tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20518382
Truyện ngắn
01.06.2017
Ngọc Toàn
Ông chéo ngà, Bà rách tai



Truyện này đã in trong tập Người quản tượng của vua Quang Trung. NXB Kim Đồng, 1987. Nay tác giả in lại trong tập Hổ Thần.


1- Ngày lên tám tuổi, bé Phương được mẹ cho sang thăm cụ Đặng. Cậu bé háo hức, mấy hôm nay mới được toại nguyện. Suốt từ sáng, Phương ngồi ngắm đi ngắm lại bộ quần áo màu nâu gụ. May quá, hôm nay trời nồm, cậu không phải mặc cái áo bông to sù sụ. Hai mái tóc cắt trái đào trên đầu làm mặt Phương sáng sủa hẳn lên.


Mẹ của Phương, cô Hà mặc áo tứ thân vải Đồng Lầm, quần lĩnh, thắt lưng nhiễu tam giang, đầu vấn khăn để một chút đuôi gà. Hai mẹ con không đi trên đê mà luồn lách qua những ruộng ngô để tránh quân Mãn Thanh đóng dầy đặc đường thiên lý từ kinh đô Thăng Long đến tận núi Tam Điệp thuộc tỉnh Thanh Hóa.


Quân Mãn Thanh theo lời mời của vua Lê Chiêu Thống mang sang Đại Việt hai mươi vạn quân và chín vạn dân phu để “dẹp loạn Tây Sơn”. Ngày nào chúng cũng cướp bóc, cưỡng bức phụ nữ ở những nơi chúng đóng quân.


Hai người vừa vào đến cửa vườn cụ Đặng, một võ sinh ra đón và bế bé Phương lên tay:


-          Chị và cháu đi sớm thế này, không sợ quân Tàu à? Chị chờ một lát, thầy em đang dạy võ.


Cụ Đặng đã sáu mươi tuổi nhưng còn tráng kiện hơn thanh niên. Cụ vốn là con nhà võ lại siêng năng luyện tập nên cơ thể chắc nịch.


Bé Phương không thấy bày ở sân những lộ bộ binh khí bình thường như: giáo, kích, đao, chùy… mà là thiết lĩnh, trung bình tiên mà người Việt gọi là roi. Cụ Đặng dạy học trò sử dụng thiết lĩnh. Đó là một loại vũ khí dài dùng để ngăn chặn quân địch từ xa. Thiết lĩnh làm bằng tre nhỏ, nhưng thông thường là hóp đá, vầu, đành hanh…, những loại cây họ hàng với tre, nứa. Đa số người ta dùng hóp đá, một loại cây rắn chắc lại vừa tầm tay. Khai thác ở rừng về, cây được cắt làm hai đoạn. Đoạn gốc dài đúng nửa sải tay người sử dụng, đoạn đầu dài hai sải, ở giữa nối bằng xích sắt. Với vũ khí này, người đứng ở độc đạo có thể ngăn cả chục kẻ địch. Khi ở trận tiền, thiết lĩnh quét sát mặt đất làm ngựa của địch gãy chân. Nhưng sử dụng thiết lĩnh không dễ. Nếu võ công kém, nó đập ngay vào đầu, có thể dẫn đến tử vong.


Cụ Đặng ngừng tay:


-          Thôi, hôm nay các con tập đến đây, trong lúc nghỉ ngơi, tự nghĩ các thế võ mới. Vũ khí là vật vô tri, người sử dụng mới là vũ khí sống động. Thiết lĩnh xuất hiện từ thời Lý, Trần. Tướng quân Nguyễn Chế Nghĩa dưới trướng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã làm tan rã những đạo quân của Thoát Hoan bằng vũ khí này.


Bé Phương cúi đầu chào cụ Đặng:


-          Cháu chào ông!


Cụ Đặng hoan hỉ:


-          Cháu lớn nhanh quá, vài năm nữa ông không nhận ra được! Vào đây, ông có mơ chín, chấm với muối ngon lắm!


Cụ Đặng có mấy cây song mai vừa chín. Song mai năm nào cũng chín trước mơ chùa Hương gần một tháng, trái to, mọc đối nhau trên các cành vô cùng đẹp mắt. Trái song mai vừa to vừa ngọt lịm.


Người trưởng tràng trêu bé Phương:


-          Cháu sang thăm ông hay sang chơi với chim, thú của ông?


Bé Phương bẽn lẽn:


-          Ông ơi, ông còn nhiều súc vật không?


-          Ông có nhiều lắm. Ông gọi chúng về chơi với cháu nhé!


Cụ Đặng lấy trên giá một cái ống bằng đồng như một cây sáo lớn, trên thân rất nhiều lỗ. Đó vừa là dụng cụ điều khiển chim, thú vừa là vũ khí đánh địch.


Tiếng sáo vừa bay ra một hồi lanh lảnh thì một con quạ bay về, nhảy lên bàn, láo liên nhìn mọi người. Nó thấy bé Phương, nói ngay:


-          Người lạ, người lạ!


Bé Phương ngạc nhiên thích thú:


-          Ồ, nó biết nói! Thích quá! Thích quá!


Người trưởng tràng bảo:


-          Cháu hỏi thăm sức khỏe quạ đi!


Chú bé nói với con vật:


-          Quạ có khỏe không?


Con chim màu đen có vẻ vừa ý:


-          Khỏe! Khỏe! Khỏe lắm!


