tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21049110
Truyện ngắn
01.06.2017
Ngọc Toàn
Đầu Phạm Nhan



I-              Thoát Hoan đưa Phạm Nhan vào yết kiến Hốt Tất Liệt.


Thoát Hoan tâu:


- Thưa phụ hoàng, thần nhi đưa quân sư vào để phụ hoàng dặn dò trước khi sang đánh Đại Việt.


Hốt Tất Liệt có bộ mặt lạnh tanh, giọng nói khàn khàn, rít qua kẽ răng, hỏi Phạm Nhan:


- Ngươi người nước nào?


Phạm Nhan không dám ngẩng đầu, mặt cúi sát đất thưa:


- Tâu Đại Hãn, thần có cha là người Hán, mẹ là người Việt.


- Tại sao ngươi không giúp nhà Nam Tống hoặc Đại Việt mà lại theo nhà Nguyên.


- Nhà Nam Tống là một cái xác người đang hấp hối, còn Đại Việt là nước nhỏ như cái móng tay của Đại Hãn. Ở đời, những người có tri thức đều phù thịnh chứ ai dại gì lại phù suy. Đại Hãn có nước dài rộng hàng vạn dặm, chiếm hết Nga La Tư, tiến sát đến Hung Gia Lợi, bao vây thành Hoa Thích Tử Mô. Chỉ còn phía Đông là Đông Dương (Nhật Bản) và những nước nhỏ phía Nam là Đại Việt, Chiêm Thành, Xiêm La, Nam Dương... Đại Hãn muốn chiếm lúc nào mà không được.


Hốt Tất Liệt trầm ngâm:


- Kế sách của ngươi thế nào?


Phạm Nhan hai tay dâng lên một quyển sách có nhiều bản đồ và lời chú giải.


Hốt Tất Liệt xem qua rồi phán:


- Ngươi nói tóm tắt cho trẫm nghe xem người có thể là quân sư giỏi cho thái tử Thoát Hoan không?


- Thưa Đại Hãn, theo thần, lần này chiếm Đại Việt nên lấy thêm các đảo ở biển Đông. Một số quần đảo người Trung Hoa gọi là Nam Sa, Tây Sa, người Việt đang cho quân đồn trú, gọi là Hoàng Sa, Trường Sa cát dài. Mỗi cái đảo, họ chỉ có dăm bảy chục người, nơi nào nhiều nhất là khoảng một trăm. Chiếm được các đảo đó thì rất dễ uy hiếp đất liền và đảo Côn Sơn (Côn Đảo). Một người Tây Dương là Máccô Pôlô đã đi qua thám thính đảo này theo lệnh của Thành Cát Tư Hãn. Chiếm được Côn Sơn thì các nước Chiêm Thành, Xiêm La, Nam Dương… đều bị rung động. Đại Hãn dễ dàng thu phục các nước này thành quận, huyện của thiên triều.


- Ngươi cần bao nhiêu nhân mã để Nam tiến?


- Xin Đại hãn cho mười vạn người.


- Ngươi nói lạ! Lần trước mang năm mươi vạn quân sĩ còn chưa chiếm được Đại Việt. Nay mang mười vạn thì khó mà làm nên chuyện lớn.


- Tâu Đại Hãn, thần có phép “rắc đậu thành binh”. Đại Hãn chỉ cần cho thần vài xe đậu xanh, đậu đen, đậu trắng là đủ.


Hốt Tất Liệt hơi băn khoăn:


- Ngươi thờ ai làm tổ sư?


- Tổ sư của thần là Hàn Tín. Ông ta là một viên đại tướng của Hán Cao Tổ Lưu Bang, rất giỏi toán pháp và phép phù thủy. Hàn Tín chỉ cần cho quân xếp hàng mười bảy, mười chín, rồi hăm ba. Từ số người còn dư của ba lần xếp, Hàn Tín tính nhẩm là biết trong tay có bao nhiêu quân sĩ. Sau khi bị Lã Hậu giết chết, ông ta có để lại một cuốn sách dạy các phép phù thủy bí truyền. Ai học được có thể trở thành kì nhân trong thiên hạ, sai khiến được âm binh, mời gọi được thiên binh giúp sức.


