tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23008779
02.06.2018
Nhiều tác giả
Tấm bia về Lê Trọng Thứ, Lê Quý Đôn


TẤM BIA NÓI VỀ LÊ TRỌNG THỨ THÂN PHỤ LÊ QUÝ ĐÔN


Năm 1999, trong một chuyến công tác tại thôn Đồng Phú, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, chúng tôi phát hiện tấm bia dựng tại nhà thờ họ Lê, nói về Lê Trọng Thứ, thân sinh ra Lê Quý Đôn. Tấm bia có tên: Hà quận công bi ký, do chắt ngoại Lê Trọng Thứ: Mi Xuyên Phạm Chi Hương giữ chức công bộ Hữu tham tri kiêm sung sử quán Toản tu soạn năm Tự Đức thứ 12 (1859). Bia một mặt, khổ 160 x 100, gồm 27 dòng, trên 1.300 chữ. Trán bia chạm rồng chầu mặt trời, xung quanh hoa lá, đốt dóng trúc đứt đoạn. Thác bản văn bia hiện đã đưa về lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, bia mới sưu tầm, chưa có ký hiệu thư viện.


Bài văn bia cho biết một số tình tiết về dòng họ Lê, về thân thế và sự nghiệp của Lê Trọng Thứ mà ở các sách vở khác hoặc chưa nói tới, hoặc có nói tới, thì cũng ít khi gặp, như: Lê Trọng Thứ, hiệu Trúc Am tiên sinh, lúc nhỏ học hành rất sáng dụ, nổi tiếng là thần đồng, lớn lên theo học cụ Thám hoa họ Vũ ở Hào Nam. Năm cụ 27 tuổi đỗ hương tiến, năm 31 tuổi đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái (1724), làm quan thanh liêm nổi tiếng trong ngoài, năm 65 tuổi về hưu với chức Hộ bộ Hữu thị lang. Ít lâu sau cụ lại được vời ra thăng đến chức thượng thư bộ Hình rồi về nghỉ.


Tổ tiên cụ người huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc, họ Lý, từ cụ tổ đời thứ 3 là Phúc Thiện công, dời đến Diên Hà, đổi ra họ Lê, được tặng Thượng thư bộ Công. Bố của cụ là Phúc Lý công bắt đầu giỏi nho, được tặng Thượng thư bộ Binh.


Cụ Lê Trọng Thứ, sinh vào giờ Thìn, ngày 13 tháng Giêng, năm Giáp Tuất (1694), mất ngày 26 tháng Giêng, năm Nhâm Dần, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 43 (1782), hưởng thọ 89 tuổi. Phu nhân họ Trương, người làng Nguyễn Xá, huyện Duy Tiên, là con gái thứ 3 cụ Trương Công Minh Lượng, tiến sĩ khoa Canh Thìn, niên hiệu Chính Hoà (1700), làm quan đến Tả thị lang bộ Công.


Cụ sinh hạ 8 người con trai và 10 người con gái: Người con trai trưởng là Văn Trung công Quý Đôn, tối hiển đạt. Các con thứ là: Đình Thái, giữ chức Câu kê Công phiên, tặng Tham chính Quảng Yên; Quý Hằng được tiến triều, giữ chức Đông các học sĩ; Trọng Quản giữ chức Hiến sát phó sứ Hải Dương; Trọng Tiến giữ chức Chỉ huy đồng tri, tước bá; Quý Tự, Quý Điêu đều là Trung uý; Quý Ngạc giữ chức Mậu lâm lang. Con gái, 1 người là cung tần, còn lại đều lấy con cháu nhà thế gia vọng tộc. Mẹ của Phạm Chi Hương, soạn giả của bia này là con gái cụ Quý Tự.


Cụ Trọng Thứ có tới trên 1.000 học trò, nhưng đỗ Tiến sĩ có Nguyễn Công Bá Quýnh. Cuối bia có bài minh 32 câu, ca ngợi họ Lê ở Diên Hà, mở đầu có câu:


Lê thị chi tiên,


Xuất tự Kinh Bắc.


