuống. Anh quay lại giật mình, xe không có người nào, chỉ thấy trên nệm năm tờ giấy bạc 2 hào mới cứng. Ba Tròn sợ toát mồ hôi. Xem xét mấy tờ giấy bạc cẩn thận, anh vào chợ đêm, mua gạo, lòng lợn, nước mắm… mất 4 hào.


Sáng hôm sau, lương thực thực phẩm còn nguyên, nhưng 6 hào còn lại biến thành tiền âm phủ in ấn lèm nhèm.


 


- III -


Đường từ chùa Liên Phái xuống chợ Mơ gập ghềnh, đèn đường đỏ quạch. Ba Tròn nghĩ ngợi: “Ma chùa Liên Phái xuống chơi với thần Trung Hiền Kẻ Mơ. Ma chơi với thần, đúng quá còn gì!”.


Cô gái khẽ gắt:


- Bác lại nghĩ nhảm nhí gì đấy?


- Thưa, không ạ!


- Đừng để tôi nổi giận!


- Dạ… dạ!


 


- IV -


Thần Trung Hiền Kẻ Mơ là người Minh Hương[2], theo gia đình sang Việt Nam từ thế kỷ 19. Cộng đồng người Hán chống nhà Mãn Thanh để phục hưng nhà Minh từ thế kỷ 17, nhưng không có cuộc khởi nghĩa nào thành công. Họ bị ngoại tộc đàn áp thẳng cánh. Từng đoàn người chạy trốn sang Đại Việt. Rải rác khắp Việt Nam, chỗ nào cũng có người làng Minh Hương.


Làng Trung Hiền ở cạnh chợ Mơ, có mấy chục gia đình người Hoa, tạo thành một cộng đồng nhỏ, do một ông lang mở tiệm bán thuốc Bắc đứng đầu. Ông này luôn giúp đỡ đồng hương nên được người làng nể trọng.


Tuy vậy, tính nết ông lang khá kỳ lạ: thích nuôi mèo đen và ăn thịt tất cả các con mèo có bộ lông màu khác, lấy xương nấu cao. Trong nhà có hàng chục mèo đen, nhưng ai cho thêm ông ta đều nhận hết.


Đặc tính thứ hai của ông là thích nhìn trộm đàn bà tắm. Trong làng có mấy cái giếng, bà con làm chung quanh những căn lều tre, nứa, lá để rửa ráy. Ông lang Tàu làm thêm vài cái lều bên cạnh để thỏa chí tò mò của cặp mắt. Khi người ta cởi quần áo là ông ta vạch một khe hẹp đủ để nhìn trộm. Những cô gái trẻ biết chuyện, sợ không dám đến giếng. Nhưng ông lang bị một bà nạ dòng dạy cho bài học. Lần đó, đang ghé nhòm qua lỗ thủng, ông ta bất ngờ hứng một cái đũa tre vót nhọn vào mắt. Tiếng rên rỉ đau đớn xen tiếng cười giễu cợt. Từ đó, ông phải đeo kính đen và trở thành lang chột. Vài năm sau, ông lang chết, người Minh Hương phong làm thần làng Trung Hiền.


Đình làng Trung Hiền xây khá quy mô, mặt tiền năm gian, phía trước có cái sân rộng. Mấy tên đầy tớ của ông lang chột được cho vào trông coi đình cùng với một ông từ. Lũ mèo đen cũng được nuôi nấng theo lời dặn dò của ông ta lúc hấp hối.


Lũ bộ hạ quá hiểu thần nên tuyên truyền rằng, ai buôn bán ở chợ Mơ, muốn đắt hàng thì hãy vào đình, tốc váy cho thần “thưởng lãm”. Đầu tiên, chỉ có một vài người Hoa, sau các bà các cô bán hàng trong chợ là người làng Linh Đàm, Mai Động, Hoàng Liệt… cũng bắt chước. Số người làm việc kỳ quặc này ngày càng đông. Thời đó, phụ nữ nhiều người còn bận áo tứ thân, váy nâu; ai sang trọng hơn thì có váy lĩnh, thắt lưng bằng nhiễu Tam Giang. Mặc “quần một ống” thì cho thần Trung Hiền ngắm nghía dễ hơn quần hai ống.