- Ngươi thử tài cho trẫm mở rộng tầm mắt!


Phạm Nhan lấy trong người ra ba hạt đậu xanh, ba hạt đậu đen, niệm chú và tung ra sân rồng. Từ dưới đất mọc ra ba tên lính bộ binh có đủ cả khôi giáp, vũ khí, ba tên thuỷ quân mặc quần áo đen, đầu bịt khăn đen trông như bọn cướp biển. Cả sáu tên lính chạy đi chạy lại trên sân, lật đật như người gỗ.


Phạm Nhan tâu:


- Chúng là những người bất tử, đao thương không thể xâm phạm, lửa không thể đốt cháy, nước không thể nhấn chìm. Xin Đại Hãn cho võ sĩ chém thử.


Sáu tên võ sĩ múa kiếm, xông vào chém lũ âm binh. Gươm mẻ lưỡi, giáo gẫy mũi. Cơ thể chúng rắn như sắt đồng. Chúng vẫn lật đật chạy qua, chạy lại. Hốt Tất Liệt có vẻ vừa ý, hỏi thêm:


- Tại sao ngươi cho thủy quân mặc quần áo màu đen?


- Tâu Đại Hãn, người Trung Quốc sơn tàu biển màu đen, quân sĩ mặc áo màu đen nên người Đại Việt gọi là tàu ô. Thần phải hóa phép cho âm binh giống người thật để quân địch thấy quá nhiều quân sĩ của ta, hoảng sợ mà bỏ chạy.


- Trẫm chỉ sợ họ mỉa mai “ô” là con quạ. Họ gọi “tàu ô” là người Tàu như con quạ ăn xác thối.


- Ta thắng trận thì chúng còn ho he gì nữa. Còn đậu trắng lớn hơn các loại đậu khác, thần biến thành lừa, ngựa để phục vụ quân sĩ.


- Trẫm cấp cho thái tử Thoát Hoan ba mươi vạn lính, mười xe đậu các loại. Cho ngươi làm quân sư. Khi chiếm được Đại Việt, phong ngươi làm Vạn Hộ Hầu, con cháu tập ấm, hưởng lộc muôn đời của nhà Nguyên.


- Tạ ơn Đại Hãn!


 


- II -


Mặt trời đã sắp khuất sau núi. Sông Chanh nổi sóng khá mạnh. Xa xa, dãy núi Yên Tử mờ mờ trong sương chiều. Cô lái đò họ Nguyễn đã chuẩn bị ra về thì bên kia sông có tiếng người gọi. Cô lái đắn đo có nên quay lại đón khách hay không. Trời mùa đông sập tối rất nhanh, bãi bồi không có nhà cửa, quán xá. Nếu gặp trời mưa, khách có thể bị chết rét. Cô lái quyết định vượt sông đón khách. Người đợi đò đội nón tu lờ, mặc quần áo xanh xám nhàu nát với những chiếc nút vải, mang giày cỏ hở cả năm đầu ngón chân. Anh ta là một người Tàu còn trẻ. Hồi này chạy giặc Mông Cổ, người Tàu sang lánh nạn khá nhiều. Ở nông thôn, họ làm ruộng, hái củi, đánh cá… Ở đô thị, họ đi bán lạc rang, bánh tiêu, màn thầu…


Người khách yếu quá, cô Nguyễn phải dắt lên đò. Bà mẹ cô đứng cửa chờ con cũng chạy vội ra đỡ. Được sưởi ấm và ăn bát cháo hành, anh ta có thể chống tay ngồi dậy cảm ơn. Làng ven sông này có trên trăm nóc nhà. Dân làng cũng sang giúp kẻ cơ nhỡ. Anh ta họ Phạm, xin dân làng cho ở đậu, sang xuân thì xin bà mẹ cô Nguyễn cho làm rể. Năm sau, một chú bé mập mạp ra đời. Cả hai vợ chồng đều đồng ý cho con lấy họ mẹ. Chú bé được lấy tên là Nguyễn Bá Linh.