Cụ Đặng thổi sáo một hồi khác. Con quạ bay đi và nhảy lên bàn là một con chim khác. Con vật này có lông trắng đục đục, cổ có khoanh xanh như cườm vịt. Bé Phương vừa hỏi vừa giơ tay định vuốt lông chim. Con vật nhảy lùi lại, lông cổ dựng đứng lên, có vẻ gắt gỏng:


-          Choét! Choét! Choét! Choét! Choét!


Cụ Đặng cười:


-          Nó bảo cháu: Lùi lại! Tôi mổ đấy!


Bé Phương hỏi:


-          Ông ơi, sao ông biết tiếng chim hả ông?


-          Lớn lên cháu sẽ nghe được tiếng chim như ông. Đây là con cưỡng, rất khôn. Nếu được dạy dỗ, nó có thể nói như quạ, sáo, vẹt… Đặc điểm của loài này là không cho ai sờ vào mình.


Tất cả các học trò cụ Đặng đều cười. Bé Phương xấu hổ, vờ quay sang hỏi:


-          Ông ơi, ngày trước ông có hai con chó yết. Giờ chúng đâu rồi?


-          Để ông gọi nó về chơi với cháu!


Cụ Đặng thổi một cái lỗ ở đầu cây sáo đồng, không có tiếng kêu phát ra, nhưng từ trong rừng hai con chó xuất hiện. Bé Phương ngạc nhiên:


-          Sáo của ông không kêu mà sao chúng nghe được?


-          Loài chó có thính giác tốt hơn loài người. Âm thanh thấp chúng có thể nghe được cháu ạ.


Hai con chó nghiêng nghé nhìn chú bé thăm dò. Cụ Đặng nói:


-          Cháu nhổ nước bọt vào tay rồi đưa ra trước mõm chúng cho chúng quen hơi.


Bé Phương rụt rè, chỉ sợ chó cắn vào tay. Hai con vật ngửi ngửi rồi liếm nước bọt. Cụ Đặng bảo:


-          Chó chấp nhận cháu là bạn rồi đấy. Từ nay cháu đi đâu, gọi đúng tên Núi và Rừng là chúng sẽ theo bảo vệ. Chó yết được ông Phạm Hữu Thế, gia tướng của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn nhà Trần thuần hóa. Để vinh danh người đã tạo ra loài chó nhà khôn ngoan, dễ bảo, Hưng Đạo Vương đặt biệt danh cho tướng quân Phạm Hữu Thế là Yết Kiêu.


Núi và Rừng sà vào lòng Phương, bắt chú bé phải gãi tai cho nó.


Cụ Đặng có nhiều học trò, hai người lớn tuổi vào học đầu tiên được cụ đặt là Hà và Hải. Bố bé Phương là Hà, người học trò yêu quý của cụ, được cụ gửi đi làm việc ở xa…


 


2


 


Hải vào thưa:


-          Viên quan huyện Thường Tín đưa đề đốc Hứa Thế Hanh của quân Mãn Thanh đến xin gặp thầy. Chúng đem theo khoảng một bách hộ, cưỡi ngựa đợi ở ngoài cổng. Chúng con không cho vào sân.


Cụ Đặng cười:


-          Thầy đã tiên đoán rồi, trước sau họ cũng đến đây xin diện kiến. Thôi, cho vào đi!


Hứa Thế Hanh là người Hán, làm đề đốc Quý Châu cho ngoại bang Mãn tộc. Đi bên cạnh gã là tên huyện lệnh Thường Tín. Tên này thấy giặc đến là tình nguyện làm tay sai. Đi đâu gã cũng bám theo Hứa Thế Hanh như một con chó bám chủ.


Hải trêu chọc tên quan huyện:


-          Thầy tôi nói chỉ tiếp ông Hứa Thế Hanh, còn người khác đứng ngoài cửa đợi.


Tên quan huyện trợn mắt:


-          Ta là huyện lệnh ở đây mà ngươi không biết à?


-          Thầy tôi từng đỗ tạo sĩ, tức tiến sĩ võ, làm đến quận công thời vua Lê Cảnh Hưng nên không biết mấy kẻ làm thông ngôn cho người Tàu là cái quái gì.


-          Ta có quyền đi xem xét nhà cửa, bờ thửa của dân chúng trong huyện do ta cai trị.


-          Đầm Mực rộng ba ngàn mẫu và một ngàn mẫu rừng này vua Lê phong cho thầy tôi, có bằng khoán điền thổ cùng chiếu chỉ, cấm không ai được xâm phạm. Ông hãy về kinh xin vua Lê Chiêu Thống cấp giấy tờ vào đây thị sát, chúng tôi không dám ngăn cản.


Đuối lý, viên quan huyện cứng họng, không biết nói sao.


Hải đến gần, vỗ vai gã rồi cười cười:


-          Nói chơi thôi, xin quan lớn cứ vào!


Viên quan huyện há hốc mồm rồi ngã ngồi xuống đất.


Hải vờ hoảng hốt:


-          Thôi chết rồi! Quan lớn bị trúng phong!


Chỉ có Hứa Thế Hanh biết được Hải đã làm gì. Hải muốn hại thì gã đã đứt hết gân và gãy vụn xương đòn. Hải xoa xoa vài cái rồi đỡ gã lên. Cảm giác đau đớn mất dần, viên quan huyện tự nhủ: không thể đùa được với thầy trò lão Đặng.


Cụ Đặng mời Hứa Thế Hanh ngồi ghế. Tên quan huyện như cáo bị săn hụt, đứng đằng sau, không dám ho he.