Lũ mèo đen khi thấy các bà các cô là meo meo lên nhắc nhở. Mỗi con được một miếng thịt mỡ hối lộ. Lũ bộ hạ có sáng kiến, đục cái tường phía sau ngai thờ những lỗ nhỏ để nhìn trộm. Ngày nào chúng cũng được hưởng ơn huệ của thần.


Ba Tròn đậu xe phía đối điện cửa đình. Cô gái cầm một cái roi bằng đuôi cá đuối xăm xăm bước vào. Loại roi này còn ghê gớm hơn roi da bò bện lại. Đầu roi có một cái gai chứa nọc độc, ai trúng đòn thì tê cứng cơ thể, nhiễm trùng, thối thịt dẫn đến hoại tử.


Ông từ thấy cô gái không phải loại người vào đình cho thần chiêm ngưỡng của quý, chưa kịp hỏi đã bị lãnh một roi. Ông ta sợ quá, nép vào góc cửa, không dám lên tiếng. Lũ mèo đen meo meo đòi hối lộ. Cô gái mới quất một cái, chúng đã chồm chồm nhảy lên, chạy loạn xạ. Con nhảy lên bàn thờ, con nhào ra cửa, con trốn dưới hương án…


Bốn tên bộ hạ phải ra tay. Chúng cầm gậy gộc đánh đuổi kẻ phá đình, hò hét om xòm và hy vọng thần ra oai bằng phép màu kỳ diệu. Nhưng khi mỗi tên trúng một đòn thì cả bọn chạy trối chết vào làng cầu cứu.


Cô gái bước lên thềm, gác chân vào ngai thờ thần, mắng nhiếc:


- Mi sang đây ăn nhờ ở đậu mà lại giở trò làm nhục người Việt. Ta không thể tha thứ được!


Cứ cái ngai, cô quất cho hàng chục ngọn roi.


Ông từ nấp ở ngoài sân, sau này kể lại:


- Cứ mỗi lần cái roi cá đuối quất xuống là tôi lại nghe tiếng rên rỉ, van xin tha mạng.


Roi nhỏ mà có sức mạnh. Cái ngai bị gẫy vụn từng mảnh. Phá chỗ ngồi của thần xong, cô gái đập vào chiếc bát hương bằng đồng to như cái thùng gánh nước. Nó bẹp dúm, chân hương tung tóe, bụi mù mịt.


Cuối cùng bao nhiêu đèn ba dây, đèn măng xông đều bị hất xuống đất. Dầu hỏa chảy vào hoành phi, câu đối, màn thờ… bùng cháy. Cả cái đình biến thành một ngọn đuốc.


Ba Tròn và những người dân đang xem phá đình, từ trên xe có tiếng cô gái:


- Cho tôi về miếu Hai Cô!


- Dạ! Tôi hỏi không phải, cô bỏ qua. Cô là cô chị hay cô em ở miếu?


- Miếu thờ hai bà chị kết nghĩa của tôi. Nhà tôi ở chùa Liên Phái, bác đã biết. Chiều mùng 1 tháng 3 âm lịch, bác đón tôi ở chùa, cho tôi đến nhà đúc tiền có việc.


- Dạ!


- V -


Dân làng đến đình Trung Hiền chữa cháy. Tất cả chỉ còn một đống gạch vụn. Đến mấy câu quéo cũng xém lá. Người Minh Hương xây lại đình như kiểu cũ. Nhưng những người bán hàng ở chợ đến cho thần “thưởng thức” vắng dần. Họ vẫn tốc ngược “bàn tà lồng ộp”[3] cho thần xem, song buôn bán vẫn ế. Thần mất thiêng!


Khi mở rộng thành phố, con đường chạy qua đình thần Trung Hiền. Người ta phá bỏ vì không ai chịu góp tiền làm lại.


Có lẽ thần đã về Tàu!                    


- VI -


Đúng hẹn, Ba Tròn đến phố Bạch Mai để đón cô gái. Còn đang ngơ ngác, thì một giọng nói êm ái nhẹ nhàng từ trên xe như gió thổi:


- Hôm nay bác kiếm đủ tiền mua gạo cho vợ con chưa? Đưa tôi đi trừng trị bọn Tây đen gác cổng xưởng đúc tiền.


Ba Tròn quay lại, vẫn cô gái đó với cô gái khuôn mặt nhợt nhạt, thiếu ánh mặt trời. Anh mừng ra mặt:


- Đa tạ cô quan tâm đến người nghèo. Nhưng giờ này thợ về hết, bọn gác cổng tập trung cả lại, cô khó đối phó.


