tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20012097
Truyện ngắn
07.06.2017
Ngọc Toàn
Koòng Kói



I- Tàu hỏa đỗ ở ga Quán Triều. Thuận nhận xe đạp và quyết định đến thăm gia đình Lược ở làng Cẩm trước, rồi mới lên Đại Từ chơi với Đạt. Lược, Đạt, Thuận là bộ đội kháng chiến chống Pháp, cùng hoạt động ở Lào và tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Ba người cùng một tổ tam tam trong tiểu đội và thân nhau hơn anh em ruột. Thuận là người Hưng Yên, Lược và Đạt là đồng hương Thái Nguyên. Cả tiểu đội chỉ có Lược là người Trại, một dân tộc ít người cư trú ở miền Bắc.


Năm 1954, Lược nằm lại mãi mãi ở cánh đồng Mường Thanh. Đạt là thương binh loại 2/4 và cùng Thuận phục viên một ngày.


Thuận nhớ lại lời dặn của Đạt viết trong thư, đi qua cầu Thông độ năm cây số là đến nhà Lược, cái nhà sàn to nhất bản, rất dễ tìm.


Thuận mới đạp xe độ ba cây số thì gặp một cô gái mặc áo trắng, quần đen đứng giữa đường ngăn lại:


- Anh Thuận phải không?


Thuận ngạc nhiên:


- Cô là ai mà biết được tên tôi?


- Em là Mỵ, em ruột anh Lược đây mà. Đêm qua anh Lược báo mộng cho em biết, hôm nay thế nào anh cũng lên chơi. Nếu thấy người nào mặc quần áo bộ đội, đi xe đạp màu xanh thì đúng là anh Thuận.


- Có chuyện Lược báo mộng thật à? Lạ quá nhỉ!


- Không có anh Lược thì làm sao em biết mà đón anh. Bây giờ mời anh vào nhà em, gần đây thôi.


Dắt xe đi cạnh cô gái, Thuận thấy Mỵ đã Kinh hóa hoàn toàn, phát âm không còn nhầm lẫn “l”, “n” và các dấu hỏi, ngã. Mùi hương nhu từ tóc Mỵ tỏa nhẹ trong không khí làm Thuận nhớ đến người chị đã đi lấy chồng xa.


Căn nhà sàn cách đường lớn độ 500m, dựng bên sườn một ngọn đồi, có dòng suối róc rách một nhạc điệu đều đều suốt ngày đêm. Nhà sàn có vẻ mới làm, tre gỗ chưa đậm màu năm tháng, khác với căn nhà mà Lược từng kể lại là có tới sáu hàng cột cái và được nâng cao lên tới năm bậc. Khi có việc ma chay, hiếu hỷ thì các bậc bô lão ngồi bậc thứ năm trên cùng, cha chú ngồi bậc thứ tư, trai tráng ngồi bậc thứ ba, các thiếu nữ ngồi ở bậc hai và những người mẹ có con nhỏ cùng bọn lít nhít cởi truồng ngồi bậc cuối cùng. Hai bên cánh gà là những cái buồng nho nhỏ dành cho những cặp vợ chồng mới cưới.


Thuận hỏi:


- Hình như nhà sàn này không phải là cái mà anh Lược kể với tôi?


Mỵ cười:


- Anh tinh quá. Nó mới được làm có bốn tháng nay, dành cho em cưới chồng về đây ở. Bây giờ, người Trại cũng bắt chước người Kinh, không ở đại gia đình nhiều thế hệ, trai gái cưới xong sẽ về ở nhà riêng.


- Thế thì cô đưa tôi đi thăm bố mẹ cô trước đi.


- Bố mẹ em không có nhà. Cả hai người đi thăm anh Lạc ở Định Hóa. Anh Lạc đi bộ đội cũng được hai năm rồi.


Đặt gói kẹo bánh lên chiếc bàn nhỏ ở góc nhà, Thuận nói:


- Tôi có chút quà biếu hai bác. Bây giờ, tôi đi Đại Từ thăm anh Đạt đây.


- Anh nhìn ngoài trời xem, cơn mưa đang kéo đến kia kìa. Mưa rừng dai lắm, hết đêm nay chưa chắc đã tạnh đâu. Đường khó đi, không chừng anh ngã xuống vực đấy. Vùng này còn nhiều thú dữ, mấy hôm vừa rồi, người ta bắn được một con hổ ba chân ở Lũng Nai. Em đã đánh bẫy được hai con gà rừng và mua được con dúi làm cơm thết anh. Anh đã ăn thịt dúi bao giờ chưa?


