tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23008778
02.06.2018
Vương Trọng
Truyện Kiều – Nguyễn Du: Ở trong còn lắm điều hay (5)


 XIN ĐỪNG GIẢNG GIẢI, HIỆU ĐÍNH TRUYỆN KIỀU  NHƯ THẾ                         


           Những năm gần đây, tác phẩm của Nguyễn Du, đặc biệt là Truyện Kiều được xuất bản khá rầm rộ. Ngoài việc tái bản các công trình của các học giả thời trước, nhiều soạn giả mới cũng xuất hiện và cho xuất bản Truyện Kiều của mình. Nếu như cách đây dăm chục năm, tìm được một quyển Kiều để đọc là một việc khó khăn, thì giờ đây, vào hiệu sách nào ta cũng gặp, tha hồ chọn lựa. Trước hết, đó là điều may mắn cho bạn đọc về mặt số lượng. Còn chất lượng thì sao? Công trình của một số soạn giả mới xuất hiện những năm gần đây chất lượng còn thật hạn chế, dễ làm bạn đọc hiểu sai lệch về nhiều câu, nhiều ý trong Truyện kiều. Tác phẩm "So sánh dị bản Truyện Kiều" của soạn giả Lê Quế, do nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản năm 2006 là một quyển sách như thế.


  Quyển sách này dày trên 550 trang, thì trên 320 trang đầu tác giả dành cho việc điểm lại tình hình văn bản, nguồn gốc văn bản và nói phương pháp hiệu đính của mình. Non một nửa số trang của sách là in lại Truyện Kiều với "văn bản là kết quả chọn dị bản theo tiêu chí logic" của phần trên, với chú thích hầu hết là lấy của những người đã biên soạn từ trước,còn những chỗ mới và khác nói chung là không ổn.


  Ở phần "Phương pháp hiệu đính", soạn giả đã nêu ra bảy tiêu chí để "Kết quả hiệu đính phải đạt được một văn bản cân đối hài hoà về mọi phương diện, không còn tồn tại bất cứ một nghi vấn nào" ( trang 78). Nếu ông Lê Quế làm được như vậy thì từ nay về sau về mặt văn bản của Truyện Kiều coi như đã hoàn toàn được giải quyết, các nhà nghiên cứu về vấn đề này đã hết việc làm, và mỗi lần xuất bản Truyện Kiều thì tất nhiên phải lấy bản của ông Lê Quế chứ không thể lấy một văn bản nào khác vì ngoài bản của ông ra, không có bất cứ bản nào đạt được mục đích lý tưởng trên. Bây giờ ta xem ông hiểu Truyện Kiều và đã hiệu đính như thế nào?


     Một điều dễ thấy khi đọc quyển sách này là người biện soạn đặc biệt có thiện cảm với bản Kinh, ít coi trọng bản Phường, nên khi có sự khác nhau giữa hai bản cần phải lựa chọn thì nói chung ông chọn câu bản Kinh đã dùng, hiếm hoi lắm mới chọn bản Phường (tỷ lệ 195/36), và văn bản Truyện Kiều của ông dài đến 3256 câu chứ không phải 3254 câu như chúng ta từng quen biết.


  Công bằng mà nói, không phải sự hiệu đính nào của ông cũng vô lý cả vì ông đâu có ý định làm ngược những điều người trước đã làm, nhưng đọc nhiều đoạn phân tích của ông về một câu, một ý nào đó, những người có trình độ nhất định về Truyện Kiều không khỏi ngạc nhiên về sự nhận thức của soạn giả. Sau đây là một số ví dụ.