Một tiếng cười lanh lảnh:


- Càng đông càng tốt. Tôi trị một thể!


Chủ nhà tiền là một tên Tây đảo Coóc, to béo, ăn nói ồn ào, cửa miệng là những tiếng chửi. Gã ăn mặc đặc Tây thuộc địa: sơ mi vét vải lanh ngắn tay, quần soóc, bít tất, mũ cát đều màu vàng ka ki; tay cầm một cái dùi cui của cảnh binh. Chung quanh gã là một mớ me Tây mặc đồ đầm, hở ngực, hở nách. Mụ nào cũng to béo như chủ. Gã nuôi bọn bồi bếp, lái xe và những tên gác cổng đều là người da đen từ các thuộc địa của Pháp ở châu Phi tới. Quản lý bọn này là một tên Sênêgan sứt môi. Tất cả chúng đều muốn giống ông chủ từ cách ăn uống, nói năng, chửi bậy. Chỉ khác một điểm là nước da của chúng như những cột nhà cháy.


Bốn tên gác cổng thấy một cô gái mặc quần áo xanh có yếm trước ngực của thợ, từ trong xưởng đi ra. Tên cầm đầu quát:


- Cô kia đi đâu? Sao đến giờ này mới về? À, mà lạ mặt quá, vào xưởng từ bao giờ?


- Sáng nay!


- Ai đưa vào làm?


- Ông chủ.


- Có ăn cắp tiền không?


- Có chứ! Đến nhà tiền không lấy tiền thì lấy gì!


Tên cầm đầu nhảy xổ đến, tay trái xọc vào trong áo ngực, tay phải luồn vào quần cô gái. Đang cười hềnh hệch và lôi ra hai đồng hào đôi, bỗng nó hoảng hốt, mồm méo xệch, há hốc giữa cặp môi thâm sì. Hai đồng hào nóng bỏng lên như vừa ở lò đúc ra, dính chặt vào hai bàn tay trắng nhờn nhợt. Mùi da thịt bốc cháy khét lẹt.


Tên cầm đầu kêu lên:


- Bắt lấy con này. Nó là phù thủy Phi châu!


Ba tên đàn em nắm chặt lấy cô gái như muốn ăn sống nuốt tươi. Tên cầm tay, tên bóp cổ, tên nện dùi cui vào đầu cô gái. Nhưng chúng đánh, nắm, bóp vào không khí, cả người cô gái hình như không có xương thịt.


Bốn tên gác cổng chưa kịp định hồn, cô gái phả một luồng hơi vào mặt chúng. Mùi hôi thối luồn lên tận óc, xuống tận phổi, ghê hơn cả sở thùng, tởm lợm hơn mùi chuột chết. Nó là mùi tử thi đang bị phân hủy. Bọn chúng bịt mồm, bịt mũi nôn ọe. Bữa cơm giữa giờ được ông chủ cho ăn gồm ổ bánh Tây[4] và một đĩa pa tê rẻ tiền làm bằng lòng bò, chúng nôn ra hết.


Cả lũ chưa kịp hoàn hồn thì bị cô gái thè cái lưỡi đỏ lòm dài đến hai gang tay liếm vào mặt. Nước bọt ở đầu lưỡi nhờn nhợt như mỡ bò. Chỗ bị liếm nóng lên như chạm phải sắt đang nung ở lò rèn. Da thịt cháy xèo xèo, lớp biểu bì bị lột khỏi khuôn mặt. Tên nào bị lưỡi liếm vào môi, vào mũi thì phần thịt rã ra.


Bọn gác cổng lăn lộn, kêu khóc, lạy van, xin cô gái tha mạng. Chúng nghĩ ngay đến pháp thuật của phù thủy châu Phi.


Cô gái mắng:


- Từ nay, chúng mày không được phép giờ trò mất dạy với đàn bà Việt Nam nữa. Lần này, ta tạm tha không cắt tai, cắt lưỡi. Bảo tên chủ mau cuốn gói về nước. Có ngày, ta đến tận nhà nó ở đường Xăng Xôm[5]s trừng trị!


