tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19690024
Truyện ngắn
10.03.2017
Vũ Hạnh
Lẽ sống (Tên ban đầu: Con thằn lằn)



Bài này như một nén hương đốt lên để tưởng niệm người bạn tù cùng chung xà lim với tôi ở nhà lao Thăng Bình, anh Võ Hùng, quê Tam Kỳ, bị chế độ của Diệm Nhu bắt vào năm 1955 và tra tấn bằng đủ loại cực hình man rợ trước khi đem đi thủ tiêu. Chi tiết trong truyện ghi lại trung thực những gì mắt thấy tai nghe dưới chế độ tù thời ấy, và chỉ phản ánh được trong muôn một. Sau khi Diệm Nhu bị lật đổ, bài này đã đăng trên tuần báo Văn thời ấy - 1963 - với nhan đề là Con thằn lằn.


 


Khi Hùng mở mắt, chỉ nhìn thấy khoảng tối đen dày đặc. Định thần một lát, anh mới nhớ mình đang nằm ở trong xà lim mà anh bị đẩy mạnh vào từ lúc nửa chiều. Anh thấy hiện lại vẻ mặt đỏ nhừ của tên Chi trưởng Công an khi gọi tên anh trong đám tù nhân chen chúc ở trại số 5, và cặp mắt đầy tia máu của hắn lừ lừ nhìn anh với vẻ chăm chú khác thường. Vẻ mặt và cặp mắt ấy, anh đã gặp gỡ nhiều lần ở phòng khai thác và anh nghiệm thấy rằng khoa tướng số có thể xác thực ở một chừng mực nào đó mà những hành động cũng như cảm nghĩ có thể chi phối sắc diện con người. Nhưng buổi chiều nay, cái nhìn của hắn có một vẻ gì khác lạ như chứa một ý u tối, ác độc khôn lường. “Nó còn mong muốn gì nữa, khi mình đã thành tàn phế đến mức độ này?”, anh đã gượng gạo đứng dậy trên hai ống chân đã gần què quặt, khi nghe gọi tên, cố tránh cái nhìn của hắn mà anh đoán rằng không ngừng soi mói vào anh. Qua hai vạt sân khá rộng, ngăn cách trại giam với dãy xà lim, hắn vẫn lầm lì đi trước để anh theo sau với hai người lính mang súng đi kèm hai bên. Anh phải lê chân một cách khó nhọc và co hai tay trên ngực cho bớt đau nhức nên khi đến nơi đã gặp ngay câu chửi rủa tuôn ra từ trên khuôn mặt hầm hầm: “Mẹ cha thằng này! Cứ giả đau hoài! Mày có chết đi cũng chẳng con chó nào thương, nữa là làm bộ què quặt!”


Rồi gã tiếp thêm:


- Đ… mẹ cha mày!


Và đẩy cánh cửa, xô mạnh anh vào.


Trong những tiếng khóa rổn rảng bên ngoài, Hùng nghe xen lẫn tiếng chửi lầm bầm và lời dặn dò lính gác. Anh đã nhàm tai tiếng chửi của hắn cũng như hầu hết nhân viên dưới quyền, một bọn chỉ biết có sự đánh đấm tàn bạo, chửi rủa tục tằn. Ngày anh mới bị tra hỏi, một tên mập mạp to lớn sau một thủ đoạn khai thác, lại cho anh biết là nếu không có “chủ nghĩa nhân vị”, chính thể “tự do”, thì anh còn bị hành hạ nhiều hơn thế nữa. Cứ thế, được sự bảo trợ của những danh từ tốt đẹp, anh phải nằm gục dưới những trận đòn chí mạng.


Nhưng suốt một tuần sau đó, anh không nghe bọn tra tấn nhắc lại những cái danh từ khá tốt đẹp kia. Chúng chỉ hùng hục trói anh, đánh anh, xô ngã anh xuống, lôi ngược anh lên, đạp anh quằn quại dưới gót giày chúng và mắc anh vào bàn điện, quay tít từng vòng cho bắn tung cả người lên để rơi mạnh xuống chết giấc dưới sàn… Sự tra tấn ấy mỗi ngày mỗi thêm biến đổi, mỗi có một sáng chế mới, khi thì trói quặt tay anh ra sau kéo lên xà nhà để dùng đinh nhọn đâm vào cạnh sườn, khi thì cột hai ngón chân treo ngược anh lên sau khi đã còng tay lại rồi quất túi bụi vào mặt, vào mình… Gần như trí óc của chúng có thể nghĩ được những gì về sự hành hạ thân xác con người đều được đem ra áp dụng, chú tâm khai thác những chốn hiểm nghèo ở trong cơ thể, cố gây cho được những nỗi đau đớn tột cùng. Mỗi lần bị sự hành hạ như thế, Hùng lại cảm thấy tấm lòng tự ái của mình bừng bừng nổi dậy và anh cương quyết không chịu khai báo gì hết với bọn quỷ dữ mang lốt con người. Rốt cuộc, chúng đã dùng đến một hình thức khác tỉ mỉ hơn nhiều: lột hết áo quần anh ra và trói vào một góc cột, đoạn lấy kim nhọn đâm nát từng bộ phận một của cơ thể anh. Bắt đầu, chúng đâm vào trán, vào mặt, vào mũi, vào gáy, khiến cho máu nhuộm đỏ cả mặt mày ri rỉ tuôn xuống từng dòng nơi cổ, nơi ngực, làm anh cảm thấy nhoi nhói toàn thân, tưởng phải điên loạn ở trong phút chốc. Qua ngày thứ hai, chúng đâm đến tứ chi anh, rồi dần đến lưng, đến ngực, đến cả cơ năng sinh dục. Mỗi lần dày vò người anh như thế, chúng không ngớt miệng hùng hổ buộc anh tỏ bày sự thực, tưởng rằng chân lý có thể đạt đến bằng sự đi ngược lại lòng nhân đạo. Trong sự đau đớn tột cùng, nhiều lúc Hùng muốn cắn lưỡi để sớm vĩnh biệt cuộc đời, nhưng mối phẫn nộ dần dần xâm chiếm đầu não tưởng đã tê liệt, và anh nhủ mình cố gắng chịu đựng để cho bầy thú mặt người biết rằng chúng không thể nào khuất phục được anh, và không sức tàn bạo nào có thể buộc anh phản bội lẽ phải mà anh chấp nhận, phản bội những người chiến hữu cùng đi với anh trên một con đường. Đến lúc chúng ngừng trò chơi “xăm mình” tội nhân mà chúng thực hiện với vẻ thích thú xen lẫn oán ghét đã thành thủ tục nhà nghề, thì Hùng mới cảm hết nỗi thống khổ về phần thể xác khi toàn thân anh nhức nhối và những chỗ đâm làm mủ sưng mộng cả lên. Vào những lúc ấy, anh không còn biết gì nữa, thoi thóp một ý được sống rất là mỏng manh. Có lần anh muốn nói hết những điều mà anh che dấu để được hưởng sự săn sóc nào đó cho dịu hết nỗi nhức nhối dằn vật toàn thân, nhưng khi cố hé cặp mắt sưng múp, lờ đờ nhìn thấy khuôn mặt ác độc của chúng anh lại kịp giữ đôi môi mấp mấp và tự bảo mình: “Không thể nào được, con người không thể đầu hàng loài thú”.