- Bọn tôi ăn nhiều lần ở Lào rồi. Thị dúi ngọt hơn thịt thỏ. Riêng da dúi dầy như da bò nhưng giòn hơn, ngon lắm. Nó sạch hơn chuột vì chỉ ăn tre nứa, ruột đầy bột giấy.


Bữa cơm vui vẻ. Cô Mỵ kể lại những chuyện giữa Lược và Thuận như người trong cuộc. Mưa rầm rập đổ xuống. Tiếng nai tác, tiếng cú kêu trong rừng âm u làm cho ngọn lửa nhà sàn thêm ấm cúng. Thuận cố không ngáp. Mỵ biết ý lấy ra một chiếc chăn bông, vỏ chăn in hình rồng phượng lòe loẹt.


Mỵ nói:


- Anh ngủ đi, cả ngày hôm nay vất vả rồi, cần nghỉ ngơi để mai còn đi thăm anh Đạt.


Thuận nhìn quanh nhà:


- Thế cô ngủ ở đâu?


Mỵ cười:


- Anh đừng lo, em nằm chỗ nào mà không được.


Chiếc chăn thơm tho mùi lá bưởi, hoa nhài, hương nhu. Thuận kéo chăn lên đến cổ rồi thiếp đi rất nhanh, khi tỉnh dậy chắc đã gần đến nửa đêm. Ngọn đèn dầu đã vặn nhỏ, ánh sáng yếu ớt, không đủ soi tỏ mặt người. Đống lửa giữa nhà chỉ còn lép bép than reo. Cô Mỵ nằm cạnh. Thuận giật mình, cô gái không một mảnh vải che thân. Anh nhỏm dậy hỏi:


- Cô ăn mặc thế này sao tiện?


Mỵ khúc khích cười;


- Từ bé, em quen ngủ không mặc quần áo rồi.


Cô quay mặt lại đối diện với Thuận:


- Anh có nhớ là anh Lược đã gả em cho anh rồi không?


- Đâu có? Bao giờ?


- Cái đêm các anh gặp ma Koòng Kói ở Lào, anh đã quên rồi à?


- Đấy chỉ là chuyện nói đùa, chứ có cam kết gì đâu.


- Tại sao anh không từ chối ngay lúc đó? Đối với dân tộc em thì như thế đã là nhận lời. Hôm nay là ngày cưới của chúng ta.


- Không được…


- Em biết anh sợ trách nhiệm, con gái dân tộc ít người chúng em dễ lắm, yêu nhau cứ việc vào rừng, cha mẹ cũng không ngăn cản.


- Thế nhỡ…?


- Chúng em có bài thuốc bí truyền, lấy vài loại lá để tránh thai. Không bao giờ có người chửa hoang làm cả bản phải thắc mắc.


Cô nắm lấy tay Thuận:


- Anh yên tâm đi, em không để lại phiền nhiễu gì cho anh. Ngày mai anh ra đi, em chẳng biết tìm anh ở đâu mà trách móc. Chúng ta là vợ chồng một đêm rồi xa cách mãi mãi.


Việc phải đến đã đến. Xong xuôi, Thuận nói:


- Em vẫn còn là con gái.


Mỵ thừa hiểu Thuận định nói gì. Cô đánh trống lảng:


- Em không là con gái thì là bà già à?


Ngủ giấc dài, lúc tỉnh dậy Thuận thấy Mỵ nằm trong lòng mình, hình như cô không ngủ cả đêm. Mỵ nói:


- Anh kể chuyện ma Koòng Kói cho em nghe đi. Lát nữa em sẽ thưởng cho anh.


- Anh Lược chưa kể cho em nghe à?


- Chuyện kể trong giấc mơ, làm sao kỹ được.


 


- II -


Trước khi đánh Điện Biên Phủ, đơn vị của Thuận được đưa sang Lào để thu hút Tây sang chiến trường mới. Tiểu đội của Thuận có mười một người do Thụ, một học sinh vùng tạm chiếm làm tiểu đội trưởng. Thụ nhanh nhẹn, lém lỉnh, vạch kế hoạch tác chiến giỏi, không tin có ma quỷ. Thuận, Lược, Đạt cùng tổ tam tam. Vùng hoạt động của tiểu đội phải đối phó với một trung đội lính Tây, trong đó có lính ngụy và người Lào làm tay sai cho giặc. Rừng núi âm u, địa hình bí hiểm, ta và Tây săn đuổi nhau nhiều ngày, đã có lần đụng độ nhưng thương vong không đáng kể. Pa Thét Lào đưa một người du kích địa phương làm hướng đạo và cũng là tham mưu cho tiểu đội.