Diên Hà tỉ cư,


Thế hữu lệnh đức…


Tiên sinh họ Lê,


Từ vùng Kinh Bắc,


Chuyển tới Diên Hà,


Đời có lệnh đức…


Trên đây là nội dung cơ bản của văn bia. Các con của cụ Lê Trọng Thứ, trong đó có Lê Quý Đôn, văn bia không nói gì thêm ngoài một số tình tiết đã nói trên. Về việc từ Đông Ngàn di chuyển sang Diên Hà và đổi họ Lý ra họ Lê, văn bia cũng không cho biết gì thêm.


* Ghi thêm về Lê Trọng Thứ và Lê Quý Đôn: Theo Lược truyện các tác gia Việt Nam, thì cụ Lê Phú Thứ sinh năm 1691, mất năm 1781 (?) (Như trên đã thấy, trong văn bia ghi sinh năm 1694 mất năm 1782), còn có tên Lê Trọng Thứ, hiệu Trúc Am, đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thình, niên hiệu Bảo Thái thứ 5 (1724), tước Diễn Phái hầu, thân phụ Lê Quý Đôn, tác phẩm: Trúc Âm thi tập, Trúc Âm văn tập, Lê Công khải sư hành khúc…


Về tác giả bài văn bia trên, Phạm Chi Hương, tự Sĩ Nam, hiệu My Xuyên, người làng Mỹ Thữ, huyện Đường An, nay thuộc tỉnh Hải Dương, không rõ năm sinh, mất năm 1871. Năm Minh Mệnh thứ 9 (1828), đỗ cử nhân, có tiếng hay chữ, quan từ Tri huyện đến Tổng đốc, hai lần sang sứ nhà Thanh. Tác phẩm: Tinh thiều sơ tập, nhị thập. Sứ trình thi tập. Lê Công bi minh.


Lê Công bi minh hiện chép trong Lê Công hành trạng (A43), sách gồm 7 tờ, 18 dòng, 2.500 chữ. Toàn văn chữ Hán chép chân phương, gồm 2 bài:


1. Bài văn bia: Thái truyền Dĩnh quận Lê Công bi minh của Phạm Chi Hương soạn. Đây chính là Lê Công bi minh như Lược truyện các gia Việt Nam đã nêu trên. Bài văn bia cho biết thêm: Lê Quý Đôn giữ chức Công bộ Thượng thư, tặng Thái truyền, tước Dĩnh quận công, thụy Văn Trung, huý Quý Đôn, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường tiên sinh. Lê Quý Đôn sinh giờ Hợi ngày mồng 5 tháng 7, năm Bính Ngọ, mất tại chức ngày 14 tháng 4 năm Cảnh Hưng thứ 45 (1784), thọ 59 tuổi. Vợ ông họ Lê, người làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, là con gái thứ 7 cụ tiến sĩ Thượng thư Lê Hữu Kiều, sinh hạ được 4 người con trai và 2 người con gái. Người con trai trưởng, tên Thao, mất sớm. Người con trai thứ 2 tên Tá, đỗ giải nguyên khoa Giáp Ngọ, làm quan đến Quốc sử toản tu, được phong phúc thần tại bản thôn. Người con trai thứ 3 tên Thuần, đỗ hương cống khoa Tân Mậu, làm quan triều Nguyễn đến Hiệp trấn, thăng Tham tri. Người con trai thứ 4 tên Nghie, làm Đông cung thị nội thư ký. Hai con gái đều gả cho nhà danh gia vọng tộc. Cuối bài văn bia là bài minh 32 câu ca ngợi đức nghiệp của họ Lê ở Diên Hà và Lê Quý Đôn.