Mấy tháng sau đó, Hùng nhớ lại sự tra tấn qua rồi và rất ngạc nhiên khi thấy mình vẫn sống sót trong sự tàn phế hoàn toàn. Anh chỉ ý niệm lờ mờvề giai đoạn qua và có đôi phút anh chợt thảng thốt ngỡ mình đã từng khai báo gì rồi trong cơn quằn quại hoặc đã để lộ một câu nói nào có thể tố cáo những mối liên hệ của mình. Nhưng khi được gọi lên phòng khai thác trở lại, để ký vào những tờ cung lần cuối, anh có dịp đọc vội vàng những câu đối đáp khôn khéo của anh được tên nhân viên phụ trách ghi lại một cách vụng về trên giấy và tìm lại niềm tự tin đối với chính mình. Anh phải khom sát trên mặt bàn rộng để bàn tay đã què liệt có thể nguệch ngoạc một vài nét chữ trên ba bản giấy cỡ lớn, và nhìn chữ ký trở thành khác lạ như một dấu hiệu cam kết không bao giờ chịu nhượng bộ. Lúc quay mình lại để xuống phòng giam, Hùng bỗng sửng sốt khi nhìn thấy mình trong tấm gương soi trên vách: vẻ mặt đều đặn, hiền lành ngày xưa của anh đã thành méo mó, với những sớ thịt sần sùi, dày cộm, kết quả của trò xăm người vừa qua.


* * *


Hùng đoán bây giờ có lẽ bên ngoài trời tối lắm rồi. Anh cố nhướn mắt một cách khó nhọc nhìn qua khe cửa nhưng không thấy gì ngoài một khoảng đen dày đặc. Giấc ngủ từ chiều dìm anh vào cơn mê mệt khiến anh như vừa ra khỏi cõi chết mênh mông để rơi vào lòng địa ngục. Anh cố lắng tai nhưng không nghe những tiếng động nào khác. Mỗi đêm, nhân viên công an và những lính gác trại giam không có một giải trí trường nào khác ở nơi quận lỵ khá vắng vẻ này, nên thường uống rượu say mèm rồi bày trò vui bằng cách bố trí hai dãy người dài cầm gậy đứng đối diện nhau cách chừng vài thước và bắt phạm nhân đứng vào một bên, sắp thành hàng một. Phạm nhân bắt buộc phải bò thật nhanh qua lớp hàng rào gậy gộc cứ việc thi nhau giáng xuống đôm đốp trên lưng, trên đầu của họ. Không phạm nhân nào thoát khỏi những cơn mưa đòn ác liệt. Những người già cả luống cuống nằm phục dưới loạt gậy gộc, những người phụ nữ bối rối bò lê, bò càng rồi lủi vào dưới chân giày của chúng, bị chúng đá hất ra ngoài, lựa những nơi nào ưa thích hơn cả để giáng gậy xuống và hả hê cười… Những trận cười ấy vang động cả một vạt sân khá lớn dội vào các phòng, các trại như những tiếng kêu man rợ của loài quỉ quái. Những đêm anh nằm trong gian phòng giam người bệnh, tiếng cười lôi anh trở dậy và anh chồm về phía cửa, toàn thân run lên, thở dốc từng cơn như chính anh bị hành hạ dưới trận gậy gộc kéo dài.