    Trong tiểu mục "Khách viễn phương làm gì?, soạn giả Lê Quế đã dành ra hơn ba trang để tìm hiểu nội dung hai câu thơ:


"Sắm sanh nếp tử xe châu


Vùi nông (bụi hồng) một nấm mặc dầu cỏ hoa"


 để đi đến kết luận người khách viễn phương ấy không hề chôn cất Đạm Tiên mà chỉ đốt vàng mã bên mồ nàng mà thôi. Vì ông viết quá dài, tôi không thể trích nguyên văn mà chỉ tóm tắt lại lập luận của ông như sau:


     1 - Người khách ấy đến sau khi Đạm Tiên đã chết lâu rồi, ông tính toán để cho rêu lên xanh, nếu là " vào tiết mưa ẩm thì có nhanh cũng phải gần một tháng. Còn vào mùa khô hanh thì ba tháng chưa chắc đã có rêu lên. Với thời gian đó một cái xác không được chôn sẽ bốc mùi và thối rữa từ lâu...chẳng biết những người sống gần đó vẫn ở đó để ngửi xác thối hay chuyển đi. Thật vô lý...Đoạn văn không hề có chút bằng chứng nào nói đến việc người khách viễn phương chôn Đạm Tiên".


    2  - Không ai dùng gố thị để đóng quan tài nên nếp tử không thể là cái quan tài gỗ thị như xưa nay mọi người vẫn hiểu.


    3 - Không ai dùng xe châu để làm đám tang mà xe gắn hạt châu chỉ dùng cho đám cưới...


   Với những lập luận của ông, tôi có đôi lời trao đổi như sau:


  1- Chúng ta đều biết rằng, về nội dung, Nguyễn Du khá tôn trọng cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân trong Kim Vân Kiều truyện khi sáng tác Truyện Kiều. Trong Kim Vân Kiều truyện, Vương Quan giải thích cho Thuý Kiều như sau:" Đấy là mộ Lưu Đạm Tiên, danh kỹ đệ nhất đất Bắc Kinh này. Lúc nàng sống có một hồi đã vang động tiếng tăm. Sau khi chết, mụ dầu (chủ chứa) bất nhân định vứt bỏ xác nàng ra khe suối, may gặp người khách ở xa tới thăm, thấy nàng đã chết thì nức nở khóc than...Thế rồi người khách sắm xiêm áo quan quách khâm liệm chôn nàng ở đây.Là nấm mồ cô đơn vô chủ thì còn ai lui tới viếng thăm?"


   Tất nhiên Nguyễn Du không phải khi nào cũng giữ nguyên các chi tiết của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng trong trường hợp này, không có lý do gì lại biến một người chôn cất Đạm Tiên thành người tới viếng và đốt vàng mã.


  Còn việc ông quan sát "rêu lờ mờ xanh" để phỏng đoán thời gian Đạm Tiên đã chết trước khi người khách phương xa đến là từ một đến ba tháng xem ra khá máy móc và thiếu chính xác. Thế ông có biết Đạm Tiên ốm trong bao lâu không, và khi Đạm Tiên ốm thì chắc không "Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh chứ"? Đáng ra tôi không nên đặt câu hỏi này, nhưng vì ông là người tỷ mẩn, nên tôi cũng tỷ mẩn khi trao đổi với ông. Ca kỹ như Đạm Tiên, người ta chỉ ghé thăm khi xinh đep, còn khi ốm đau bệnh tật là không ai đoái hoài, dấu xe ngựa tha hồ lên rêu xanh, chứ không chỉ đợi đến khi nàng chết đâu. Bởi vậy không thể dùng hiện tượng rêu lên xanh để tính thời gian Đạm Tiên đã chết trước khi người khách phương xa đến, và ông cũng khỏi lo chuyện hàng xóm Đạm Tiên phải chuyển nhà đi nơi khác vì mùi hôi thối của xác chết.


   2 - Ông bảo xưa nay không ai dùng gỗ thị để đóng quan tài, điều đó có thể đúng với vùng quê ông sinh sống, nhưng Truyện Kiều là kể chuyện thời "Gia Tĩnh triều Minh" bên Trung Hoa, cách đây hơn 500 năm chứ đâu phải chuyện ở Việt Nam hôm nay. Ai dám bảo đảm thời đó không ai dùng hòm gỗ thị và trong văn học cổ Trung quốc không bao giờ nói đến chiếc quan tài gỗ thị? Mà ngay nước ta, như cở các huyện Đô Lương, Nghi Lộc, Diễn Châu…có những cây thị đường kính trên một mét, dư sức xẻ làm ván quan tài không cần phải ghép.