Một chiều hành quân, tiểu đội gặp một con chim cao độ hai gang tay, có bộ mặt của loài cú, cái mỏ dài trông như bộ râu của người già. Chim đi chậm chạp bằng hai chân, hai cánh chống xuống đất như người chống gậy.


Người du kích Lào hoảng hốt:


- Quay lại ngay! Gặp chim Koòng Kói xúi quẩy lắm, không chừng bị phục kích bây giờ!


Thụ ngạc nhiên:


- Chẳng lẽ nó có quyền lực như vậy sao?


Người du kích Lào và Lược tranh nhau nói:


- Chim Koòng Kói còn gọi là chim Ông cụ, ngay cả các tướng lĩnh cao cấp cũng rất sợ. Khi hành quân gặp chim Koòng Kói đều phải chuyển hướng đi.


Hai ngày sau, tiểu đội lại gặp chim Ông cụ. Nó bị rơi xuống một cái hố sâu 2 mét, không thể nào leo lên được. Với hai cái cánh bị tiêu giảm, nó đã mất khả năng bay.


Người du kích Lào chặt ngay một cành cây có nhiều lá cho chim bám vào, rồi cùng Lược từ từ kéo nó lên khỏi hố. Chim chậm chạp bỏ vào rừng, kêu những tiếng ghê rợn Kói kói… kói… kói… và để lại một mùi hôi thối khó tả.


Thụ thắc mắc:


- Nó chạy chậm thế kia thì thoát sao khỏi bọn thú dữ?


Người du kích Lào trả lời:


- Thịt nó thối lắm, lại rất độc, không con hổ, con sói nào dám ăn.


Lược xác nhận:


- Thịt chim Ông cụ độc hơn cả sâu ban miêu, lá ngón... Nó kêu Kói kói… kói… kói… là sẽ trả ơn đấy.


Cả tiểu đội đều ngặt nghẽo cười chuyện viển vông. Người du kích Lào giận dữ:


- Các đồng chí không tin cũng được nhưng phải nghe tôi nếu không muốn bị Tây giết chết.


Ban đêm. Chim Bắt cô trói cột gọi nhau làm không gian thêm lạnh lẽo. Bỗng xung quanh khu nghỉ đêm của tiểu đội vang lên Kói… kói, kói koòng kói… Kói… kói, kói koòng kói… Cả đơn vị choàng dậy. Người du kích Lào giục anh em:


- Dậy đi ngay! Tây sắp đánh úp. Chim đến báo ơn đấy!


Thụ hỏi:


- Hay ta phục kích ở đây cho nó vào tròng!


- Không được! Nó nhiều, ta ít. Vũ khí của nó mạnh hơn, ta sẽ thiệt hại.


- Vậy phục kích ở cầu Lê Chôn!


- Đúng rồi, nó bị bất ngờ và không có điều kiện chống trả. Bây giờ, phải dập lửa, rồi lội qua suối để chó Tây không đánh được hơi.


Cả tiểu đội lội suối hai lần mới đến được cầu Lê Chôn, nơi chỉ có con đường duy nhất tới chỗ họ vừa đóng quân. Cầu Lê Chôn là một chiếc cầu bê tông cốt sắt, dài gần 30 mét, bắc qua một con suối. Nó bị đánh gãy ngay từ đầu kháng chiến để ngăn các cuộc hành quân của địch. Bây giờ, cầu bị chia làm ba khúc, xuống phải lê rồi bơi qua suối, lên phải bò. Người du kích Lào và Lược nằm úp tai xuống đất. Cả hai đều nhận định:


- Địch vẫn chưa qua đây!


Thụ ra lệnh:


- Chờ địch qua suối, đến giữa dòng mới bắn. Lúc lên, lúc xuống, lúc bơi chúng đều không thể dùng được vũ khí. Tổ Một của đồng chí Lược bắn bọn bò lên bờ. Tổ Hai bắn bọn lê chôn. Tổ Ba ném lựu đạn xuống giữa suối. Ta chỉ có một khẩu K50, phải bắn dìm đầu bọn ở bờ bên kia. Khi tôi ra lệnh, các đồng chí mới được khai hỏa!


Muỗi rừng nhiều vô kể. Chờ cả giờ cũng không thấy Tây, có chiến sĩ đã oán người du kích Lào và chim Koòng Kói làm mất giấc ngủ. Bỗng từ xa có tiếng gầm gừ của chó bị bịt mõm. Tây sắp đến. Không khí căng ra như dây đàn.