2. Lê Công hành trạng, do Tiến sĩ khoa Giáp Thìn, nguyên lĩnh Sơn Tây Đốc học là Ngạc Đình Nguyễn Hữu Tạo soạn. Đây là bài văn nói về hành trạng Lê Quý Đôn khá tỉ mỉ trong bước đường làm quan cũng như đời tư của Lê Quý Đôn. Đây cũng là tài liệu khá tốt cho ai muốn nghiên cứu kỹ về hành trạng cụ Lê Quý Đôn.


Nguyễn Minh Tuân, Viện Nghiên cứu Hán Nôm


Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.534-53.


Lê Quý Đôn thân thế, sự nghiệp và cụm kiến trúc đền thờ


Lê Quý Đôn nguyên tên là Lê Danh Phương, tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường, sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ (tức ngày 2 tháng 6 năm 1726) ở làng Diên Hà trấn Sơn Nam Hạ nay là thôn Đồng Phú xã Độc Lập huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình. Thân phụ là Lê Trọng Thứ đậu Tiến sĩ làm quan đến Thượng thư Bộ Hình được phong tước hầu, thân mẫu là Trương Thị Ích con gái Tiến sĩ Trương Minh Lương làm quan Hoằng Phái Hầu.


Thuở nhỏ Lê Quý Đôn là cậu bé nhanh nhẹn hoạt bát, học giỏi, thông minh trên nhiều lĩnh vực, thường là học sinh đứng đầu lớp, nổi tiếng là thần đồng ở địa phương. Năm 1739 Lê Quý Đôn theo cha lên kinh đô học thầy là Tiến sĩ Lê Hữu Kiều. Năm 18 tuổi ông thi Hương đậu giải Nguyên sau ở nhà dạy học và viết sách. Năm 27 tuổi thi Hội đậu đầu, thi Đình đậu Bảng Nhãn.


Lê Quý Đôn từng lần lượt làm việc tại Viện Hàn Lâm ban toản tu Quốc sử, đi liêm phóng, tham gia việc binh, đi sứ Trung Quốc, phủ chúa Trịnh… được thăng dần các chức: Hàn Lâm Viện thừa chỉ, tư nghiệp Quốc Tử Giám, bồi tụng, quốc sử tổng tài, hiệp trấn… Năm 1784 được thăng Thượng thư Bộ Công, tước Nghĩa phái hầu. Khi theo cha lên kinh đô học thầy là Tiến sĩ Lê Hữu Kiều. Lê Hữu Kiều nhận thấy Lê Quý Đôn là người thông minh, tài trí, người có tâm có đức, có khả năng tư duy nghiên cứu tổng hợp trên tất cả các lĩnh vực nên ông đã đồng ý gả con gái là Lê Thị Trang cho Lê Quý Đôn. Vợ chồng Lê Quý Đôn sinh được 4 người con trai là: Lê Quý Kiệt, Lê Quý Châu, Lê Quý Tá và Lê Quý Nghị. Năm 1784 được thăng Thượng thư Bộ Công, cũng vào năm đó ông bị bệnh và về dưỡng bệnh tại quê ngoại là làng Nguyên Xá - huyện Duy Tiên (nay thuộc tỉnh Hà Nam) và mất tại đây vào ngày 14 tháng 4 năm Giáp Thìn (tức ngày 1 tháng 6 năm 1784), thọ 58 tuổi. (Hiện chưa tìm ra mộ cụ Lê Quý Đôn).