  3- Ông bảo rằng không ai dùng xe châu trong đám ma mà chỉ dùng trong đám cưới, xem ra có vẻ đúng trong thực tế nhưng không đúng trong ngôn ngữ văn học, nhất là trong Truyện Kiều. Trong Truyện Kiều cũng như trong nhiều tác phẩm cổ điển, để làm đẹp câu văn, nhiều khi người ta thêm mỹ từ vào các danh từ như Cửa sài vừa mở then hoa, hay Cất mình qua ngọn tường hoa...thì người đọc không mấy ai hiểu một cách thô thiển rằng cái then cài cửa sài ở ngôi nhà Kim Trọng ở trọ có chạm hoa và bức tường nhà Hoạn Thư mà Thuý Kiều nửa đêm leo qua có các hình hoa! Bởi vậy, xe châu trong câu thơ ta đang bàn cũng không nên nghĩ rằng đó là chiếc xe có đính các hạt châu như một số người đã chú thích, mà coi châu chỉ là một mỹ từ, xe châu cũng giống như mây quỳnh...mà thôi.


  Đó là tôi lần theo điều ông lập luận mà trao đổi lại, tuy nhiên, ý câu thơ này chúng ta có thể hiểu được, không cần tỷ mẩn như thế, mà theo văn cảnh của đoạn này trong truyện Kiều của Nguyễn Du. Vương Quan giải thích cho Thuý Kiều rằng tại sao nấm mồ Đạm Tiên lại nhỏ và không ai viếng thăm. Nếu hiểu như ông Lê Quế thì Vương Quan chẳng giải đáp được gì cho Thuý Kiều cả, đáng ra phải giải thích không ai đến thăm mộ Đạm Tiên thì lại kể chuyện người khách viến phương tới đốt vàng mã, khóc than bên mộ thì thậm vô lý!


  Kết thúc phần này, ông Lê Quế viết:" Trong câu 78, hai chữ bụi hồng đã bị một số bản đổi thành vùi nông cho hợp với việc chôn. Nhưng sự thực không có việc chôn nên cũng không có chuyện vùi nữa..." Sự thật, phần lớn các bản Kiều xuất bản xưa nay in là Vùi nông, chỉ có một số ít in là bụi hồng. Ngược với ông Lê Quế, tôi đứng về phía vùi nông, vì:


  - Câu trước là Sắm sanh nếp tử, xe châu. Trong ngôn ngữ tiếng Việt, phần tiếp theo của câu có vị ngữ là sắm, hoặc sắm sanh, phải là một việc làm khác. Ví như sắm quần áo để cưới vợ, sắm xe để để đi du lịch..., nghĩa là phần tiếp theo phải có một động từ. Vùi nông là một động từ như thế.


 - Vùi nông góp phần giải thích được tại sao nấm mộ lại "sè sè nấm đất" chứ không to như các mộ khác.


   Cũng trong đoạn này, câu 68, từ xưa đến nay các văn bản đều ghi "Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi", nhưng ông Lê Quế phân tích rằng "Nói cũng nức tiếng nàng tạo nên sự gượng ép. Đạm Tiên nức tiếng thật chứ không phải gượng ép". Rồi ông sưu tầm từ truyền miệng của ông Phúc ở Hà Tĩnh mà hiệu đính thành "Xa nghe nức tiếng đánh đường tìm chơi" và kết luận:" Giọng văn khoan thai đúng giọng văn Nguyễn Du"!