Giặc chủ quan lao ào ào xuống cầu Lê Chôn. Hai con chó Tây đi đầu kéo xềnh xệch hai tên lính cầm sợi xích xuống nước. Quá nửa trung đội địch đã xuống suối. Tên bò, tên bơi, tên lê hỗn loạn…


Thụ nổ súng vào một tên bò cách bờ còn 3 mét. Nó lộn đầu xuống nước. Đấy cũng là hiệu lệnh tấn công. Súng nổ, lựu đạn nổ, địch không kịp trở tay. Khẩu K50 bắn bọn bên kia suối làm những tên chưa kịp lê chân hoảng hốt chạy, chúng chỉ bắn được một vài loạt đạn vu vơ.


Gần như tất cả bọn qua cầu đều bị tiêu diệt, kể cả hai con chó.


Thụ hô:


- Xung phong! Xung phong!


Tiếng hô cuối kéo dài, cả tiểu đội biết đấy là hiệu lệnh rút lui, lần lượt quay về gốc gạo bị sét đánh. Không một ai bị thương vong. Sau trận đánh, đến chỗ tập kết, không khí khói lửa còn căng thẳng, Thụ pha trò:


- Ma Koòng Kói kêu kói kói… kói koòng kói… cứ như nhịp điệu tăng gô của Á Căng Đình[1]. Khi nào có dịp liên hoan, chúng ta mời nó về giúp vui cũng hay đấy nhỉ!


Cả tiểu đội đều cười vang.


Sau trận đánh, trung đội thực dân Pháp gần như xóa sổ. Những tên còn lại rút về đồn bốt, không dám thò đầu ra khỏi nơi trú ẩn. Mừng thắng lợi, tiểu đội liên hoan văn nghệ. Đạt thổi khẩu cầm (ácmônica), Thụ đánh đàn băng giô. Đấy là những vật bất ly thân của hai người.


Thụ vừa đàn vừa nhại lời bài hát “Chiến sĩ hải quân” của Văn Cao: “Ra đi không mang va ly, quần áo cứ thế cắp nách, chân quên không đi xăng đan, miệng hút thuốc lá Míc[2] mốc…”.


Cả tiểu đội vui hẳn lên.


Thuận ngâm bài thơ “Tâm sự đêm giao thừa” của Hoàng Cầm. Lược khen:


- Mày ngâm thơ hay quá. Tao có cô em gái xinh lắm. Khi nào độc lập, tao sẽ gả nó cho mày!


Thuận hỏi:


- Em mày bao nhiêu tuổi?


- Nó đã mười bốn.


- Thôi mày để cho nó đi học thêm dăm bảy năm nữa hãy tính chuyện chồng con.


- Khi độc lập, nó cũng lớn rồi. Con gái dân tộc tao lấy chồng từ mười lăm, mười sáu tuổi.


- Thôi để hòa bình sẽ tính sau. Tao không thích lấy vợ trẻ con, lúc nào cũng nhõng nhẽo…


Năm 1954, cả tiểu đội đều tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Lược nằm lại mãi mãi…


- III -


Thuận kể xong câu chuyện ma Koòng Kói, Mỵ khen:


- Anh kể chuyện hay lắm! Em thưởng cho đây này.


Hai người quấn chặt lấy nhau một lần nữa. Xong việc, Mỵ hỏi:


- Anh có sợ ma Koòng Kói không? Lỡ em là ma thì sao?


- Nếu Mỵ là ma thì anh tình nguyện sống với con ma đáng yêu này suốt đời.


- Anh không hối hận đấy chứ?


- Không bao giờ! Anh sẽ về nói với mẹ lên hỏi cưới em về làm vợ.


Mỵ nói bâng quơ:


- Biết thế nào được ngày mai!


- Mỵ lý sự như một bà cụ non.


- Lúc trước, anh bảo em là con gái, bây giờ là bà cụ non, không chừng lát nữa bảo em là bà cụ già.


- Em láu lỉnh hơn cả mấy cô vùng xuôi. Chắc gần em không bao giờ buồn.


Mỵ thở dài…


 


- IV -


Thuận đạp xe đến trưa mới tới Đại Từ và hỏi thăm hiệu ảnh Tiến Đạt, người ta chỉ cho ngôi nhà ở giữa huyện lỵ, bảng hiệu vẽ hai cái máy ảnh to tướng. Đạt đang phơi cuộn phim vừa mới tráng xong.


Đạt mừng rỡ:


- Nhận được thư của mày, tao tưởng mày đã đến đây từ hôm qua, chờ sốt cả ruột.


- Tao lại thăm nhà thằng Lược trước rồi mới lên đây.


- Có gặp bố mẹ nó không?