Sự nghiệp trước tác của Lê Quý Đôn thật đồ sộ, ông đã viết 40 bộ sách bao quát hầu hết các tri thức đương thời như: Lịch sử, địa lý, thơ, văn, ngôn ngữ, triết học, kinh tế, xã hội, nông học, tổng loại… và trong di sản đồ sộ đó có Vân Đài loại ngữ được nhiều nhà khoa học đánh giá như bộ Bách khoa thư Việt Nam. Nhà nước, Bộ Văn hoá (trước đây) Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch (hiện nay), Hội lịch sử Việt Nam đã phối hợp với các bộ, ngành địa phương có liên quan tổ chức nhiều cuộc hội thảo cấp Nhà nước và cấp bộ đã có hàng trăm báo cáo tham luận nói về lịch sử, thân thế và sự nghiệp của Lê Quý Đôn. Có nhiều báo cáo tham luận chuyên sâu về các lĩnh vực nghiên cứu của Lê Quý Đôn cũng như mảnh đất, quê hương và con người ông, các báo cáo và tham luận đều khẳng định các công trình nghiên cứu và các tài liệu Lê Quý Đôn đã viết là kho tàng quý giá của nền học thuật nước nhà. Lê Quý Đôn là nhà bác học lớn nhất nước ta ở thế kỉ XVIII và mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Tinh thần tự tôn dân tộc, năng lực lao động và sáng tạo phi thường, đầu óc thực tế và rất nhạy bén tiếp thu tri thức mới của thế giới, phương pháp làm việc khoa học của ông là tấm gương sáng để chúng ta học tập và noi theo. Lê Quý Đôn sinh ra và lớn lên tại xã Độc Lập huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình, một vùng quê giàu truyền thống cách mạng, là miền quê nghèo và thuần nông, ông đã có nhiều trải nghiệm về sản xuất nông nghiệp, lại có thời gian dạy học, viết sách, có thời gian làm việc tại Viện Hàn Lâm ban toản tu Quốc sử, đi thực tế, đi sứ Trung quốc, quan trong triều… nên những tìm tòi sáng tạo của ông đều xuất phát từ thực tế và những kinh nghiệm tổng kết thực tiễn trên tất cả các lĩnh vực, sách vở, văn chương của Lê Quý Đôn rất mộc mạc, giản dị, phù hợp với mọi đối tượng, tầng lớp nhân dân, các ngành khoa học, nhất là những vấn đề ông tổng kết đưa vào thực tiễn cuộc sống được mọi người và các ngành khoa học đón nhận như những cẩm nang, bảo bối trong thực hiện.


Cụm di tích đền thờ Lê Quý Đôn bao gồm từ đường thờ, lăng Lê Trọng Thứ, khu hồ Lê Quý Đôn thuộc thôn Đồng Phú xã Độc Lập huyện Hưng Hà, cách Thành phố Thái Bình khoảng 35km về phía Bắc và cách thị xã Hưng Yên khoảng 25km. Đây là một xã thuần nông chuyên canh cấy lúa, rau mầu, cây ăn quả, nhân dân có truyền thống cần cù, chịu khó. Quá trình đấu tranh cách mạng, nhân dân xã Độc Lập tích cực đóng góp sức người sức của góp phần giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Ngày nay với phong trào xây dựng nông thôn mới, bộ mặt của xã Độc Lập đã được đổi thay rõ rệt, cụm di tích đền thờ Lê Quý Đôn cũng được trùng tu, sửa chữa, nâng cấp hệ thống hạ tầng điện, đường giao thông được đầu tư cải tạo xứng tầm với di tích đã được Bộ Văn hoá xếp hạng cấp quốc gia (năm 1987).