Mươi tám tuổi, Nguyễn Bá Linh đã học xong Tứ thư, Ngũ kinh. Nhưng Luận ngữ, cuốn sách dạy làm người chân chính thì nó không thích. Suốt ngày, Linh chỉ nghiền ngẫm sách bói toán, phù thủy…


Nguyễn Bá Linh xin cha mẹ cho về Tàu để kiếm công danh.


Người cha dặn dò:


- Con phải đến thành Tương Dương, gặp Văn Thiên Tường, xin đầu quân để góp phần gây dựng lại nhà Nam Tống.


Người mẹ không vừa ý:


- Đại Việt nhỏ hơn Trung Quốc nhưng là nước đang thịnh thời. Trần Nhân Tông lại là vị minh quân. Các tướng như Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải… đều là lương đống của triều đình. Sao con không về Thăng Long mà kiến công lập nghiệp.


Nguyễn Bá Linh kiên quyết đòi về Tàu thi cử.


Năm năm sau, hắn gửi một lá thư về thông báo cho cha mẹ biết, hắn đã làm quan cho nhà Nguyên và đổi tên theo họ Phạm của cha, thành Phạm Nhan.


Người cha hộc lên một búng máu và đột quỵ, rồi quy tiên. Người mẹ đau khổ đến tột cùng. Năm trước đã để tang mẹ, nay lại thêm tang chồng.


Trước khi chết, người chồng nắm tay vợ khóc:


- Tôi là kẻ vong quốc, được người Việt cưu mang, được nàng thương yêu, nhưng vô phúc sinh ra nghịch tử, từ nay coi như vô hậu. Nàng không bao giờ chấp nhận Nguyễn Bá Linh là con như tôi chứ? Nàng có nhớ, tôi dạy thằng Linh một vài phép phù thủy và cách phá giải không?


Người vợ nắm lấy tay chồng trong nước mắt:


- Tôi không bao giờ tha thứ cho nó!


 


- III -


Quân Nguyên thắng liền hai trận. Khi cuộc chiến đang giằng co thì Thoát Hoan ra lệnh Phạm Nhan rắc đậu thành binh. Mỗi nắm đậu gã vung ra mọc thành hàng trăm tên lính mới. Chúng mặc quần áo, sử dụng binh khí Mông Cổ. Bọn này chậm chạp, đi đứng như con lật đật, nhưng cơ thể cứng như gỗ, giáo đâm, tên bắn không thủng. Quân Trần phải rút lui.


Thoát Hoan khen ngợi Phạm Nhan:


- Nhờ pháp thuật của quân sư, lần này sang thu phục Đại Việt dễ như trở bàn tay. Thủy quân sẽ chiếm hết các đảo Hoàng Sa, Trường Sa… Ta sẽ tiến xuống phương Nam, thu phục các quốc gia còn lại. Thiên triều sẽ lập lại An Nam đô hộ phủ, rồi nhiều Viễn Nam đô hộ phủ khác…


Phạm Nhan vờ khiêm tốn:


- Mạt tướng chỉ có chút công mọn. Đó là nhờ uy linh của Đại Hãn và tài cầm quân của thái tử.


Thoát Hoan và cả bọn tả hữu cười to khoái trá.


Sau mươi ngày mưa dầm, hai bên tạm ngưng chiến. Trời vừa hửng nắng, quân Nguyên tiến xuống phương Nam truy đuổi quân nhà Trần.


Thoát Hoan và Phạm Nhan ngạc nhiên thấy quân Nam bày trận địa sẵn.


Phạm Ngũ Lão mặc áo bào trắng, cưỡi ngựa trắng, cầm ngang ngọn giáo trước yên ngựa. Nguyễn Chế Nghĩa cưỡi con xích mã, cầm nỏ liên châu đứng bên cạnh. Đội hình chiến đấu của Nam quân rất lạ. Xen giữa lính sử dụng đao giáo là cung thủ trang bị nỏ liên châu. Trước trận địa là một bãi rơm rạ rải sẵn. Thoát Hoan tự hỏi, đây là trận địa gì, không có trong Tôn Ngô binh pháp. Hắn biết quân Việt có 2 bộ Binh thư yếu lượcVạn Kiếp tông bí truyền thư của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Sau thất bại nướng năm mươi vạn quân lần trước, hắn thấy trờn trợn, không biết sẽ rơi vào cạm bẫy gì.