    Ta đọc lại hai câu:


Có người khách ở viễn phương


Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.


thì thấy rằng, ông Lê Quế đã hiểu sai lệch chữ cũng ở đây vì tách khỏi văn cảnh. Ý của Nguyễn Du khi dùng mấy chữ "xa nghe cũng nức tiếng nàng" không hề có ý gượng ép về sự nức tiếng mà bao hàm ý rằng" Đạm Tiên không những ở gần mới nghe nức tiếng, mà xa cũng nghe nức tiếng", thế là ca ngợi sự nức tiếng của nàng chứ không hề có sự chiếu cố, gượng ép nào như soạn giả đã ngộ nhận. Còn câu ông sưu tầm được từ một ông Phúc nào đó vốn dựa vào từ một câu hát phường vải rất quen thuộc ở Nghệ Tĩnh. Mở đầu hát phường vải, các cô gái ngồi trong nhà thường hát hỏi các chàng trai mới xuất hiện lần đầu lý do làm sao lại biết nơi này mà đến. Thế là chàng trai trả lời:


Anh là khách ở viễn phương


Nhờ người quen thuộc, đánh đường tìm chơi.


Thế là từ sự nhầm lẫn của một người dân, dẫn đến sự sai lầm của người hiệu đính Truyện Kiều, làm sai hẳn nguyên bản.


  Với hai câu tả cảnh gia biến của Thuý Kiều, Nguyễn Du viết:


                             Hạ từ van lạy suốt ngày


                       Điếc tai lân tuất phụ tay tồi tàn


Ông Lê Quế nhận định rằng:" Câu thơ không có dị bản về âm nhưng cách hiểu chữ lân tuất thì cần phải bàn. Xưa nay lân tuất vẫn được hiểu là thương xót và điếc tai lân tuất được giảng là lời kêu oan thương xót làm điếc tai người ta hoặc bọn sai nha điếc tai trước tiếng kêu thương xót". Ông Lê Quế cho rằng hiểu như vậy là không đúng vì "thiếu chủ ngữ và thừa vĩ ngữ, do đó câu không hoàn chỉnh...". Ông phân tích: " Đây có thể là một dị bản đồng âm mà lân là gần, là bên cạnh chứ không phải là thương, mà tuấtcon chó chứ không phải là xót". Rồi ông kết luận: "Câu văn được hiểu là:chó quanh xóm sủa điếc tai, tay tồi tàn đánh đập phũ phàng"!


  Khi đọc cách giải thích này, tôi hơi ngao ngán cho soạn giả Truyện Kiều vì ông ít hiểu biết về đặc trưng ngôn ngữ Truyện Kiều và nghệ thuật sử dụng tiểu đối của Nguyễn Du. Đọc thơ mà khi nào ông cũng đòi hỏi chủ ngữ, vĩ ngữ rõ ràng như những câu đơn giản trích ra để dạy ngữ pháp cho học sinh tiểu học là điều thật khó hiểu. Hiện tượng chủ ngữ ẩn trong thơ đâu phải hiếm hoi. Trong câu thơ trên, chủ ngữ là bọn sai nha, chúng không nghe tiếng kêu thương xót và đánh đập người ta tàn nhẫn. Ở đây, Nguyễn Du dùng phép tiểu đồi : Điếc tai lân tuất / phũ tay tồi tàn. Bên cạnh điếc tai đối với phũ tay, lân tuấttồi tàn là hai tính từ đối nhau rất chỉnh, nếu đổi lân tuất thành chó hàng xóm thì nên đổi tồi tàn thành gì đây? Mặt khác trong văn học xưa nay cũng như trong lời nói nghiêm chỉnh hàng ngày, tôi chưa từng nghe ai gọi con chó là con tuất cả, nếu có thì chỉ là lời khôi hài của các bợm nhậu ở quán thịt cầy! Một điều nữa cũng cần lưu ý là trong các bản Nôm, Nguyễn Du dùng chữ lân với nghĩa thương xót chứ không dùng chữ lân với nghĩa lân cận, không biết trước khi đi đến kết luận khá lạ tai trên kia, ông Lê Quế có tra lại hai chữ lân này không?