Khu từ đường thờ: Ngay cổng vào có đề 5 chữ Hán "Lê tướng công cố trạch" nghĩa là nhà cũ của tướng công họ Lê, nhà của Tiến sĩ Lê Trọng Thứ thân sinh ra bảng nhãn Lê Quý Đôn. Từ đường bao gồm 2 toà, mỗi toà ba gian kiến trúc kiểu theo kiểu chữ nhị (=). Phía trước là hai nhà đặt bia, một bên là bia: "Hà Quốc Công bi ký" được làm vào năm Tự Đức thứ 12 (1860) do cử nhân Phạm Chi Hương, cháu ngoại của Lê Trọng Thứ soạn lời. Một bên là bia ghi tiểu sử nhà bác học Lê Quý Đôn và bài lưu bút của đồng chí Đỗ Mười, Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về thăm Từ đường ngày 16 tháng 2 năm 1996. Tấm bia này do bảo tàng tỉnh Thái Bình làm tháng 1 năm 1999. Toà bái đường của từ đường được tu sửa vào triều Nguyễn, kiến trúc bình thường như các từ đường gia tộc khác. Điều đặc biệt là nơi đây còn lưu được bức đại tự chữ Hán đề 4 chữ: "Văn hiến truyền gia" do triều đình nhà Lê ban tặng được treo tại gian chính giữa. Hai gian bên cạnh cũng có bài trí hai bức đại tự, một bức ca tụng truyền thống học hành của dòng họ qua 4 chữ "Hàn mặc lưu hương" nghĩa là bút mực để lại hương thơm. Bức đại tự kia đề 4 chữ "Vật báu hồ trinh" gốc của mọi vật đều ở trời. Tại hàng cột của gian chính giữa có treo đôi câu đối chữ Hán như sau:


"Kế thế suy khôi khoa Tiến sĩ, Bảng nhãn


Lệnh triều tế hiển quan Thượng thư, Quận công"


Ba gian điện thờ (hậu cung) của từ đường là nơi đặt khảm gian, ngai và bài vị thờ tổ họ Lê, dưỡng tổ của họ Lê và tượng của Tiến sĩ Lê Trọng Thứ và bảng nhãn Lê Quý Đôn. Nhìn chung kiến trúc từ đường thờ không cầu kỳ mà giữ nguyên nét kiến trúc nhà thờ họ vùng đồng bằng sông Hồng vào thế kỷ XVIII, tường xây gạch 3 gian, có hậu cung thờ, cột gỗ, mái lợp ngói ta. Chỉ riêng bức đại tự, đôi câu đối được lưu giữ nguyên bản. Đến với từ đường thờ Lê Quý Đôn mọi người đều nhận thấy sự bình dị của dòng họ Lê giống như bao dòng họ khác ở khu vực đồng bằng sông Hồng thời ấy và bây giờ.


Lăng Lê Trọng Thứ: Khi Lê Trọng Thứ mất, để tưởng nhớ công lao của ông, người Tiến sĩ của vùng quê làm quan đến Thượng thư Bộ Hình nhưng lại là người có đức độ, sống giản dị, được nhân dân quý trọng nên trong dòng họ và nhân dân trong vùng đã tìm nơi đất đẹp trên gò đất cao cách từ đường 150m về phía đông để chôn cất thi hài của ông. Lăng của ông được xây cất đẹp và trang nghiêm, có hệ thống tường bao và lối vào để lễ viếng, xung quanh lăng có vườn hoa cây cảnh xum xuê đẹp đẽ, đã rất nhiều lần lăng Lê Trung Thứ được nâng cấp tu bổ, thể hiện sự kính trọng và ngưỡng mộ của dòng họ và nhân dân trong vùng. Phần trên lăng đề: "Hà Quận Công Lăng" và đôi câu đối chữ Hán là:


"Hà Hải nguyên lưu quàn thuỷ tự


Quận công lăng tẩm ức niên hương"


Lăng được xây cao, có bậc lên, phần trước lăng có bát hương và phần để đồ cúng lễ rộng rãi. Đến lăng Lê Trọng Thứ mọi người đều cảm thấy không khí mát mẻ, ấm cúng, thể hiện sự bình dị của một ngôi mộ của người có công được nhân dân trong vùng thờ tự ở miền quê đồng bằng sông Hồng.