Hứa Thế Hanh nói:


-          Chúng tôi sang đây là giúp nhà Lê củng cố lại giang sơn mấy năm nay bị giặc Tây Sơn o ép. Hoàng đế Càn Long không muốn một nước chư hầu của mình bị áp bức…


Cụ Đặng ngắt lời:


-          Xin ông phát ngôn đúng với thực tại. Anh em nhà Tây Sơn không phải giặc cỏ mà là những vị anh hùng dân tộc. Còn nhà Lê chẳng phải chư hầu của nhà Thanh. Từ thời Lý, Trần đến giờ, Đại Việt có kinh đô, quốc hiệu, bờ cõi riêng biệt, chưa bao giờ nhận sắc phong An Nam Quốc Vương của nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh. Chúng tôi không phải chư hầu của quý quốc!


Hứa Thế Hanh gằn giọng:


-          Tôi muốn nói đến điều khác quan trọng hơn. Nhà Thanh muốn mời ông ra làm quan. Chúng tôi biết trước đây ông là trọng thần, nhưng đã chán cảnh vua Lê, chúa Trịnh kèn cựa nhau nên cáo lão về đây dạy học trò võ nghệ. Vua Lê ban cho ông vùng đất này, coi như là thái ấp.


-          Các ông định mời tôi sang Tàu làm quan cho nhà Thanh à?


-          Không phải vậy. Chúng tôi làm một con đường chín đoạn gọi là đường lưỡi rắn, từ ải Nam Quan đến tận Phú Xuân. Mỗi đoạn đường do một viên quan nhà Thanh bổ nhiệm, quản lý.


Cụ Đặng cười nhạt:


-          Ông nói rõ hơn, tại sao lại làm đường trên đất Đại Việt. Lý nào được phép? Con đường này sao không gọi đường lưỡi chó, lưỡi mèo, lưỡi trâu, lười bò… mà là đường lưỡi rắn?


-          Cái đó dễ hiểu lắm. Sau Tết Nguyên Đán, chúng tôi vào Phú Xuân đánh đổ Nguyễn Huệ bắt về Bắc Kinh trị tội thì nói gì vua Lê Chiêu Thống chẳng nghe. Còn con đường gọi là lưỡi rắn vì nó linh động, có thể thò ra thụt vào như cái lưỡi chẻ ra làm đôi của loài bò sát. Chúng tôi sẽ cho mở rộng đến tận biển Đông, phía Tây đến tận biên giới Lào.


-          Thế các ông thua Nguyễn Huệ thì sao?


Hứa Thế Hanh sôi nổi hẳn lên:


-          Làm sao nhà Thanh có thể thua được mấy tên giặc cỏ! Chúng tôi sẽ đè bẹp quân Tây Sơn với hai mươi chín vạn binh lính cùng những tướng tài đầy mình võ nghệ, đầy bụng binh thư.


-          Có lẽ các ông nhầm đấy! Về thiên thời, địa lợi, nhân hòa, các ông không có gì bằng anh em Nguyễn Huệ.


Hứa Thế Hanh cười gằn:


-          Hãy cho tôi nghe lý lẽ của ông!


Mấy người học trò mang rượu Đại Việt và mơ ra tiếp khách.


Cụ Đặng nói:


-          Xin các ông nhắm rượu với mơ trong vườn của tôi. Đây là loài song mai đặc hữu của người Việt. Nhấm nháp đi, không có thuốc độc đâu. Tôi không phải là Tào Tháo, còn Hứa đề đốc không phải là Lưu Bị. Cứ yên tâm!


Cụ Đặng tiếp:


-          Về thiên thời, mấy năm nay, các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu đều mất mùa, dân đói khổ. Nhà Thanh vét các kho gạo để chinh chiến xa, không đủ nuôi quân. Mới sang Đại Việt chưa được một tháng mà quân Thanh đã phải vào làng xã ăn cướp lương thực. Trong khi nhà Tây Sơn được dân chúng tình nguyện góp người góp của. Đó là một điều tất thua của quân Thanh!


Hứa Thế Hanh cứng họng, không tìm được câu nào hợp lý để tranh luận.


Cụ Đặng ăn một quả mơ rồi tiếp:


-          Về địa lợi các ông cũng thất thế. Người Hoa Hạ không quen chinh chiến ở những vùng sông ngòi có nhiều chia cắt, mà Nguyễn Huệ lại rất giỏi thủy chiến. Cứ xem trận Rạch Gầm – Xoài Mút đánh quân Xiêm thì rõ. Trong một ngày mà bốn vạn quân của Chiêu Tăng, Chiêu Xương chỉ còn lại có một nghìn tên. Đó là cái thua thứ hai!


Hứa Thế Hanh chống chế:


-          Ông nghĩ nhà Thanh không có nhiều tướng thủy chiến giỏi sao?


-          Về nhân hòa thì các ông là kẻ xâm lược, dân chúng không bao giờ theo. Giúp nhà Lê khôi phục là chiêu bài của nhà Thanh. Không ai tin. Trong quân Mãn có nhiều tướng người Hán, họ không bao giờ hết mình chiến đấu. Trái lại, Nguyễn Huệ có nhiều tướng giỏi người Việt quen chinh chiến như Đô đốc Đông, Đô đốc Bảo, Đô đốc Tuyết, Đô đốc Diệu, nữ Đô đốc Xuân… Nhiều vô kể! Cứ nghe những cái tên đó là quân Mãn Thanh đã táng đởm kinh hồn. Chủ tướng Tôn Sĩ Nghị của nhà Thanh là quan văn, chưa bao giờ ra trận. Sầm Nghi Đống là một kẻ võ biền, xuất thân đồ tể. May ra chỉ có ông và Trương Triều Long còn có thể gọi là tướng…


Nghe cụ Đặng phân tích, Hứa Thế Hanh toát mồ hôi hột. Hắn gượng gạo:


-          Nhưng chúng tôi có nhiều binh thư, làm sao người Việt có thể hiểu được?