  Trong công trình này, ngoài việc lập luận để chọn một trong các dị bản, có 15 trường hợp, soạn giả gọi là khôi phục, nghĩa là tự ông lý sự rồi đưa ra một khả năng mới mà ông tin là Nguyễn Du đã viết như thế. Sự thật thì sao?Trong 15 trường hợp này, có nhiều chỗ từ khả năng hạn chế của người soạn sách, câu thơ của Đại thi hào đã được hạ cấp. Ví như câu Nguyễn Du tả một năm trôi qua bằng cặp lục thần tài:


Sen tàn cúc lại nở hoa


Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân


mọi văn bản xưa nay đều như thế, nhưng ông Lê Quế sau một hồi lý luận, đổi thành:


Sen tàn cúc lại nở hoa


Đêm dài ngày ngắn dông đà sang xuân


vừa thừa lời tả cảnh tự nhiên ( ngày dài thì tất nhiên đêm phải ngắn rồi vì tổng cộng là 24 tiếng đồng hồ mà!), vừa thiếu tâm trạng con người trong hoàn cảnh, cái mà văn học hết sức quan tâm.


    Đọc " So sánh dị bản Truyện Kiều" của Lê Quế, bạn đọc dễ thấy rằng soạn giả là người lý sự dài dòng và nhiều khi đi đến kết luận trái tai người đọc, thay đổi hoặc phá vỡ nhiều câu tinh tuý, như:


Sống làm vợ khắp người ta


Hại thay thác xuống làm ma không chồng


là một trong những câu hay nhất trong Truyện Kiều, thì biến thành:


Sống thời tình chẳng riêng ai


Khéo thay thác xuống ra người tình không


Và:


Dẫu rằng đá cũng nát gan lọ người


Đổi thành:


Dẫu người đá cũng nát gan lọ người.


Hoặc: Đào vừa phai thắm, sen vừa nẩy xanh


Đổi thành:   Sen đà phai thắm, cúc vừa nẩy xanh...


 


     Hiện nay Truyện Kiều đã được xuất bản rất nhiều lần, với dị bản không ít câu chữ . Nguyên nhân của các dị bản, ngoài việc do "tam sao thất bản", phải sửa  do kỵ huý, do sự "biên tập" của những nhà làm sách...theo tôi, còn có một nguyên nhân nữa mà các nhà nghiên cứu ít nói đến: đó là bản thân Nguyễn Du cũng để lại các dị bản! Một tác phẩm dài hơi như Truyện Kiều, không thể viết một lúc mà xong, và việc tự sửa chữa để nâng cao chất lượng tác phẩm của chính tác giả là điều tất nhiên. Phần lớn các bài thơ ngắn của các nhà thơ hiện nay còn có dị bản, là sản phẩm của chính nhà thơ đó trong khoảng thời gian khác nhau, vậy nên theo tôi, phần lớn dị bản Truyện Kiều là sản phẩm của chính Nguyễn Du qua từng lần sửa chữa khác nhau của tác giả. Vậy nên công việc chính của các nhà hiệu đính là căn cứ vào các văn bản đã có, cân nhắc các dị bản để chọn lấy một văn bản hợp lý, hay và đúng phong cách của Nguyễn Du.


     Hiệu đính Truyện Kiều là một việc làm rất khó, ngoài sự logic, khoa học còn đòi hỏi trình độ thẩm văn của các soạn giả, có như vậy thì bạn đọc mới được nhờ trong việc nghe phân tích, giảng giải cũng như để chọn được một văn bản gần với nguyên bản của đại thi hào. Tiếc rằng công việc đó nhiều bản Truyện Kiều xuất bản gần đây chưa làm được, mà công trình của ông Lê Quế là một ví dụ.


 


                                                                                     Tháng 5- 2008                                     


            PHẢI CHĂNG NGUYỄN HÀNH NÓI THẾ?