- Họ đi vắng. Tao gặp cô Mỵ.


Đạt tròn mắt nhìn Thuận:


- Mày gặp cô Mỵ? Mày có lầm không? Mặt mũi cô ấy thế nào?


- Mặt trái xoan, mắt một mí hơi xếch, dưới dái tai bên phải có một nốt ruồi đen.


- Thế thì đúng rồi!


- Tao còn được cô ấy cho xem chiếc ảnh mày phóng to, téch-ních-cô-lo cái môi đỏ chót.


- Đúng rồi!


- Mỵ còn có cái nốt ruồi son ở vú bên trái.


- Thế là thế nào?


- Khi đánh Tây ở cầu Lê Chôn, thằng Lược hứa gả Mỵ cho tao. Cô ấy bắt tao thực hiện lời hứa đó. Chúng tao đã sống một đêm như vợ chồng. Tao sẽ mời mẹ tao lên hỏi Mỵ về làm vợ.


Đạt cúi mặt suy nghĩ lan man. Có hai cô gái vào chụp ảnh. Đạt nói:


- Mày đi xem nhà cửa của tao. Còn tao chụp cho khách vài kiểu rồi hai đứa nhắm rượu với thịt lợn rừng.


Hai cái khung lồng kính giới thiệu các “tác phẩm” của Đạt, bên trong có mấy chục cô tiên đang bay cùng một kiểu, chỉ có những cái đầu là khác nhau. Phòng sáng của Đạt ở giữa vườn. Đó là một cái lều tre nứa, trong có mấy chiếc phông. Phông được các cô gái ưa thích nhất vẽ hình một cô tiên không đầu, đang bay với hai cái cánh như cánh ngỗng. Cô nào thích thành tiên thì cứ việc chui đầu qua cái lỗ ở cổ và toét miệng ra cười cho Đạt bấm máy.


Thuận nhớ những kỷ niệm hồi đi bộ đội, mỗi lần lau súng đạn hay giặt quần áo là Đạt đều khe khẽ hát “Dăm cô tiên xiêm áo trắng toát, cánh buồm dập dìu rẽ mây…”. Thì ra thằng này thích tiên nên biến tất cả khách hàng của nó thành tiên.


Cả buổi chiều, Đạt đóng cửa không tiếp khách để hàn huyên với Thuận. Bao nhiêu kỷ niệm thời quân ngũ được dịp nói ra hết.


- V -


Hôm sau, Đạt kéo Thuận trở lại làng Cẩm thăm gia đình Lược. Thuận xăm xăm đạp xe đi trước, mong sớm gặp lại Mỵ. Nhưng vừa bước vào nhà sàn, Thuận lạnh toát cả người. Giữa nhà là một khúc gỗ to xẻ đôi, khoét rỗng ruột làm áo quan. Trên chiếc bàn tre là bát hương bằng khúc bương cưa ngắn. Cái ảnh tô màu có đôi môi đỏ chót của Mỵ hình như lúc nào cũng nhìn theo Thuận đi đứng. Gói quà Thuận biếu hôm qua được đặt bên cạnh. Đạt rút trong ba lô ra một thẻ nhang và một tập tiền giấy. Vừa lễ trước bàn thờ Mỵ, Đạt vừa nói:


- Tao sợ mày buồn, không dám nói thật. Cô Mỵ đã mất cách đây bốn tháng vào đúng cái tuổi hai mươi. Mỵ đi tắm suối bị lạnh, cảm nhập tâm, mất đột ngột…


Thuận bâng khuâng, không hiểu đâu là thực, đâu là ảo như người bị mộng du…


Nguồn: Bí mật đền Sĩ Nhiếp. Tập truyện Dị sử của Ngọc Toàn. NXB Văn học, 2012. Lời tựa của nhà văn Triệu Xuân.


www.trieuxuan.info







[1] Á Căng Đình: tiếng Pháp là Argentine, được phiên âm theo âm Hán Việt. Ngày nay gọi đúng tiếng Tây Ban Nha là Achentina.





[2] Mic: một loại thuốc lá rẻ tiền thời Pháp thuộc.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
Nghĩa địa bên sông Chanh - Ngọc Toàn 07.06.2017
Hoa khôi xứ Mường - Ngọc Toàn 01.06.2017
Ông chéo ngà, Bà rách tai - Ngọc Toàn 01.06.2017
Kẻ vô ơn - Ngọc Toàn 01.06.2017
Đầu Phạm Nhan - Ngọc Toàn 01.06.2017
Rắn hổ mang chúa - Ngọc Toàn 01.06.2017
xem thêm »