-          Các ông có chín quyển binh thư. Nhưng đó là những sách dạy đánh nhau ở chung quanh châu thổ Trường Giang, Hoàng Hà, không phù hợp với các trận đánh ở những nước láng giềng. Tôn Ngô binh pháp, Tôn Tẫn binh pháp, Lý Tĩnh binh pháp… tương đối giống nhau, chỉ phù hợp với thời Xuân Thu Chiến Quốc và đời Đường.


Hứa Thế Hanh không biết trả lời ra sao.


Cụ Đặng nói tiếp:


-          Chỉ có Mạnh Đức Tân Thư của Tào Tháo là xuất sắc hơn cả. Nhưng vẫn là cuốn binh thư của người phương Bắc quen cưỡi ngựa. Khi xuống Giang Nam, Tào Tháo bị liên quân Ngô – Thục của Tôn Quyền và Lưu Bị đánh cho không còn mảnh giáp, thiệt hại tám ba vạn quân. Trận Xích Bích bại vong, chắc không một người Trung Hoa nào không biết.


-          Ông chỉ trích như vậy, nhưng ông có cuốn binh thư nào không?


Cụ Đăng vuốt râu cười:


-          Tôn Tử nói: Biết mình biết người, trăm đánh trăm thắng; biết mình không biết người, một được một thua; không biết mình không biết người, trăm đánh trăm thua. Các ông không hiểu biết gì về chúng tôi nên từ thời Ngũ Đại Thập Quốc, lần nào sang đánh Đại Việt cũng đều thất trận.


Không thấy Hứa Thế Hanh đủ lý lẽ tranh luận, cụ Đặng tiếp:


-          Chúng tôi có nhiều binh thư. Đời Trần có Binh Thư Yếu Lược, Vạn Kiếp Tông Bí Truyền Thư của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Hai cuốn này dạy thuật giữ nước. Trận Bạch Đằng, người Việt tiêu diệt bốn vạn quân của Ô Mã Nhi và Tích Cơ Lệ. Chỉ có tám trăm kẻ sống sót bị bắt làm tù binh. Trước đó, Trần Khánh Dư đột kích ở Vân Đồn, đánh đắm bảy mươi vạn hộc lương của Trương Văn Hổ. Thái tử Thoát Hoan phải chui ống đồng, nhịn đói về nước. Cả hai lần đánh Đại Việt, quân Nguyên mang sang tám mươi vạn quân, để lại nước chúng tôi bảy mươi vạn tử sĩ. Có lẽ trong thiên hạ, không có nước nào thắng quân Mông Cổ lớn đến như vậy. Nhà Nguyên suy sụp, đưa đến mất nước, cũng là Đại Việt góp sức với các nước tiêu diệt kẻ xâm lược lớn nhất trong thiên hạ…


Hứa Thế Hanh ngạc nhiên:


-          Cảm ơn ông đã cho tôi biết Đại Việt có nhiều binh thư. Hiện nay còn có cuốn nào nữa không?


Cụ Đặng tủm tỉm cười:


-          Chúng tôi còn có Hổ Trướng Khu Cơ của Đào Duy Từ cũng là sách dạy giữ nước rất sâu sắc. Nhưng có lẽ Tây Sơn Binh Pháp mới là cuốn dạy đánh trận hay nhất tự cổ chí kim.


-          Sách đó của Nguyễn Nhạc phải không?


-          Tây Sơn Binh Pháp do Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ thủ bút. Cả cuộc đời chinh chiến, chưa bao giờ ông thua lấy một trận. Có thể nói, ông là “thiên hạ vô địch thủ”. Tôi nghĩ Tôn Sĩ Nghị không phải là người có khả năng đối đầu được với Nguyễn Huệ.


Hứa Thế Hanh hậm hực:


-          Ông tự hào về những nhân vật của đất nước mình quá mức đấy!


-          Ông nhớ rằng, gần một nghìn năm nay, từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê, chúng tôi chỉ tạm mất chủ quyền có hai mốt năm đời nhà Hồ. Nhưng Trung Quốc đã bị tiêu diệt trên một triệu quân Mông Cổ, quân Minh khi xâm lược Đại Việt. Chắc nhà Thanh sẽ đóng góp ít nhất hai mươi vạn tử sĩ nữa!


Hứa Thế Hanh trầm ngâm:


-          Theo ông thì nhà Thanh không có cơ hội nào thắng Tây Sơn à? Ông khuyên chúng tôi phải làm gì?


-          Các ông có Tôn Ngô Binh Pháp nhưng không hiểu. Tôn Vũ nói: Hồi trống đầu tiên, sĩ khí dâng cao; hồi trống thứ hai, sĩ khí lên cực đỉnh. Phải đánh ngay! Nếu đến hồi thứ ba thì binh lính mất hết khí thế ban đầu. Tất thua! Các ông sang Đại Việt gần một tháng, quân sĩ được thả lỏng đi ăn cướp. Hết nhiệt huyết rồi! Sau Tết Nguyên Đán mới tiến binh, tướng sĩ chỉ nghĩ đến rượu, thịt và đàn bà, sẽ không cầm nổi vũ khí. Nếu họ còn sức chạy thoát thân về đến Trung Quốc là may lắm!