Thoát Hoan ra lệnh cho Phạm Nhan rắc đậu thành binh. Nếu có chết mấy tên âm binh thì hắn cũng chẳng có gì thiệt hại. Phạm Nhan ngồi trên chiếc xe bốn ngựa kéo. Ngoài hai tên lính hộ vệ, trên xe chất đầy các loại đậu. Sau hắn, năm trăm tên hộ binh sẵn sàng xả thân vì chủ tướng.


Phạm Nhan vung tay, dưới đất mọc lên hàng nghìn kị mã. Đến bãi rơm rạ cách quân Việt một tầm tên, bọn âm binh sa xuống hố, ngã chồng chất lên nhau. Phạm Ngũ Lão vung giáo lên trời, hàng ngàn mũi tên phóng ra. Tên lính ma nào chạm vào đầu mũi tên đều biến mất trong không khí, để lại trên bãi chiến trường những hạt đậu trắng, đậu xanh.


Trận địa quân Nguyên hỗn loạn. Phạm Ngũ Lão vung giáo lần nữa, hàng chục chiếc trống đồng nổi lên, xen lẫn tiếng quân reo xung trận. Hết màn dạo đầu, trống đồng chuyển sang nhịp điệu Sát Thát (giết quân Thát Đát, tức quân Mông Cổ) khí thế ngất trời. Khi xưa, Trần Phu, sứ giả nhà Nguyên, đã từng làm thơ “Sợ tiếng trống đồng đến bạc tóc…” thì nay trên trận địa, quân Mông Cổ hoảng hốt đến phóng uế ra quần.


Quân Việt truy sát. Giáo đâm, tên bay mù mịt khắp trời. Hàng ngũ quân Nguyên rối loạn, người ngựa đạp lên nhau mà chạy, gục xuống như rạ…


Phạm Nhan hoảng hốt. Hắn lẩm nhẩm đọc thần chú, hai tay tung cả thùng đậu lên trời. Không tên âm binh nào tiến được đến trận địa quân Trần. Hắn nhìn Thoát Hoan xin ra lệnh. Tên chỉ huy tối cao quân Mông Cổ tái mét mặt mũi, vừa cho đánh cồng thu quân vừa hét lạc giọng:


- Chạy! Chạy mau…


Nói xong, hắn chui ngay vào chiếc ống đồng. Nằm trong ống đồng an toàn, tránh được mũi tên, ngọn giáo nhưng chẳng thú vị gì, vừa chật chội, vừa nóng đến ngộp thở, lại còn bị kiến, muỗi, bọ chét… luồn qua các khe hở áo giáp tấn công.


Ba năm trước sang xâm lược Đại Việt, hắn đã phải chui vào ống đồng mới thoát về được Ải Nam Quan. Mối nhục đó chưa trả được thì nay hắn lại phải chui vào ống đồng lần nữa. Chưa nơi nào trong thiên hạ, quân đội thiên triều lại phải chịu nhục như ở cái xứ sở này.


Phạm Nhan chưa kịp quay xe chạy trốn thì một chùm tên của Nguyễn Chế Nghĩa nhắm vào hắn. Nỏ của ông bắn xa gấp hai lần nỏ bình thường. Cánh nỏ làm bằng cây ngà, một loại tre trúc to nhất trong họ hoà thảo. Khoát ở gốc ngà có thể tới hai gang tay và cao tới mười trượng, ruột ngà rất đặc. Trồng ngà phải mười lăm năm mới khai thác. Các chiến binh nhà Trần hạ ngà già, vót thành cánh nỏ ngâm trong dầu lạc, một năm mới lắp được nỏ. Dây nỏ làm bằng ruột mèo rừng, rất dai và không bao giờ giãn nở theo thời tiết. Bản nỏ to, nhiều rãnh, mỗi rãnh lắp một mũi tên. Mỗi lần bắn ra có thể hạ được một vài tên địch. Phạm Nhan bị một mũi tên đồng xé rách vành tai trái. Dư lực của tên còn xuyên thủng hai lần da trâu chiếc áo giáp và phá tan lồng ngực tên lính. Phạm Nhan tức giận, hất cái xác xuống đường cho lũ ngựa đạp lên. Đạo quân thất trận chạy như điên dại về Lục Đầu Giang.