Cô gái ung dung lên xe Ba Tròn, nhẹ nhàng cất tiếng:


- Bác cho tôi về miếu Hai Cô để tôi thăm các chị. Bác nhớ không được hở chuyện này cho ai biết. Nếu bọn Tây xuống chùa Liên Phái phá nhà tôi thì tôi không tha cho bác đâu.


- Dạ… dạ! Tôi không dám!


Tên chủ Tây cho ngay bốn nạn nhân vào nhà thương Phủ Doãn[6] cấp cứu. Mặt chúng sưng tướng lên, mọng nước, đau rát. Viên thầy thuốc người Pháp cho làm sinh thiết để chẩn trị. Ông ta hỏi bệnh nhân:


- Các anh bị bệnh truyền nhiễm gì?


Cả bốn tên đều rên ư ử:


- Thưa quan đốc tờ, chúng tôi bị ma liếm.


- Các anh nói sao? Thế kỷ hai mươi mà còn nói chuyện ma à? Chỉ có các nước thuộc địa châu Phi của các anh mới còn mê tín nhảm nhí.


Kết quả xét nghiệm không làm cho viên bác sĩ Pháp vừa ý: không vi trùng, không nhiễm độc hóa chất. Ông ta nói với mấy sinh viên thực tập:


- Đây là một bệnh lạ, tôi sẽ gửi bệnh phẩm về Paris để viện Pasteur nghiên cứu. Ô la la… Lần đầu tiên trong đời, tôi gặp trường hợp này. Tôi đã làm việc ở Pháp, Madagascar, Sài Gòn mà chưa thấy người nào mắc phải.


Một tháng sau, bốn bệnh nhân xuất viện. Những chỗ ma liếm lột mất làn da ngoài, lớp da non mới mọc không cùng màu, đỏ như thịt ngựa và mọc lên một lớp lông cứng. Bệnh nhân vừa cạo mặt xong thì hôm sau lông đã lại nhú dài ra đến mấy ly. Hôm ra viện, cả bọn về ngay nhà Tiền gặp ông chủ. Chúng tin là sự trung thành sẽ được ông chủ da trắng tưởng thưởng.


Ông chủ hỏi han vài câu chiếu lệ, rồi đưa cho mỗi tên một cái giấy thôi việc. Chỗ làm của chúng đã có người khác thay thế.


Ông chủ Tây bỗng nhiên đột tử. Công nhân bảo nhau, có lẽ gã cũng bị ma làm. Từ đấy, bọn gác cổng nhà Tiền bớt lợi dụng sờ soạng các nữ công nhân.


 


- VII -


Lần xuống nhà Tiền, Ba Tròn được cô gái thưởng 10 đồng bạc. Hôm sau, anh mua ngay xe kéo riêng, không phải thuê của chủ hãng nữa.


Một vài lần, Ba Tròn đưa khách đến chùa Liên Phái. Ngang qua mộ cô gái, anh có cảm giác ánh mắt trong bức ảnh luôn cười với mình. Nhưng không bao giờ anh gặp lại cô.


Nguồn: Bí mật đền Sĩ Nhiếp. Tập truyện Dị sử của Ngọc Toàn. NXB Văn học, 2012. Lời tựa của nhà văn Triệu Xuân.


www.trieuxuan.info







[1] Lơ muya: áo dài phụ nữ do họa sĩ Cát Tường sáng tạo vào đầu thế kỷ 20. Trong tiếng Pháp, “Cát Tường” đồng âm với “cái tường”, đọc là “lơ muya”.




[2] Minh Hương: Những người Trung Quốc theo nhà Minh chạy trốn nhà Thanh sang Việt Nam.




[3] Bàn tà lồng ộp: Cách nói hài hước “cái váy” theo tiếng Pháp.




[4] Bánh tây: Bánh mì, cách gọi trước cách mạng tháng Tám.




[5] Xăng Xôm: Tên phố Triệu Việt Vương trước đây.




[6] Phủ Doãn: Ngày nay là bệnh viện Việt Đức.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
Nghĩa địa bên sông Chanh - Ngọc Toàn 07.06.2017
Hoa khôi xứ Mường - Ngọc Toàn 01.06.2017
Ông chéo ngà, Bà rách tai - Ngọc Toàn 01.06.2017
Kẻ vô ơn - Ngọc Toàn 01.06.2017
Đầu Phạm Nhan - Ngọc Toàn 01.06.2017
Rắn hổ mang chúa - Ngọc Toàn 01.06.2017
xem thêm »