Hứa Thế Hanh hỏi đến lần thứ hai:


-          Theo ông, chúng tôi phải làm gì?


-          Nói ông đừng phiền lòng, rút hết quân về Tàu có lẽ còn kịp. Nếu xảy ra huyết chiến, hai mươi chín vạn quân Mãn Thanh còn lại không quá năm vạn.


-          À quên, ông nói Nguyễn Huệ dùng binh như thần. Tôi muốn nghe một vài điều!


-          Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ hiểu binh pháp đến độ siêu việt. Ông lấy ít thắng nhiều, biết tập trung binh lực mạnh làm mũi đột kích. Nguyễn Huệ có năm nghìn con voi, chắc chắn chúng sẽ chà đạp hai vạn con ngựa các ông đang cưỡi. Súng thần công, súng điểu thương của Bắc Bình Vương cũng nhiều hơn của các ông. Hơn nữa, vũ khí mới là hỏa hổ do quân Tây Sơn sáng chế, quân Mãn Thanh không có cách nào chống đỡ nổi… Nói cách khác là nhà Thanh chủ quan, sử dụng những viên tướng bất tài, không biết binh pháp.


Hứa Thế Hanh đỏ mặt ngượng ngùng vì những điều cụ Đặng nói đều đúng sự thật. Gã là con người còn biết phục thiện.


Hứa Thế Hanh nhắc lại lần thứ ba:


-          Theo ông, chúng tôi phải làm gì?


-          Nên rút ngay quân về Trung Quốc trước Tết Nguyên Đán.


-          Tôi sẽ nói những điều này với ông Tôn Sĩ Nghị, nhưng có lẽ đã quá muộn rồi. Chúng tôi có nên làm đường lưỡi rắn chín đoạn không?


-          Cái đó là tùy các ông, nhưng mỗi đoạn nên đặt tên một dũng tướng của thiên triều. Đoạn từ ải Nam Quan đến đồi Mã Yên gọi là Liễu Thăng Lộ.


-          Có phải là người đã bị vua Lê Lợi chém đầu không? Còn các đoạn sau đặt tên là gì?


-          Thiếu gì tên. Nào là Toa Đô Lộ, Ô Mã Nhi Lộ, Vương Thông Lộ, Mộc Thạnh Lộ…


-          Sao lại đặt tên những bại tướng đó?


-          Người Việt chúng tôi có tục ngữ “Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”. Đặt tên những viên tướng đã thua trận để không mắc sai lầm tiếp theo…


Hứa Thế Hanh tức giận đến cực độ:


-          Ông chửi tôi quá nhiều rồi đấy. Bay đâu, chuẩn bị ra về! Nếu sau này, cái trang trại của ông bị thiêu trụi thì đừng trách tôi.


-          Từ từ, tôi cho ông xem cái này rất thú vị!


Cụ Đặng quay lại nói với học trò:


-          Các con, cho mẹ con cu Phương vào rừng và mời “ông bà” về chào hỏi các quan lớn thiên triều và quan huyện nhà Lê.


Hứa Thế Hanh ngạc nhiên:


-          Ông còn các cụ à?


-          Lát nữa, ông sẽ gặp họ thôi!


Chưa đầy nửa khắc sau, từ trong rừng ầm ầm tiếng chân voi. Rồi con voi đực với cặp ngà chéo nhau và con voi cái với cái tai rách nát xuất hiện. Chúng vừa đi vừa múa cái côn sắt dài trên một sải tay. Bọn ngựa Mãn Thanh hí lên chạy trốn, quân lính không làm thế nào cản trở nổi. Con ngựa hồng rất đẹp của Hứa Thế Hanh bị cột vào gốc mơ, cố giật giây cương vùng chạy. Nó vừa giơ hai vó trước lên thì gục xuống chết. Cái dở nhất của giống ngựa là khi sợ hãi thì đứt ruột. Ruột ngựa rất dài, có khi đứt làm nhiều đoạn.


Cụ Đặng lấy ống sáo đồng thổi một khúc. Hai con voi ngừng múa côn chờ lệnh.


Cụ cười:


-          Xin giới thiệu, đây là “ông chéo ngà, bà rách tai”, hai con vật trong nhiều loài vật nuôi ở trong rừng của tôi. Voi chéo ngà dữ lắm. Kẻ nào định đốt trang trại, chắc nó không tha chết. Bà rách tai đã từng bị hai con hổ tấn công, nhưng cuối cùng bà cũng đập chết cả cặp chúa sơn lâm để tặng tôi hai bộ da bọc ghế ngồi đây này. Ông Hứa Thế Hanh nhớ nhắc ông Tôn Sĩ Nghị là tôi chỉ dùng có hai con voi mà một trăm kỵ mã của ông thất điên bát đảo. Trong khi đó, Bắc Bình Vương có tới năm ngàn con đấy. Thôi tạm biệt, mong có dịp gặp lại nhau!


Chờ bọn giặc đi hết, cụ Đặng nói với đám học trò đã tề tựu đầy đủ:


-          Thầy phải đi đây. Các con làm đúng theo lời thầy dặn. Đầu năm mới, thầy trò ta đoàn tụ. Giữa tháng Giêng, ta sẽ mổ lợn ăn mừng. Hải đưa mẹ con cu Phương về tận nhà cẩn thận.


Bé Phương nắm tay cụ Đặng:


-          Ông đi đâu, cho cháu theo với?


-          Cháu về với mẹ đi. Ông sẽ cho cháu nhiều bất ngờ vào năm mới!