Hùng cố lắng nghe nhưng không nghe thấy tiếng ồn xao động quen thuộc hằng đêm. Có lẽ bây giờ đã khuya lắm rồi và anh đã mê thiếp đi lâu quá. Tự nhiên Hùng thấy bụng đói cồn cào. Anh loay hoay một lát lâu mới ngồi dậy được, quờ quạng tìm về phía cửa. Anh chạm tay vào một cái lon thiếc ươn ướt và cúi xuống gần nghe mùi hôi thúi nồng nặc. Anh quay sang một hướng khác và sờ đụng một cà-mèn đựng cơm có cắm đôi đũa. Khi đặt cà-mèn lên đùi như một điểm tựa để bàn tay trái đỡ bớt nhọc nhằn, anh dùng tay mặt lùa vội những miếng cơm đã nguội lạnh, khô xác vào miệng và nhai một cách khó khăn. Có lẽ người ta bỏ cơm vào lúc xế chiều khi anh mê thiếp và đã quên thí cho anh một vài ngụm nước. Anh cố nuốt những miếng cơm chỗ mặn, chỗ lạt với nỗi đói khát nghẹn ngào và quơ đôi đũa sục sạo những hạt cơm sót dưới đáy cà-mèn một cách tuyệt vọng. Suốt trong thời gian giam giữ, không bữa ăn nào anh ăn được no và nếu không phải nhốt vào xà lim thì mỗi bữa cơm anh phải chứng kiến cảnh tượng cướp giật hết sức tồi tàn. Ban đầu phạm nhân còn cố giữ gìn thể giá của mình, nhưng đến một lúc nào đó cơn đói khiến họ chồm lên, hau háu giằng lấy những mảnh cháy sém trong giỏ đựng cơm, xô đẩy vào nhau, chửi rủa, hằn thù. Số tiền ghi trên giấy tờ, bảy đồng mỗi ngày cấp cho mỗi một phạm nhân, đã được quận trưởng cùng với cai ngục – gọi là giám đốc lao xá – chia nhau, rốt cuộc người tù mỗi ngày không hưởng được quá một đồng. Lâu lắm người ta mới nghe có một phái đoàn đại biểu chính phủ Trung-Việt về quận quan sát đời sống tù nhân, và trước khi họ đặt chân đến quận vài ngày, người ta cho lính quét dọn sạch sẽ, bắt tù hớt tóc, tắm rửa, thay áo, thay quần, rồi tập hợp lại dặn dò: “Cấp trên có hỏi han gì thì liệu lời mà thưa gởi, nghe chưa? Nói bậy thì đem chôn sống! Chuyến này người ta đang xem xét lại hồ sơ rồi cho về hết. Chính thể tự do không có nhốt người làm gì. Tôi biết bà con ở đây ai cũng nặng lòng đối với gia đình nên đã đề nghị cấp trên phóng thích tất cả. Chừng một tuần nữa, đợt nhất cho về hai trăm, tuần sau đợt nhì một trăm, đợt ba, một trăm, a-lê! Giải tán nhà lao! Nhưng cho về rồi liệu mà làm ăn nghe chưa? Bắt một lần nữa thì có mà ở rục xương trong tù!” Lời nói lừa phỉnh rất đơn giản ấy cũng dối gạt được một số phạm nhân và họ tỏ ra hớn hở, ngoan ngoãn để hy vọng về đợt nhất. Ngày các đại biểu đến quận thì một số tù “ngoan cố” được nhốt kỹ lại, còn thì cho ngồi từng khóm bên những mâm cơm có cá, có canh, chờ đợi một cuộc viếng thăm long trọng. Mọi người đói run vẫn phải ngồi xếp bằng lại trong một điệu bộ chỉnh tề và hai, ba vị đại biểu mặc toàn đồ lớn, bệ vệ đi xuống, mỗi vị có hai nhân viên công an đi theo với một vẻ mặt hầm hầm và khẩu súng lục kè kè bên hông. Một vị có vẻ là trưởng phái đoàn, đứng ngắm tù nhân một lát như người ngắm xem phong cảnh, rồi quay sang tên quận trưởng, gật gù:


- Phải nói cho tù nhận thức rõ thêm đường lối nhân vị của chính phủ ta. Ở nhà, chưa chắc họ đã được sống yên ổn, no đủ thế này.


Cả đám người khá sang trọng đi quanh chỗ tù tập họp một vòng rồi kéo lên quận, không cần hỏi han gì nữa, mặc dù người ta đã bố trí sẵn hai ba đại biểu tù nhân, tuyển lựa trong số đã làm chỉ điểm lâu nay, để bày tỏ những cảm tưởng tri ân chính phủ khi được hỏi đến. Vài phút sau đó, có tiếng máy nổ và chiếc xe hơi bóng loáng lao ra cửa quận. Phái đoàn đã xong nhiệm vụ điều tra và đã lên đường! Tên Chi trưởng công an từ trên sân quận lững thững đi xuống, và để gỡ lại cái vẻ lo âu của gã vừa rồi, gã nói lầm bầm cốt cho tù nhân nghe thấy:


- Đ… mẹ đại biểu! Điều tra cái cóc khô gì mà làm cho con người ta mất hết ngày giờ!


Gã nheo mắt, hất hàm bảo một người lính đứng gần:


- Có biết các chả đi đâu đó không?... Ngồi lâu ngứa đít, các chả kéo nhau đi chơi để về lấy công tác phí! Đ… mẹ! Ăn hết, ăn tuốt! Chừng nào chó mà chê cứt thì bọn này mới chê tiền.


* * *


Hùng nằm dài ra trên đất, bây giờ nghe tiếng muỗi kêu rõ hơn. Anh không còn sức để đập và đã quá quen với muỗi, với rệp từ lâu nay rồi. Anh muốn chìm vào giấc ngủ ban chiều và những miếng cơm nuốt vội khiến anh cứ nằm lơ mơ, đầu óc vần vù rối loạn những mớ hình ảnh chập chờn. Nền đất trở lạnh và dưới lưng anh ngọ nguậy những con vật nhỏ cố nhoi mình vào các chỗ áo rách. Anh nghe rấm rức đau nhói, biết rệp bò ra từ các kẽ gạch bắt đầu bòn rút chút máu còn lại trên cái thân hình gầy mòn xanh xao của mình, nhưng không còn có cách nào để đối phó lại. Anh cố duỗi thẳng hai tay cho bớt nhức mỏi nhưng không điều khiển như ý những đường gân đã rũ liệt.