- IV -


Mấy ngày nay, Yết Kiêu không một khắc nghỉ ngơi. Vâng mệnh Hưng Đạo Vương, ông đi ngựa trạm về Thăng Long, đón vị pháp sư nổi danh đến phá giặc. Chạy suốt ngày đêm, chín lần thay ngựa. Khi ông vừa về tới quân doanh, con ngựa cuối cùng cũng bị đứt ruột mà chết.


Vị pháp sư thưa:


- Xin Đại Vương cho làm lễ tam sinh để tế cờ. Nhưng thay trâu trắng, ngựa trắng, dê trắng bằng chó đen, mèo đen, dê đen. Máu chúng ô uế, pháp thuật của Phạm Nhan sẽ mất linh. Đầu mũi tên, ngọn giáo tẩm máu của những con vật màu đen sẽ bắt âm binh của giặc hiện nguyên hình.


Toàn bộ trận địa của giặc tan rã. Yết Kiêu lại được lệnh đón lõng tàn quân Mông Cổ. Ông đứng trên núi cao nhìn quân Nguyên chạy trốn. Đúng như tiên đoán của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: Phạm Nhan kéo quân về thủy trại.


Phạm Nhan ra lệnh lấy năm chiếc thuyền lớn để quân sĩ vượt biển. Hắn tính toán, sẽ trốn đến đảo Hải Nam nương náu. Nếu về triều, dứt khoát Hốt Tất Liệt cho hắn tự đặt đầu lên thớt. Hắn quá rõ con người hiếu sát này. Những tướng Mông Cổ bại trận đều bị bêu đầu. Ngay giữa sân rồng, vua Nguyên đặt hàng chục cái thớt, phạm nhân phải tự kê cổ lên đó. Mỗi lần đao phủ thủ vung mã tấu lên là một cái đầu văng vào sọt chờ sẵn.


Trong ba mươi sáu kế, Phạm Nhan chọn kế “tẩu vi thượng sách”. Bây giờ, hắn đang lênh đênh trên biển, tự khen mình may mắn, nhanh chân thoát khỏi thiên la địa võng của quân Việt. Phạm Nhan đang hoan hỉ thì bộ mặt chợt tái đi. Đường chân trời xuất hiện những chấm đen to dần. Hắn la lên: “Khinh châu!”. Những chiếc thuyền nhẹ lướt như bay trên biển. Chưa đầy một khắc, năm chiếc thuyền của quân Nguyên đã bị bao vây.


Yết Kiêu đứng trên mũi thuyền, tay cầm kiếm. Đến một tầm tên, những chiếc khinh châu tự tách làm đôi, mũi thuyền chứa rơm rạ, cỏ khô tẩm diêm sinh, than xoan bùng cháy. Phần đuôi biến thành một chiếc thuyền mới nhỏ hơn, lùi lại trợ chiến. Phạm Nhan kêu giời. Hắn gặp phải một đoàn Mẫu Tử thuyền nổi tiếng của quân Trần. Gió biển thổi mạnh, đẩy hỏa thuyền đốt cháy chiến thuyến của quân Nguyên. Phạm Nhan rên rỉ: “Hỏng rồi! Đại sự hỏng rồi…”. Giờ khắc này, hắn chỉ mong thoát chết. Hắn còn mấy sọt đậu đen để biến thành thủy quân nhưng cũng thừa biết quân Việt đã chuẩn bị sẵn uế huyết, bắt âm binh của hắn trở lại nguyên hình.