 


3


 


Tin Nguyễn Huệ lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Quang Trung chạy nhanh như ngựa phi nước đại. Từ núi Tam Điệp đến tận ải Nam Quan, người ta đợi nhà vua đem quân ra Bắc Hà, tống cổ quân giặc về nước. Rồi tin các đồn quân của Mãn Thanh bị tiêu diệt nhanh như chớp giật. Chỉ vài ngày nữa là Đại Việt không còn bóng giặc. Các làng mạc chờ những đạo quân của vua Quang Trung giải phóng Thăng Long.


Bé Phương nhấp nhổm cùng mấy đứa trẻ sau bụi tre xem quân Tàu chạy trốn. Những tên lính quấn xà cạp, để đuôi sam thất thểu trên đường thiên lý từ Nam ra Bắc. Có tên mất nón, có tên không còn khí giới. Có tên đi đất, hải sảo, xà cạp rách bươm.


Bé Phương giục cô Hà:


-          Nhanh lên mẹ ơi, nhỡ quân ta về thì không kịp ra đón!


Cô Hà an ủi con:


-          Mẹ vớt bánh chưng xong đến nơi rồi. Cả làng cùng ra khao quân mới vui chứ.


Cả tổng, cả huyện không ai bảo ai đều luộc bánh chưng thêm lần nữa để các đạo quân của vua Quang Trung được ăn Tết trên đường diệt giặc.


Đến trưa thì tiếng súng thần công, trống đồng, voi rống, ngựa hý ầm ầm tiến về Thăng Long. Một ông già có râu dài cưỡi con voi đầu tiên nổi bật giữa đạo quân mặc quần áo đỏ, chít khăn đỏ, xám màu thuốc súng. Bé Phương chạy ngay lên vệ đường, hét to lạc cả giọng:


-          Ông ơi, cháu ở đây!


Đúng là cụ Đặng rồi. Cụ mừng rỡ:


-          Phương lên đây với ông!


Người quản tượng vỗ nhẹ vào đầu voi. Con vật vươn vòi quấn ngay lấy người cậu bé và đặt lên bành cạnh cụ Đặng. Phương thở hổn hển:


-          Cháu nhớ ông quá!


-          Ông cũng nhớ cháu! Hãy quay lại mà nhìn! Cháu có biết ai kia không?


Bé Phương thấy người nghĩa binh to lớn ngồi trên bành voi thứ hai. Nó ngờ ngợ rồi bật lên:


-          A, thầy!


Người nghĩa binh đó đúng là Hà, cha bé Phương và cũng là người học trò lớn nhất của cụ Đặng. Cậu bé mừng quá la lên:


-          Mẹ ơi, thầy về rồi! Thầy về rồi!


Hà phất lá cờ đuôi nheo màu đỏ có viền vàng, quay quanh đầu hai vòng. Cả đoàn tượng binh trên một trăm thớt voi dừng lại nghỉ ngơi.


Dân làng mang bánh chưng, chè kho, hoa quả, nước chè tươi cho đoàn quân mà họ trông chờ đã mấy hôm nay.


Cô Hà nói:


-          Để em bóc bánh mời thầy và các anh em khác! Chắc mọi người đói lắm phải không?


Cô Hà vừa cởi được chiếc lạt, cả hai lớp lá bánh chưng vẫn còn nguyên thì con voi cuộn lấy chiếc bánh cho vào mồm nhai ngấu nghiến. Các voi khác cũng bắt chước bạn, sục vào thúng bánh, nhặt từng chiếc đưa lên mồm.


Bé Phương thích chí:


-          Mọi người thua chúng rồi nhé!


Ăn uống nghỉ ngơi độ một canh giờ, cả đội tượng binh được báo động chuẩn bị chiến đấu. Từ phía Bắc, hàng ngàn hàng vạn quân Tàu chạy ngược lại. Bị chặn đường tới Thăng Long ở Yên Sở, chúng lộn về phương Nam. Bị khóa đầu, khóa đuôi, chỉ còn tiểu lộ duy nhất trốn vào đầm Mực. Dẫn đầu đạo binh truy kích ở phía Bắc là hai con voi to lớn.


Bé Phương reo lên:


-          Hoan hô ông chéo ngà, bà rách tai! Hoan hô ông chéo ngà, bà rách tai!


Hai đạo tượng binh chào nhau bằng tiếng rống rền rền như tiếng sấm. Cụ Đặng cho bắn những quả hỏa châu màu đỏ, báo hiệu vòng vây quân Tàu đã khép kín. Tiếng trống đồng, tiếng voi rống hòa tiếng trống ngũ liên của các làng mạc hai bên đường thiên lý rền vang như trời long đất lở…


Thời Lý, Trần, mỗi đội trống đồng có từ năm đến mười hai cái. Nguyễn Huệ tăng lên mười bảy và nâng cấp thành nhạc võ. Người đánh trống phải có sức khỏe như những đô vật và biết nhiều nhạc điệu khác nhau. Khi cử điệu hành tiến, đoàn quân bước đi không biết mệt mỏi. Khi điệu truy sát vang lên, khí thế diệt giặc tràn ngập không gian như bão tố với tiếng sắt, tiếng đồng va chạm nhau. Khi nhạc võ với điệu mừng công thì người ta nghe thấy tiếng vang của hòa bình, trung chính…


Giặc Mãn Thanh bị dồn hết vào đầm Mực. Hải, học trò của cụ Đặng đưa đến hai nhân vật đặc biệt là Hứa Thế Hanh và tên quan huyện Thường Tín.