Trong tình trạng lơ mơ kéo dài như thế, Hùng nghe nhột nhạt ở trên bàn tay rồi tiếp là những nhức nhối nơi đầu một ngón tay nào trong năm ngón của tay anh. Anh mệt nhọc lắm mới rút tay lại, và một lát sau vẫn có những sự gậm nhấm đau nhức như thế.


Cuối cùng anh hiểu đó là một con thằn lằn đã chọn những đầu ngón tay hôi hám cơm mắm của anh làm một thức ăn trong cảnh đói khát tuyệt vọng của nó. Ý nghĩ mình sẽ trở thành một cái xác chết để cho sâu bọ rỉa rói dần mòn làm anh bừng tỉnh, đầu óc trở nên sáng tỏ hơn nhiều. Anh thấy hốt hoảng về một đoạn kết bi thảm đang chờ chực mình. Nhưng một lát sau anh lại tìm gặp những ý chua chát của kẻ liều lĩnh đứng trước một cái tai họa mà mình không sao tránh thoát. Anh phải xua đuổi nhiều lần con vật mới chịu lảng tránh khá lâu rồi một lúc sau vẫn bén mảng lại. Bỗng nhiên anh nghĩ đến những hạng người nép trong bóng tối cuộc đời, bóng tối của sự ngu dốt, của sự tàn bạo để rỉa xương thịt đồng bào, đồng loại. “Ở đâu cũng có thằn lằn, ngay cả cái xó tối này”. Anh nhớ lại cái hình dáng xám mốc lỗ chỗ những chấm rằn rựt, cái mình bò sát xuống vách và những ngón chân nham nhám gây sự nhột nhạt mỗi khi cọ trên da thịt, để tìm đủ cách gượng gạo liên hệ với những hạng người mà lớp tù nhân như anh phải chịu đựng sự rỉa đói hằng ngày. Trong mớ bóng tối, mỗi lúc như quánh đặc lại, anh tưởng mình đang đối diện với con thằn lằn khổng lồ của thời tiền sử, nặng nề, quái ác, vênh một cái mỏ thèm thuồng và một đôi mắt hau háu nhìn anh, muốn nuốt lấy anh. Đầu thằn lằn ấy dần dần mờ đi để chuyển biến thành một cái đầu người với một cặp mắt đỏ nhừ đầy những gân máu, rồi cả nguyên hình hiện rõ với một dáng điệu lầm lì, một khẩu súng lục nhét vào giữa bụng, lòi ra cái chui đen bóng. Anh trừng trừng nhìn khuôn mặt ấy trong đêm, mỗi lúc thấy nó mọc lên những sừng, những gạc, chĩa ra những nanh, những vuốt và cái hình ảnh thằn lằn biến đi, dần dần như lặn thấp xuống để cho một loài quái vật chồm dậy nói những tiếng người, khàn khàn với những hơi thở tanh nồng xác chết.


Hùng trôi lạc vào biên giới của giấc mê mệt lúc nào không hay và vẫn tưởng mình như đang tỉnh thức để mà chờ đợi xua đuổi con vật nhỏ bé cố bám lấy bàn tay mình. Một lúc nào đó anh nghe như có người nói xì xào và tiếng mở cửa, rồi một vệt sáng chói lòa cả khuôn mặt anh. Một giọng ngái ngủ lè nhè:


- Nó còn đấy không?


Tiếng đáp uể oải:


- Còn…


Rồi ánh đèn tắt, tiếng cửa đóng lại, tiếng khóa khua động bên ngoài. Tất cả điều này qua sáng hôm sau hiện lại trong trí óc anh như những hình ảnh vọng về từ một giấc mơ không có đầu đuôi rõ rệt.


Anh mở mắt nhìn chung quanh và thấy có một chấm sáng trên nóc rất nhỏ, chấm sáng nhìn xuyên qua một lỗ hổng trên nóc. Bây giờ trời lại sáng rồi, không biết mấy giờ. Anh lại trách mình cứ mải băn khoăn về chuyện thời gian trong một hoàn cảnh người ta đáng phải quên đi để sống những ngày an phận. Có lẽ mặt trời khi chỗi dậy được đã mang lại luồng sinh khí cho người, nên anh thấy mình có đủ tỉnh táo để nghĩ ngợi về cảnh ngộ của mình. Sự giam giữ anh đột ngột vào trong xà lim tất phải có một duyên cớ. Duyên cớ gì đây? Một kẻ nào mới khai báo gì thêm cho anh nữa chăng? Hay là một sự uy hiếp trở lại để mong khai thác về một điểm nào mà họ đang còn nghi vấn? Có thể anh sắp được đi an trí miền xa, hay anh sẽ bị chúng đem… thủ tiêu, một ngày rất gần. Tất cả lề lối tra tấn cũng như giam giữ ở các nhà giam quận lỵ không có những tiêu chuẩn nào, những lý lẽ nào rõ rệt. Người ta áp dụng một thứ chính sách địa phương tự trị rất là tùy hứng, lệ thuộc vài kẻ cầm đầu luôn luôn mâu thuẫn với nhau. Qua các tổ chức lao tù, tưởng thấy được một chế độ đang bị nát vụn nhưng duy trì bằng cá tính hơn là ý thức, điều khiển bằng những thành kiến và bằng phản ứng bản năng, hơn là bằng những lý luận hoặc bằng nỗ lực hướng về một thứ lẽ phải.