Khu hồ Lê Quý Đôn theo gia sử và truyền thuyết thì đây là khu hồ nước nằm trong gia trạch của nhà Lê Trọng Thứ và Lê Quý Đôn. Trước đây hồ rất rộng, theo truyền ngôn lại ngày xưa hồ được thông ra sông Hồng, thuyền của cha con Lê Trọng Thứ có thể từ hồ ra sông Hồng và lên kinh đô được. Giữa hồ ngày xưa có một gò đất cao nằm giữa hồ có xây một nhà thuỷ tạ, là nơi Lê Quý Đôn đọc và viết sách vào thời kỳ 1742 - 1752 và những năm dạy học. Ngày nay khu hồ đã bị thu hẹp, song cũng được nhân dân địa phương quan tâm đầu tư tôn tạo đẹp đẽ, thoáng mát, sạch sẽ, xung quanh hồ có trồng hệ thống cây xanh, bờ hồ có kè bậc lên xuống. Theo nhân dân trong họ và trong vùng truyền lại qua nhiều đời thì chính hồ nước này là nơi Lê Quý Đôn thời còn nhỏ vẫn vui chơi, câu cá, chăm sóc vườn ao trong gia đình.


Trong nhiều cuộc hội thảo cấp quốc gia và cấp bộ, nhiều báo cáo và tham luận ngoài việc nói về lịch sử thân thế sự nghiệp và công lao của Lê Quý Đôn còn đề xuất cần phải tu bổ, sửa chữa, nâng cấp cụm di tích đền thờ Lê Quý Đôn cho xứng tầm với di tịch cấp quốc gia và công lao của ông. Trong những năm qua Nhà nước, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, tỉnh Thái Bình đã tập trung đầu tư nâng cấp cụm di tích gồm: từ đường, lăng Lê Trọng Thứ, hồ Lê Quý Đôn. Trong quy hoạch phát triển văn hoá và du lịch của tỉnh Thái Bình đã có kế hoạch đầu tư cho cụm di tích Lê Quý Đôn là một trong ba cụm di tích trọng điểm là Đền Trần, Đền Tiên La của huyện Hưng Hà để trở thành điểm du lịch văn hoá tâm linh của tỉnh. Trong phong trào xây dựng nông thôn mới của huyện Hưng Hà và xã Tiến Đức, hệ thống hạ tầng cơ sở nhất là giao thông đã được nâng cấp đến tận cụm di tích tạo thuận lợi cho mọi người đến tham quan du lịch và lễ hội.


Lễ hội tại cụm di tích đền thờ Lê Quý Đôn thường được tổ chức vào những ngày đầu năm âm lịch, ngày sinh của Lê Quý Đôn (ngày 2 tháng 6 âm lịch) và ngày rằm tháng 7 hàng năm. Trong lễ hội ngoài việc ôn lại truyền thống lịch sử và công lao của Lê Quý Đôn, địa phương còn tổ chức nhiều hoạt động văn hoá truyền thống của địa phương phát động phong trào phát triển văn hoá giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài theo tấm gương của Lê Quý Đôn. Hy vọng cụm di tích đền thờ Lê Quý Đôn sẽ là một trong những trọng điểm tham quan du lịch về văn hoá và tâm linh của tỉnh Thái Bình.


Nguyễn Hồng Chương


btgcp.gov.vn


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thi cử và giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc (P1&2) - Trần Bích San 23.06.2018
Nguyễn Phúc Tần - Chúa Hiền - Hiền Vương - Tư liệu 21.06.2018
Chế Lan Viên với ba bài thơ phê phán sâu sắc - Phạm Ngọc Thái 20.06.2018
Trung Quốc đang thôn tính châu Âu ra sao? (P1) - Nhiều tác giả 20.06.2018
Bất đồng chính kiến, sự thật, và sự tan rã của Liên Xô - Gal Beckerman 19.06.2018
Chính quyền Bolshevik và bộ máy chính quyền cũ - Anne O’Donnell 19.06.2018
Tết Đoan Ngọ - ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch - Tư liệu 17.06.2018
Dự thảo Luật Đặc Khu kinh tế - Tư liệu 14.06.2018
Người Trung Quốc gom sạch đất ngay sân bay quân sự Nước Mặn - Đà Nẵng - Tư liệu 14.06.2018
Về tác phẩm Trại súc vật - George Orwell 13.06.2018
xem thêm »