Cả năm thuyền của quân Mông Cổ bùng cháy. Quân sĩ bị thiêu đốt nhảy xuống biển làm mồi cho cá kình. Phạm Nhan ra lệnh cho mấy tên hộ vệ thân tín nhất hạ một chiếc thuyền con cấp cứu để hắn chạy trốn. Miệng hắn lầm bầm đọc thần chú tàng hình. Nhưng bỗng dưới đáy thuyền rung động, tiếng búa đục nghe rõ mồn một. Nước ộc vào, thuyền chìm dần. Từ dưới biển, một người quăng mình lên thuyền như con cá chuồn bay trên mặt nước. Đó là Yết Kiêu. Ông tung sợi dây thừng bện bằng chỉ ngũ sắc, quấn quanh thân Phạm Nhan. Hắn không kịp tàng hình. Tất cả quân lính đều chìm xuống đáy biển. Chỉ riêng mình hắn thoát chết, được Yết Kiêu cắp vào nách bơi về Mẫu Tử thuyền.


Lúc tỉnh dậy, Phạm Nhan thấy mình bị trói vào cột buồm. Yết Kiêu và các thủy thủ đang điềm nhiên ngồi uống rượu.


- V -


Ba lần Hưng Đạo Vương cho chém Phạm Nhan mà không được. Chiếc đầu hắn vừa rơi xuống đất là biến mất ngay và trên cổ mọc ra một chiếc đầu khác. Máu chó đen, mèo đen không hiệu quả.


Yết Kiêu bảo:


- Đại vương cho phép tiểu tướng trói Phạm Nhan bằng dây ngũ sắc, đưa ra giữa biển đánh đắm thuyền. Dù cái đầu có mọc lại, hắn cũng không thoát chết.


Một người lính vào báo:


- Thưa đại vương, có một người đàn bà xin gặp để hiến kế chém Phạm Nhan.


Hưng Đạo Vương mừng rỡ:


- Cho ngay vào!


Người đàn bà ăn mặc thật kì quái. Đầu đội khăn tang, mũ rơm, áo xô, chân đi đất, hai tay cầm hai “khốc tang trượng” (gậy đám ma), một cây gỗ vông và một cây tre.


Bà ta quỳ xuống và thưa:


- Tôi họ Nguyễn, người Việt. Chồng tôi họ Phạm, người Nam Tống. Chúng tôi bất hạnh sinh ra một thằng con bất hiếu. Khi ở Đại Việt, nó mang họ mẹ, tên là Nguyễn Bá Linh. Khi sang Tàu, đổi theo họ bố thành Phạm Nhan. Nó thờ giặc làm cha, chồng tôi giận mà chết. Tôi xin Đại Vương cho dâng cách chém đầu thằng nghịch tử.


Hưng Đạo Vương hỏi:


- Sao bà lại mang quần áo tang chế của đàn ông?


- Thưa Đại Vương, tôi thay chồng để tang những nạn nhân mà con tôi đã gây ra. Chiếc gậy tang bằng tre là để chở những người đàn ông, từ trẻ con đến người già. Chiếc gậy vông là chở những người đàn bà, từ hài nhi cho đến những người lớn tuổi.


- Bà biết cách phá giải phép phù thủy sao?


- Thưa Đại Vương, chồng tôi cũng biết một vài phép thuật nhỏ, có dạy cho Phạm Nhan. Sang Tàu, nghịch tử học được nhiều pháp sư cao tay nên có thể rắc đậu thành binh, tàng hình, mọc lại đầu khác. Nhưng phép phá giải thì gần như giống nhau. Đây là hũ khí huyết đàn bà đẻ, trộn với nước bốc mả giữa chính ngọ. Đổ những thứ dơ dáy này vào cổ nó, nghịch tử không thể nào tái sinh.


Hưng Đạo Vương trịnh trọng đứng lên vái người đàn bà họ Nguyễn:


- Xin thay mặt triều đình và các tướng sĩ cảm ơn bà!


Phạm Nhan bị trói vào chiếc cọc gỗ trước quân doanh. Vừa trông thấy mẹ, hắn la lên:


- Mẹ ơi! Mẹ đi cứu con đấy ư? Từ nay con sẽ xin nghe lời mẹ, theo quân Trần đánh lại quân Nguyên.