Hùng sẽ vì băn khoăn ấy mà quên hẳn con thằn lằn trong đêm nếu anh không cảm thấy sự nhức nhối râm ran ở đầu đôi ngón tay mình. Anh đặt hai tay lên hai đầu gối, xuýt xoa thổi cho dịu bớt đau rát. Anh nhớ lại cái hình ảnh liên hệ ban tối của mình và anh tự trách mình đã so sánh vô lý con vật quá hiền lành này với bọn tra tấn đồng bào, đồng loại của chúng một cách dã man. So sánh như thế là đã tỏ ra quá sức khoan dung, một sự nhượng bộ, một kiểu đầu hàng. Có thể đó là một số ý tưởng phát sinh do sự suy nhược của anh, khi nỗi mệt nhọc đã làm rã rời ý thức. Anh nhớ ngày trước, nói về hạng người không muốn làm gì ích lợi cho cuộc đời nữa nhưng thích tự đánh lừa mình bằng cách kể lại dĩ vãng oanh liệt để có một vài ảo tưởng trong bước nhìn xuống của mình, anh vẫn gọi họ là hạng “thằn lằn gặm đuôi”, một cái hình ảnh mượn của thành ngữ bình dân mà anh rất thích. Vậy ra đời sống của con thằn lằn nhỏ bé cũng thật dồi dào ý nghĩa tượng trưng cho những cái gì đang tự làm cho mục nát dần đi.


Lúc nghe tiếng khóa lổn rổn bên ngoài anh cũng không buồn ngồi dậy. Cánh cửa hé mở và một bàn tay thò vào lấy cái cà-mèn và đặt vào đấy hai lon thiếc lớn. Một giọng cố làm ra vẻ gắt gỏng:


- Dậy mà ăn đi!


Rồi cánh cửa đóng ập lại. Anh nghe tiếng giày xa dần, mờ dần và khắp chung quanh những giọng rì rào nỗi lên: tù nhân tập họp ở sân bắt đầu phân phối những miếng cơm trưa. Anh ngồi dậy trong ánh sáng lờ mờ của ngày cuối thu lọt qua không biết từ ngõ ngách nào và hơi ngạc nhiên khi thấy lon thiếc đầy cơm, có một con cá nằm ngang. Anh bỗng đâm ra tư lự trước sự đãi ngộ quá tử tế này, cảm thấy một nỗi xót xa sâu rộng y như một kẻ nghẹn ngào bắt gặp bàn tay mình đang đào xới lỗ huyệt cho mình. Những kẻ bị nhốt xà lim là những kẻ bị trừng phạt, phải bị hạn chế mọi mặt ở trong sinh hoạt tù phạm của mình. Những lần bị giam giữ trước trong chốn biệt phòng tăm tối và ảm đạm này anh đã chịu đựng bao nhiêu đói khát, kham khổ. Chén cơm, miếng cá hôm nay không phải kết quả của một chính sách mở rộng ở chốn lao tù, đó chỉ là cách chiếu cố đến kẻ sắp chết thực hiện theo một công thức của lòng thương hại, tuy gọi là để an ủi những người xấu số nhưng cốt làm cho lương tâm của kẻ đao phủ được nhẹ nhàng hơn, để hắn có thể tiếp tục việc ấy dễ dàng hơn nữa về sau. Anh muốn bỏ đôi đũa xuống và quyết không ăn uống gì. Trong tình thế này, sự đói đã thành vô nghĩa, vì anh biết mình có thể tự gây cái chết cho mình lúc nào cũng được. Một vài phút sau, anh nhận thấy sự từ chối ăn uống hôm nay quả là hành động hờn dỗi. “Hờn dỗi với bọn sát nhân!” thực là một chuyện ngớ ngẩn, buồn cười, một cách xử sự ngây thơ của lũ trẻ con đứng trước cuộc đời. Anh cầm đôi đũa vục vào trong lon cơm đầy, đưa cơm lên miệng để nhai và cố quên đi chất vị ngao ngán hằng ngày. Miếng ăn, dù có một món cá phèn kho mặn thêm vào, vẫn còn khô xảm, lạt lẽo như chất dăm bào lấy ra từ các trại cưa. Anh tự hỏi mình có quá lo lắng hay chăng khi bị ma-hoặc bởi một ý tưởng lìa đời như thế. Nhưng không, đây là sự thật, tiếp nhận không chỉ bằng sự suy đoán mà bằng trực giác sâu xa của một tù nhân. Anh vụt nhớ đến ánh đèn rọi sáng trong đêm, những câu người ta thì thầm trao đổi về anh, cái nhìn của tên Chi trưởng công an và cảnh u-buồn của những ngày thu tàn tạ. Bao nhiêu bạn hữu của anh đã vào nơi đây và đã lần lượt ra đi, vào một lúc trời bắt đầu sụp tối, trên những chiếc Land-Rover mở rộng cửa sau như một lỗ huyệt văn minh chờ đợi những kẻ bị buộc làm vật hi sinh cho cái danh từ văn minh kia được tồn tại. Hùng đã từng lượm được những mảnh giẻ viết bằng chất máu khô đặc, quấn tròn nhét vào kẽ gạch rải rác trong dãy xà lim quận lỵ, đọc được những hàng chữ viết bằng máu trên các mặt tường, hoặc bằng vết cây đinh nhỏ cào trên mặt gạch, những lời trối trăn của của ra đi. Không ai lưu lại một lời buồn tủi nào hết, tiếng nói của họ trong giờ phút chót vẫn là tiếng nói được gạn lọc nhất, tiếng nói tinh anh của một ý thức sáng suốt nâng họ cao vời, bất khuất, trên bọn sát nhân hèn hạ mỗi ngày càng sa đọa hơn, càng hèn hạ hơn.