                    ( Trao đổi với hai soạn giả


                                    Nguyễn Khắc Bảo và Nguyễn Trí Sơn)


 


            Đã mươi năm nay tôi biết tiếng ông Nguyễn Khắc Bảo ở thị xã Bắc Ninh là người mê Truyện Kiều, sưu tầm được nhiều bản Kiều cổ và thi thoảng trên báo chí  được đọc một số bài viết của ông về Truyện Kiều có giá trị, nhất là bài trao đổi với ông Bùi Thiết. Bởi thế khi có được quyển Truyện Kiều, bản cổ nhất, khắc in năm 1866 do nhà xuất bản Nghệ An ấn hành, mà ông và Nguyễn Trí Sơn là soạn giả, tôi hăm hở đọc từ lời nói đầu đến phần phụ lục. Lời nói đầu ngắn gọn, có ý tôi rất đồng tình như việc ông nhận định Truyện Kiều được Nguyễn Du viết trước khi ra làm quan dưới triều Gia Long. Tuy nhiên cũng ngay trong lời nói đầu ấy, có một số ý làm tôi phân vân và muốn được trao đổi lại với hai soạn giả. Sau khi nhắc lại  chuyện Nguyễn Du không chịu uống thuốc khi bị bệnh, khi người nhà nói chân tay lạnh rồi, cụ nói Được! rồi thanh thản ra đi, hai soạn giả viết:" Việc ra đi ấy lại như trút được nỗi lo sợ vẫn ám ảnh bao lâu cho mình và cả dòng họ.  Do vậy ta có thể hiểu vì sao người cháu gọi Thi hào bằng chú ruột là nhà thơ Nguyễn Hành (1771- 1824) lại có bài thơ viếng chú nhan đề Văn thúc phụ Lễ Tham tri phó âm cảm tác, trong đó có câu thơ hàm ẩn như sau:


Ngô môn hậu phúc công xảo hoàn


Dịch lệ hà năng tốc công tử


Tạm dịch: Nhờ họ nhà ta có phúc dày, nên ông mới được ra đi trọn vẹn thanh danh như vậy. Đâu có phải vì dịch bệnh mà ông chết nhanh như thế".


   Việc hai soạn giả cho rằng Nguyễn Du chết là "như trút được nỗi lo sợ vẫn ám ảnh bao lâu cho mình và cho cả dòng họ" là chưa có căn cứ, có dịp tôi sẽ trao đổi lại, nhưng trong bài viết này, tôi chỉ bàn bạc với hai ông về ý của hai câu thơ trên kia của Nguyễn Hành. Với bạn đọc bình thường, ngay cả những người biết ít nhiều  chữ Hán mà chỉ đọc hai câu thơ trên kia qua phần trích của hai soạn giả thì cũng khó biết được dịch như vậy có chính xác hay không. Nhưng đối với những người từng nghiền ngẫm bài thơ thất ngôn bát cú đó của Nguyễn Hành, từng biết hoàn cảnh ra đời của bài thơ, và biết rõ vị trí trong bài của hai câu trích trên kia …thì tạm dịch như hai ông làm người ta nghi ngờ, hình như Nguyễn Hành không có ý như thế. Ta biết rằng Nguyễn Du mất ở Huế năm 1820, khi đó Nguyễn Hành đang làm quan ở Thăng Long và đã khóc chú bằng bài thơ này. Văn thúc phụ Lễ Tham tri phó âm cảm tác nghĩa là Nghe tin chú là Tham tri bộ Lễ qua đời mà cảm tác, khi không muốn nhắc lại đầu đề khá dài này, người ta thường gọi đây là bài thơ khóc chú của Nguyễn Hành. Để hiểu ý của hai câu thơ được trích trên kia, ta nên đọc lại phiên âm chữ Hán của cả bài:


Thập cửu niên tiền Tố Như tử


Nhất thế tài hoa kim dĩ hỉ


Ngô môn hậu phúc công xảo hoàn


Dịch lệ hà năng tốc công tử


Tam thu luân lạc thử thành trung


Nam vọng phù vân mỗi ức công


Quy khứ gia sơn văn dạ lạp


Tinh linh hoảng dữ năng thời đồng.