Người đàn bà cố cầm nước mắt, lạnh lùng nói:


- Không! Mẹ đến đây để tiễn linh hồn con, mong kiếp sau con làm người trung nghĩa.


Mẹ ơi! Trên đời này có người mẹ nào lại nỡ giết con đẻ của mình. Mẹ nghĩ lại đi! Con hối hận rồi…


- Muộn rồi con ạ. Nếu con nghe lời cha mẹ thì không có việc hôm nay. Đã một lần phản bội tổ quốc thì con sẽ lại cầm giáo đâm vào đồng bào của mình. Mẹ phải làm vậy để tạ tội với người dân nước Việt. Lòng mẹ đau như cắt, nhưng chỉ cách đó mới làm nguôi cơn giận của tổ tiên và đồng bào - người đàn bà gạt nước mắt.


Phạm Nhan nghiến răng lại:


- Có giỏi thì bà làm đi! Tôi sợ bà không làm được. Quân Mông Cổ sẽ san phẳng cả mảnh đất này trả thù cho tôi!


Khi thấy mẹ đưa cho đao phủ thủ cái hũ sành thì mặt hắn tái ngoét không còn hột máu. Phạm Nhan hét lên:


- Giời ơi… có người mẹ nào lại nỡ giết con!


Người mẹ rên rỉ:


- Có người mẹ, người cha nào lại phải chứng kiến con phản bội đất nước mình, dân tộc mình.


Hũ uế vật vừa đổ lên cổ, Phạm Nhan gục đầu xuống. Gã không còn hơi sức để tranh luận với mẹ.


Lưỡi đao lóe lên, cái đầu rụng xuống. Lần này, nó rơi xuống đất nhưng không biến mất, cái cổ cũng không mọc lên đầu khác. Người mẹ ôm lấy đầu con khóc nức nở. Hai vai bà rung lên, nước mắt đầm đìa chạy xuống cái đầu đã bị chặt. Hồi lâu, Hưng Đạo Vương ra lệnh:


- Hãy đỡ bà Nguyễn về dinh để nghỉ ngơi.


Yết Kiêu gỡ được hai tay người mẹ ra khỏi cái đầu. Ông ngẩn người không biết nói gì. Một lưỡi dao găm cán sừng trâu đã đâm vào ngực trái của người đàn bà đến tận chuôi. Bà Nguyễn đã tắt thở.


Hưng Đạo Vương bùi ngùi nói:


- Tướng quân Phạm Ngũ Lão hãy đưa bà lên núi an táng. Bên cạnh xây đền liệt nữ và cắt cử người bốn mùa hương khói. Cho Phạm Nhan được chôn cất cạnh mẹ, nhưng úp mặt xuống đất để không bao giờ nước Việt còn có những kẻ “rước voi về giày mồ”.


Phạm Ngũ Lão thưa:


- Tôi xin đại vương cho xây đền liệt nữ quay về phương Bắc.


- Đúng! Tướng quân là người hiểu đạo lí. Từ mấy ngàn năm nay, giặc đến cướp phá nước ta đều từ hướng đó.


- VI -


Thoát Hoan chui vào ống đồng chạy thoát về Tàu. Thủy binh của giặc chưa chiếm được đảo nào cũng đã bị tan rã.


Năm sau Hốt Tất Liệt chết. Y vỡ tim vì ba lần thua Đại Việt.


Nguồn: Bí mật đền Sĩ Nhiếp. Tập truyện Dị sử của Ngọc Toàn. NXB Văn học, 2012. Lời tựa của nhà văn Triệu Xuân.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Như vạt rêu ngoài suối - Kiều Duy Khánh 05.11.2017
Nhà số “100Big” - Y Mùi 17.10.2017
Nơi bão đi qua - Trịnh Bích Ngân 17.10.2017
Mụ Tân - Y Mùi 12.10.2017
Người tử tế - Y Mùi 12.10.2017
Vương quốc mộng mơ - Nguyễn Trường 23.09.2017
Yêu rừng như yêu đời - Triệu Xuân 01.09.2017
Nắng chiều - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Lầu 3 Phòng 7 - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Ba sao giữa Giời - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
xem thêm »