Hùng đặt lon cơm đã sạch xuống dưới nền đất và tự hỏi mình cần phải làm gì trong khoảng thời gian ngắn ngủi mà mình còn giữ sự sống nơi mình. Kiểm điểm trở lại, trên một năm trời giam giữ ở chốn lao tù quận lỵ, chỉ có một điều làm anh kiêu hãnh là anh không hề chịu khuất phục trước bạo tàn, anh không chịu hé một ánh sáng nào về những sự thực của việc anh làm, và nếu cần phải mở miệng nói gì anh cũng tìm cách gieo thêm hoang mang, ngờ vực giữa bọn người thú luôn luôn tưởng họ có thể định đoạt được anh một cách dễ dàng. Anh giữ vững được tinh thần một phần cũng do lề lối tra tấn dã man của họ, bởi vì cung cách xử sự như loài ác thú làm cho nhân tính của anh vùng dậy quyết liệt, và họ càng giày xéo anh chừng nào, anh càng nuôi dưỡng được sự khinh bỉ đối với bọn họ chừng ấy. Chính sự đánh đập tàn bạo làm cho ranh giới phân biệt giữa anh và họ mỗi ngày càng thêm rõ rệt, càng thêm sâu sắc. Anh nghĩ những sự chịu đựng cứng cỏi của các tù nhân làm kích động nhiều thú tính nơi bọn người thích hành hạ con người, góp phần biến chúng thành một lớp hạng khác với đồng loại.


Một lần, anh đã bới tìm được một ngòi bút cũ sét trong số rác rưởi dồn lại sau quận và cố xin ít thuốc ghẻ xanh sẫm đựng trong một vỏ chai thuốc đã loại bỏ rồi, để làm bình mực. Với một mặt giấy, bề trong của bao thuốc lá, anh đã thừa dịp nằm trong phòng nhốt bệnh nhân viết một bức thư nói về tình hình những kẻ bị giam cùng những thủ đoạn tra tấn, mánh khóe khai thác của bọn cầm quyền, với hy vọng rằng những bạn hữu anh ở ngoài có thể hiểu thêm ít nhiều sự thực để mà xoay xở đối phó kịp thời trong những trường hợp phải bị sa vào tay bọn ác quỉ. Bức thư, kẹp vào vành tre của một chiếc giỏ đựng đồ “tiếp tế”, phải mất khá nhiều công phu mới lọt ra ngoài. Nhân ngày lễ lớn, một người bạn tù tương đối tự do hơn anh có dịp gặp mặt cô em gái mình qua dãy hàng rào kẽm gai, đã khôn khéo dặn dò em gởi thư đến một địa điểm mong đợi. Anh tin rằng cô gái ấy thế nào cũng làm đúng lời người anh đã bảo. Đa số phụ nữ đều có những sự phản ứng hồn nhiên rất hợp lẽ phải, bởi vì nơi họ luôn luôn có sự kêu đòi lẽ phải, dù là kêu đòi một cách thầm lén mà chính họ không bao giờ ngờ đến. Và một lần khác, anh đã không nén được nỗi căm phẫn của mình khi thấy tên chủ nhà lao đem một số người mới bị bắt vào lột hết áo quần buồc nằm chồng chất lên nhau như một bức tường. Trên năm sáu người đàn ông nằm sắp lớp ấy, mà ở trên cùng là một ông già, chúng đã bắt một cô gái nằm lên sau chót mặc dầu cô tìm đủ cách lạy lục van xin khỏi một hình phạt va chạm quá mạnh đến lòng xấu hổ của cô. Viên cai ngục ấy đã đánh vào mặt cô gái hai cái bạt tai nẩy lửa khiến cô nhào lăn trên đất, rồi nhảy xấn đến, bảo những đội viên thủ hạ:


- A-lê! Xách nó quăng trên đống thịt cho tao.


Người con gái xanh như tàu lá, nằm như xác chết trên những đồng bào của mình. Cai ngục ra lệnh:


- Tụi bây phải giữ cho cái bức tường khỏi ngã. Đứa nào làm ngã thì bắt nhịn đói, nhốt vào xà lim.


Rồi nó cầm cây gậy song dài thượt quất túi bụi vào mình người con gái nọ. Cô gái kêu khóc thất thanh, giẫy giụa trên những mạng người rồi ngã lăn nhào xuống đất. Cai ngục thét lên:


- Con đĩ chó! Làm ngã! Làm ngã! Làm ngã!


Lão quất vùn vụt vào mình, vào đầu ông già nằm dưới, đến lượt ông già quằn quại ngã lăn xuống đất. Cứ thế, người tiếp sau đấy hứng trận mưa đòn rồi lại ngã theo, cuối cùng họ quay lăn lộn trên đất giữa những vết máu loang đỏ mặt sân và tiếng roi song vun vút xen lẫn những tiếng reo cười cố gắng tán thưởng của bầy thủ hạ.


Những người tù bị bắt ngồi quanh để chứng kiến trò “xây tường” của tên cai ngục – nghe đâu trước kia là một nhà thầu chuyên xây nhà cửa, công sở cho Tây – phần đông đều quay mặt đi nơi khác. Một số phụ nữ ôm mặt cố giấu tiếng khóc uất ức của mình và những cụ già ngồi nhìn trân trối phía trước, đôi mắt đục lờ, sờ sững tưởng như chết lặng. Một số thanh niên bàn tay như bấu vào đất, nổi hằn những đường gân xanh, cặp mắt dán chặt vào cái khuôn diện hầm hầm của viên cai ngục. Hùng cắn chặt hai vành môi tưởng đến rớm máu và nghe hơi thở uất lại trong lồng ngực mình. Nhiều lần anh muốn quay mặt nơi khác, nhưng anh tự thấy xấu hổ vì một thái độ trốn tránh như vậy. Cuối cùng, không dằn được mình anh chồm gỡ một viên gạch ở cạnh bìa sân, hét lên như xé toạc cả cổ họng:


- Đồ dã man!