Hải nói:


-          Hứa Thế Hanh tình nguyện đầu hàng và chỉ xin gặp người chỉ huy của nghĩa quân.


Hứa Thế Hanh bỏng nặng, gần như toàn thân bị hỏa hổ đốt cháy. Gặp được cụ Đặng, hắn mừng rỡ ra mặt:


-          Không ngờ tôi gặp lại ông. Trước tiên, tôi xin cảm ơn ông đã nói những điều tâm huyết. Ông khẳng định là chúng tôi thua, thì nay đã đúng. Ông khẳng định binh thư Đại Việt hợp với người Việt giữ nước thì nay cũng đúng. Tất cả những điều đó, tôi đã nói với Tôn Sĩ Nghị. Ông ta cười nhạt không tin. Đúng là một tên quan văn ngu dốt chỉ biết nịnh vua Càn Long và tên thái giám Hòa Thân suốt ngày hút thuốc phiện. Tôi tình nguyện bị bắt làm tù binh để xin các ông cho một đặc ân. Nếu bị chết tại trận, các tử sĩ bị chôn chung trong một cái hố, không bao giờ được siêu độ. Tôi là Phật tử, xin cho chôn gần ngôi chùa để được nghe tiếng kinh, tiếng mõ.


Cụ Đặng nhận lời:


-          Tôi sẽ cho ông toại nguyện, được chôn cất dưới một cái tháp làng tôi.


Hứa Thế Hanh cảm động:


-          Xin cảm ơn ông. Nếu có kiếp sau, tôi không bao giờ đi đánh thuê cho người Mãn Thanh mà làm người dân Hán bình thường.


Vài khắc sau hắn chết vì vết bỏng quá nặng, trên môi còn nở một nụ cười mãn nguyện.


Hải lại đưa đến tên quan huyện Thường Tín. Gã không bị trói nhưng có hai “tên lính” rất siêng năng canh giữ. Đó là cặp chó yết. Mỗi lần gã có biểu hiện chạy trốn thì chó nhe răng dọa cắn vào cổ. Sáng hôm đó, gã định trút lốt quân Tàu để trở về làm người Đại Việt. Cái đuôi sam nối dài đã bị cắt bỏ, cái áo đoạn dài có hai miếng vải vuông vẽ rồng phụng ở ngực và lưng bị thay thế bằng bộ quần áo của nông dân. Gã rúc đầu vào bụi, nhưng bị chó lôi ra. Hình như hai con vật nhớ mùi cơ thể gã từ lúc gã đến trang trại trong đầm Mực lần trước.


Cụ Đặng nói:


-          Hãy giao “quan lớn” cho tuần đinh canh giữ. Loại tù binh này còn quý hơn tướng Tàu.


Cả hai đạo binh dàn ra phía Đông đầm Mực. Hơn ba vạn tên giặc cứ theo đường đất chạy về phía Tây.


Bé Phương ngồi trên bành voi với Hà và cụ Đặng. Cái gì nó cũng muốn hỏi, nhưng biết giờ phút quan trọng này người lớn đang bàn mưu tính kế, nên chỉ ngồi quan sát là hơn.


Hà hỏi cụ Đặng:


-          Thưa thầy, lần này đánh quân Thanh so với khi trước Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đánh quân Nguyên thì thế nào?


-          Cả hai lần đều khó. Quân Mông Cổ thiện chiến hơn. Chúng mở rộng đế quốc rộng lớn nhất từ xưa tới nay. Bạch Đằng là trận quyết chiến chiến lược, đánh tan các đạo quân của Hốt Tất Liệt, đưa nhà Nguyên đến chỗ diệt vong. Còn lần này, cái khó riêng là Lê Chiêu Thống mời giặc vào nhà, chúng hành quân như trên đất Tàu. Nhưng quân Thanh không mạnh bằng quân Nguyên và không biết binh pháp, lại chủ quan nên thua là tất yếu. Mười lăm ngày nữa sẽ không còn bóng quân thù trên đất Đại Việt.


Hải nói:


-          Thưa thầy, ta có cần cho voi giày xéo giặc không?


-          Nền đất ở đây yếu, voi có thể bị sa lầy. Cái chết đang lơ lửng trên đầu giặc. Quân Thanh là chuột đã chạy vào hang, bị hun khói, phải chui ra cửa phụ và rúc đầu vào lưới.


Hải thưa:


-          Con nghĩ, đói khát, chúng sẽ tự giết nhau, biến thành những tên ăn thịt đồng loại cho mà xem. Kể cũng tội nghiệp!


 


4


 


Đầm Mực rộng tới ba nghìn mẫu, chỗ sâu nhất tới hai mươi trượng, chỗ nông cũng ngập con sào. Ở giữa có vài cái đảo và những con đường nối từ đảo đến đất liền. Đây là vương quốc của cò, vạc, vịt trời, le le, sâm cầm… Trên đảo lơ thơ vài cây gạo.


Giặc định chạy qua những con đường đất theo trấn Sơn Tây về Tàu. Đến trưa thì chúng tập hợp trên ba vạn quân ở đảo. Các con đường đất về phía Tây đã bị người Việt chặt đứt. Tiến không có đường, lùi thì bị voi Tây Sơn chặn đứng, tên nào mặt cũng xanh lét như lá cây. Trước cái chết, các đấng trượng phu, các hảo hán Mãn Thanh run cầm cập. Những đàn ong bắp cày to như ngón tay từ trên những cây bay đến tấn công.


Cuộc hoảng loạn đầu tiên của giặc. Một tên kêu to:


-          Rồng! Rồng! Rồng!