            Như trên đã nói, đây là bài thơ mang nội dung khóc chú, có hai phần, phần một ca ngợi tiếng tăm cùng công lao của chú, phần hai nói cảm tưởng của mình khi nghe tin chú mất. Hai câu đầu nghĩa là: "Mười chín năm trước đây, chú Tố Như nổi tiếng tài hoa nhất đời". Trong một bài nghiên cứu trước đây, từ hai câu thơ này, tôi đã lập luận rồi đi đến dự đoán Truyện Kiều được ra mắt bạ đọc, đưa Nguyễn Du trở nên người tài hoa nhất đời vào năm 1801. Nhưng đó là chuyện khác, không phải nội dung bài trao đổi này. Câu thứ ba nên dịch là:" Phúc dày nhà ta chú đã khéo giữ được trọn vẹn". Trong câu này không hề có chữ nào mang nghĩa ra đi tức là chết như hai ông đã dịch.  Chữ phúc dày nhà ta Nguyễn Hành dùng ở đây nên hiểu như thế nào? Họ Nguyễn Tiên Điền nói chung và anh em con cháu Nguyễn Nghiễm nói riêng có những điểm mạnh mà họ khác khó có được. Đó là nhiều người đỗ cao và làm quan to, đồng thời có nhiều người tài thơ. Nói về đỗ đạt và làm quan to thì Nguyễn Du, một người chỉ đỗ tam trường, chỉ làm đến Tri phủ hoặc Tham tri bộ Lễ… chẳng có gì đáng tự hào so với các tiến sĩ Nguyễn Huệ ( bác ruột), Nguyễn Nghiễm ( bố), Nguyễn Khản ( anh ruột), trong đó có người đã giữ chức Tể tướng. Cái mà Nguyễn Hành ca ngợi Nguyễn Du là tài thơ, Nguyễn Hành cũng là một nhà thơ nổi tiếng, cùng với Nguyễn Du là hai người trong An Nam ngũ tuyệt, nghĩa là hai trong năm nhà thơ nổi tiếng nhất cả nước lúc bấy giờ. Vậy nên câu thứ ba của bài thơ là liền với ý của câu thứ hai, tức là nói tiếp cái ý chú là người tài hoa, cụ thể là tài thơ nhất đời.Còn câu thứ tư, Dịch lệ hà năng tốc công tử là lời thốt lên như một tiếng kêu trời của ngươì cháu: "Bệnh dịch sao có thể làm chú chết mau đến thế?" Thế là câu thơ thể hiện sự sửng sốt của Nguyễn Hành khi nghe tin chú mất, hai soạn giả đã biến nó thành một ý khác hẳn, thậm chí ngược hẳn, và coi đấy " chính là suy nghĩ thầm kín, sâu sắc nhưng chân thực của người cháu rất hiểu chú và hiểu việc đời". Không hiểu hai soạn giả vì xuất phát từ việc dịch sai hai câu thơ này rồi đi đến kết luận Nguyễn Du muốn chết để trút nỗi lo sợ…, hay vì có kết luận như trên rồi cố lái cái ý của Nguyễn Hành cho hợp với lập luận của mình? Chỉ biết có điều chắc chắn là trong bài thơ này, Nguyễn Hành không đề cập đến chuyện Nguyễn Du muốn chết mà chỉ nói nỗi thương tiếc của mình, đánh giá cao công lao người chú.


    Việc hai soạn giả cho ra mắt Truyện Kiều này, có sự so sánh công phu với mười bản Kiều khác là điều đáng ghi nhận, chỉ tiếc trong Lời nói đầu có những kết luận chưa thoả đáng, thậm chí dịch sai thơ của Nguyễn Hành để phục vụ cho lập luận của mình là điều cần xem lại.


    Đó là điều muốn trao đổi với hai soạn giả, còn với bạn đọc rộng rãi, nhân đây tôi mạo muội dịch bài thơ này để bạn đọc rõ thêm tình cảm của Nguyễn Hành đối với chú là Đại thi hào Nguyễn Du. 