Và anh ném thẳng viên gạch vào mặt chủ ngục. Viên gạch do một cánh tay quá yếu tung ra không thể trúng đích, rơi vào chân tường gần đấy. Tên chủ ngục dừng roi, không chờ đợi một phản ứng ngoài sức dự tưởng, đứng yên như một pho tượng, chỉ giương cặp mắt sáng quắc trợn trừng mỗi lúc một thu nhỏ dần, gườm gườm nhìn về phía Hùng. Rồi nó ném cây roi xuống, hai bàn tay nắm chặt lại, miệng nói lầm bầm như trong tiếng rít: “Hừ, đồ dã man…” vừa lừ lừ tiến về phía kẻ đã cả gan xúc phạm đến nó, giữa lúc nó đang chứng tỏ uy quyền.


Bước đến gần anh, cai ngục gào lên:


- Tao cho mày chết!


Rồi nó đấm thẳng vào giữa mặt anh, xông vào người anh đã ngã quay lơ trên đất để đấm, để đá túi bụi. Đoạn nó xềnh xệch lôi anh lại góc lao xá, nắm đầu nắm ngực của anh dằn mạnh vào tường, vừa hét:


- Đồ dã man! Này, đồ dã man! Này… này! Này!


Mãi một lúc sau khi thấy miệng Hùng tràomáu và anh ngã quỵ như một cành cây đẵn xuống, nó một buông tay, rồi thở hào hển quay lại bảo số lính gác:


- Tống thằng này vào xà lim! Còn cả lũ kia, nhốt lại không cho ra ngoài, không cho nhận đồ tiếp tế!


* * *


Khi Hùng nằm xuống, anh lại nghe bò nhột nhạt trên cánh tay mình. Lại con thằn lằn! Anh cố quay nghiêng người lại nhìn theo hướng nó nhưng nó vụt chạy đâu rồi. Con thằn lằn này cũng giống như kẻ sợ hãi sự thật, trốn vào xó xỉnh và lừa cơ hội để rỉa rứt những cơm thừa xương vụn của đời, tự yên phận với cuộc sống nhỏ bé, tối tăm như thế. Một lát sau đó, nó e dè tiến lại gần phía anh, ngập ngừng, tính toán rồi lại rướn mình chạy đến. Nó không đáng tởm như anh đã nghĩ, nó chỉ là một con vật bé nhỏ, hiền lành, sống đời hèn mọn của loài sâu bọ, côn trùng. Nó chỉ nghĩ đến mỗi sự ăn uống, những cái nhu cầu thiết yếu, giản đơn không thuộc riêng về một loài vật nào. Anh thấy nó quay cái đầu nhỏ bé ngơ ngác tìm mồi và bỗng nảy lòng thương hại. Tự nhiên anh nhớ đến một số người quen thuộc mà anh đã từng tiếp xúc, họ cũng gần gũi thằn lằn ở cái thái độ bò ép mình xuống và chỉ ngước lên khi có hơi tiền. Cuộc sống thằn lằn là một cuộc sống phồ biến có thể tìm gặp bất cứ nơi nào. Hùng chợt mỉm cười khi nhìn thấy mình rõ hơn qua những suy luận vẩn vơ chung quanh một con vật nhỏ. Những suy luận ấy thật không có gì làm căn cứ hết, nhưng đối với anh giờ đây cũng là thêm một cách thế tự nâng đỡ mình trong những đe dọa, để nuôi dưỡng mãi tấm lòng tự tin đã có từ lâu. Con thằn lằn ấy có thể gọi là cái cớ, dù là nhỏ nhặt, để cho con người của anh phóng tỏa sự sống tồn trữ của mình.


Nhưng con thằn lằn thực sự chỉ làm cho Hùng bàng hoàng vào lúc nửa đêm. Sau khi vệt sáng của ngọn đèn bấm rọi thẳng vào mặt của anh và một câu hỏi bên ngoài “Nó còn đấy không?" tiếp theo một tiếng trả lời ngái ngủ: “Còn!” vọng theo tiếng khóa lổn rổn ở ngoài vụt tắt, thì anh chợt nghe những tiếng tặc lưỡi cuối cùng con thằn lằn ở trên đầu mình. Tiếng tặc lưỡi ấy nhỏ nhoi, cô độc, nhưng thật gọn gàng, nổi rõ giữa vùng tăm tối âm u của chốn xà lim thấm lạnh về khuya. Hùng nằm yên, chú ý nghe tiếng tặc lưỡi, tưởng như nghe thấy cái đoạn cuối cùng của rất nhiều người. Mấy ngày gần đây, trong sự suy tưởng lan man, vơ vẩn, anh đã cố gắng ép uổng hình ảnh của con thằn lằn với biết bao nhiêu hạng sống đang tự chìm dần, và thấy không sao có một loại người giống hẳn được con vật ấy. Nhưng bây giờ đây, anh đã thấy họ gặp nhau trong cái tặc lưỡi cuối cùng. Thì ra “miệng lằn lưỡi mối” cũng phải có lúc tỏ bày sự thực, dù đã muộn màng. Những bọn gian ác cũng phải có lúc tặc lưỡi về những hành động tàn bạo của chúng, những bọn luồn cúi, chạy theo tư lợi cũng phải có lúc tặc lưỡi về sự hèn hạ, ti tiện của mình, và lớp tuổi trẻ cam chịu cuộc đời lười biếng, sợ hãi, cũng sẽ tặc lưỡi khi thấy những bóng ngày qua, kéo theo cuộc sống mỗi lúc càng thêm tàn tạ trong sự vô nghĩa mênh mông…


Cái tặc lưỡi ấy chờn vờn mãi trong giấc ngủ của anh cũng như bàng bạc trong những cảnh đời. Anh nghĩ, có những con người sau mỗi hành động lại phải tặc lưỡi, và trọn đời họ là một tặc lưỡi rất dài. Hình ảnh một con thằn lằn vĩ đại với cái tặc lưỡi phong phú muôn ngàn âm điệu hiện đang ngự trị ở trên cõi sống có ngàn vạn triệu con người.