Từ giữa đầm, nổi lên hơn một chục cái đầu ngẩng cao như những đầu ngựa tiến vào các đảo. Trước cái chết cận kề, con người đứng túm tụm vào nhau để tìm sự bảo vệ của bầy đàn.


Những con vật phóng mình lên đảo. Nhiều tên giặc la lên:


-          Thuồng luồng! Thuồng luồng!


Thuồng luồng, nói đúng hơn là loài trăn nước có rất nhiều ở các đầm lầy, sông suối trong rừng rú Đại Việt. Có con dài đến sáu, bảy sải tay. Chúng có hàm răng lớn, cổ và bụng giãn nở rất to, có thể nuốt cả con nai với cặp sừng cồng kềnh. Đến hổ báo muốn xuống sông, suối uống nước cũng phải cẩn thận đề phòng nếu không muốn làm mồi ngon của thuồng luồng. Những con vật họ hàng với rắn nuốt giặc vào bụng. Xác người vào đến đâu, mình của chúng phình to đến đấy.


Giặc dồn vào cuối đảo. Đến chiều, đói và khát, chúng bắt đầu đánh giết nhau để cướp lương thực và nước uống. Ngày thứ ba, nhiều tên liều mạng nhảy xuống nước, tìm cách bơi vào bờ. Bọn thuồng luồng đã chờ sẵn chúng. Có những tên chạy ngược lại con đường dẫn vào đầm Mực. Voi Tây Sơn được dịp thử tài múa côn với những chiếc gậy sắt. Mỗi cái đập của voi là một tên lính toi mạng. Quân Tây Sơn chưa dùng đến hỏa hổ, súng thần công, súng điểu thương mà chẳng tên nào chạy thoát.


Đến ngày thứ năm thì mùi khét từ đảo bay ra. Quân Mãn Thanh giết đồng bọn, lột quần áo nạn nhân, nướng xác chết. Từng đàn quạ bay đến thưởng thức bữa tiệc lớn chưa từng thấy. Quạ đến có nghĩa là không còn người sống.


 


5


 


Cụ Đặng cho rút quân. Cả làng tổ chức mừng công. Bà con có nguyện vọng mời cụ Đặng làm tiên chỉ, một chức vụ nhẹ nhàng trong công việc nhưng phải là người có tín nhiệm. Cụ Đặng nhận lời.


Tên quan huyện được đưa ra xét xử. Cả làng yêu cầu cho gã bị voi giầy. Gã run như cầy sấy. Bao nhiêu tính khí hung hăng, hách dịch mọi ngày mất đâu hết. Gã lạy đủ bốn phương tám hướng xin tha cho tội chết.


Cụ Đặng tuyên bố:


-          Tôi nhân danh tiên chỉ cho gã làm mõ để thấm thía tội lỗi của mình.


Phạm nhân mừng quá:


-          Con lạy cụ! Cụ là bố mẹ sinh con lần thứ hai. Con sẽ làm mõ tốt nhất thiên hạ. Cụ sai con sang tận Tàu, con cũng đi.


Cả làng phì cười:


-          Sang Tàu để ngươi chạy theo Tôn Sĩ Nghị à?


Cụ Đặng nói:


-          Cho gã đeo một cái mõ trâu ở cổ để ai cũng biết đây là tên quan huyện từng làm tay sai cho giặc.


Cả làng reo lên:


-          Hay quá! Hay quá! Quan huyện làm mõ! Nhưng nếu gã trốn thì làm thế nào, thưa cụ tiên chỉ?


-          Gã ra khỏi làng này thì bà con lấy dây thừng dẫn về đình trị tội. Nếu gã trốn thì tôi cho hai con chó yết cắn cổ lôi về, lên đến Thăng Long hay sang Tàu cũng không thoát.


Cả làng reo lên:


-          Mõ! Mõ! Mõ! Quan huyện làm mõ!


Tên quan huyện mừng quá, bĩnh luôn ra quần.


Một người cầm chiếc đuôi sam giả giơ lên cao:


-          Hình như cái này là của quan huyện nên từ nay gã đi đâu cũng phải buộc lên đầu để mọi người nhớ quan huyện đã từng là một tên phản quốc.


Tiếng reo to có lẽ vang đến tận Thăng Long.


 


6


 


Cụ Đặng nhận được thư của người em họ là Đô đốc Đặng Tiến Đông mời lên Thăng Long để vua Quang Trung gặp mặt ban thưởng.


Bé Phương chạy loanh quanh mãi không biết nói gì.


Cụ Đặng bế bé vào lòng hỏi:


-          Cháu muốn theo ông lên kinh đô phải không?


Chú bé thích quá, chớp chớp cặp mắt trong veo của trẻ thơ:


-          Ông cho cháu đi với để cháu biết ba mươi sáu phố phường nha! Mà đi bằng cách gì hả ông?


-          Tất nhiên là ông chéo ngà, bà rách tai đưa chúng ta đi rồi!


Nguồn: Hổ Thần. Tập truyện dã sử của Ngọc Toàn. Lời tựa của Nhà văn Triệu Xuân. NXB Hội Nhà văn, 2015.


www.trieuxuan.info


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Yêu rừng như yêu đời - Triệu Xuân 01.09.2017
Nắng chiều - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Lầu 3 Phòng 7 - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Ba sao giữa Giời - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Dưới bóng hoàng lan - Thạch Lam 10.08.2017
Người vác tù và - Triệu Văn Đồi 03.08.2017
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
xem thêm »