Suốt một buổi sáng sau đó, Hùng cố đem hết sức tàn còn lại để khoét sâu vào một cái hang hốc mà anh tìm gặp ở trên đầu nằm. Anh đã mở lấy một sợi dây thép khá lớn làm cái quai xách của chiếc cà-mèn để cạy gỡ từng chút vôi trét ngoài nền gạch. Cuộc đời của anh không có một tiếng tặc lưỡi nào lớn, anh đã sống mạnh, sống hết sức mình để bênh vực cho lẽ phải, anh đã dám làm những điều anh nghĩ, không biết sợ hãi một sức mạnh nào. Nhưng còn những ngày tàn tạ ở trong ngục tù này đây, anh không muốn biến thành cái tặc lưỡi khi đứng trên bờ lỗ huyệt mà bọn sát nhân đào xới vội vàng trên một bãi cát, hoặc trên triền đồi nào đó. Anh cố khoét sâu, giữa sự đau đớn của cái thể xác rũ liệt, một cái kẽ hở ở dưới chân tường theo một dấu cũ, nghĩ rằng có lúc nào đó, một người tù khác tiếp tục cái công việc này sẽ cậy gỡ đến hàng gạch, sẽ tháo gỡ ra rồi sắp xếp lại với một chút ít nghi trang - che lấp bằng quần áo cũ, bằng một chiếc mo đựng cơm - để dọn đường cho một hay nhiều kẻ đến sau có thể vượt ngục dễ dàng…


* * *


Đang ăn dở bữa cơm chiều, Hùng nghe có tiếng chìa khóa lổn rổn và cánh cửa bỗng vụt mở. Một giọng bên ngoài:


- Nó ăn rồi chưa?


- Đang ăn.


- Bảo ăn gấp đi, rồi cho ra ngoài. Mang hết quần áo, đồ lề đi theo.


Hùng nghe tiếng máy xe nổ. Anh chợt hiểu hết ý nghĩa của sự ra đi phen này. Anh đặt lon cơm xuống dưới nền đất, không muốn ăn thêm một miếng nào nữa. Anh đáp:


- Tôi ăn xong rồi.


- Đi ra.


Hùng toan bỏ lại gói quần áo cũ, nhưng anh lại cúi nhặt lên. Rồi lại quơ tìm lon cơm, anh đổ xuống một góc tường, nghĩ đây là miếng cơm thừa dành lại cho con thằn lằn đáng thương hại kia.


Anh bước chập choạng ra ngoài, đầu hơi choáng váng vì phải nằm vùi nhiều ngày trong một xó tối. Giữa sân, chiếc Land-Rover chực sẵn, bên trong có vài người tù xanh lướt đầu tóc rũ xuống, ngồi như những nhánh cây mềm lả ngọn vì bị vùi dập dưới trận mưa rào. Một tên công an xách chiếc còng lại. Hùng lùi một bước, quay người ném gói quần áo vào đám bạn tù rách rưới đang ngồi tập họp điểm danh, sau buổi cơm chiều.


Khi đưa hai tay để còng chặt lại, anh ngước lên nhìn lần cuối bầu trời ảm đạm của một buổi chiều cuối thu. Ngày mai, nắng sẽ trở lại, ấm áp, chan hòa, nhưng đêm tối nay ở một bờ sông nào đó, ở một vực suối nào đó, hay giữa lòng một bãi cát hoang vu, anh và các bạn của anh sẽ bị bàn tay quỉ dữ của bọn sát nhân siết họng, dúi thây xuống một lỗ huyệt đen ngòm.


Tiếng máy chiếc xe rồ lớn, một cánh tay xô chúi anh về trước. Giữa sân, tên Chi trưởng công an vẫn đứng lặng yên với hai con mắt đỏ ngầu tia máu. Anh tự nhủ thầm: “Những bọn sát nhân không hề biết đến sự thực khá hiển nhiên này: ở dưới đáy mồ, xác chết vẫn biết cựa quậy để chỗi dậy trong những lớp người sống...” Với niềm tin ấy, anh thấy chiếc xe hôm nay không dẫn mình vào một đoạn kết thúc vĩnh viễn, mà chính nó đang đi vào một cuộc bắt đầu lớn lao. Và khi chiếc xe rú ga, vượt qua đám người lố nhố đứng trước cổng quận mang những bộ mặt vô tri bên cạnh hành động tiêu diệt đồng loại trắng trợn của một chế độ khoác những danh từ cao đẹp, Hùng bỗng chợt thấy hiện lại hình ảnh của con thằn lằn, con vật hèn mọn có đầy đủ nét tượng trưng cho một thế hệ đang đi dần vào suy tàn, giữa một nhân loại sôi động mỗi ngày mỗi vượt cao hơn trong sự hoàn thiện con người.


1963


VH.


Rút từ Tuyển tập Vũ Hạnh, tập 1. Triệu Xuân tuyển chọn. Bản thảo do nhà văn Triệu Xuân biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
Nghĩa địa bên sông Chanh - Ngọc Toàn 07.06.2017
Hoa khôi xứ Mường - Ngọc Toàn 01.06.2017
Ông chéo ngà, Bà rách tai - Ngọc Toàn 01.06.2017
Kẻ vô ơn - Ngọc Toàn 01.06.2017
Đầu Phạm Nhan - Ngọc Toàn 01.06.2017
Rắn hổ mang chúa - Ngọc Toàn 01.06.2017
Hổ Thần - Ngọc Toàn 31.05.2017
Thần giữ của - Ngọc Toàn 31.05.2017
xem thêm »