 


            Nghe tin chú  là Tham tri bộ lễ qua đời, cảm tác


           Mười chín năm trước, chú tôi


Tố Như nổi tiếng nhất đời tài hoa


Khéo vun dày dặn phúc nhà


Hỡi ôi dịch bệnh sao đà thác nhanh?


 


Ba năm lưu lạc Long thành


Chú xa, cháu vọng mây bềnh phương nam


Về quê nghe tiếng phương săn


Giật mình tưởng chú những năm non Hồng.


 


                                                 Xuân 2006                                           


 


THÚY KIỀU NHỚ AI?  


  Trong tạp chí THƠ của Hội Nhà văn tháng 7 năm 2013, có đăng bài viết “ Phải chăng cụ Đào Duy Anh có sự nhầm lẫn” của nhà thơ Mai Văn Hoan. Tác giả bài viết đặt vấn đề : “ Phải chăng vì sự “thiếu minh xác” trong ngôn ngữ Truyện Kiều mà cụ Đào Duy Anh đã có sự hiểu nhầm khi phân tích đoạn Nguyễn Du diễn tả tâm trạng nàng Kiều  trong thời gian chờ đợi Thúc sinh”? Để chứng minh cụ Đào Duy Anh đã nhầm, Mai Văn Hoan phân tích đoạn thơ:


                    Nàng từ chiếc bóng song the


Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu


Bóng dâu đã xế ngang đầu


Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi


Tóc thề đã châm ngang vai


Nào lời non nước, nào lời sắt son


Sắn bìm chút phận con con


Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?(*)


Theo cụ Đào Duy Anh thì: “Sau khi Thúc Sinh về thăm quê, Thúy


Kiều ở lại Lâm Tri một mình nàng cũng nhớ cha mẹ trước rồi mới nhớ đến


tình nhân, vì bây giờ mối tình của nàng đối với Kim Trọng không có vẻ đau


đớn như trước lúc mới ra đi nữa. Nhưng tình với Kim Trọng cũng khác hẳn


tình đối với Thúc Sinh. Cho nên khi nhớ về Kim Trọng thì nghĩ lại lời thề


ước mà khi nhớ về Thúc Sinh thì chỉ lo không biết cái duyên lẽ mọn của


mình đối với chàng có được toàn vẹn hay không?” (Khảo luận về Kim Vân Kiều).Nhà thơ Mai Văn Hoan cho rằng cụ Đào Duy Anh đã nhầm vì ở đây Thúy Kiều không nhớ cha me, không nhớ Kim Trong…


     Để dễ tiếp nhận đoạn thơ này, ta hãy trở lại xem nàng Kiều quan niệm như thế nào về chữ Hiếu và chữ Tình. Khi gặp cảnh gia biến, nàng đã cân nhắc: “ Duyện hội ngộ, đức cù lao / Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn”? Và đã đi đến quyết định: “ Để lời thệ hải minh sơn/ Làm con trước phải đền ơn sinh thành”. Nghĩa là nàng đặt chữ Hiếu lên trên chữ tình, một quyết định không hề dễ dàng. Đó không chỉ là ý nghĩ khi quyết định bán mình chuộc cha, mà là tình cảm của nàng trong suốt mười lăm năm lưu lạc, hiếu và tình luôn giằng xé trong trái tim nàng.


  Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã  năm lần diễn tả nỗi cô đơn, buồn nhớ của Thúy Kiều tại năm thời điểm khác nhau trong mười lăm năm lưu lạc, mà đoạn thơ(*)  Mai Văn Hoan xem xét ý nghĩa chỉ là một trong năm đoạn đó.


Lần đầu tiên trên đường theo Mã Giám Sinh từ Bắc Kinh về Lâm Tri nàng đã nhớ:


Dặm khuya ngất tạnh, mù khơi


Thấy trăng mà thẹn những lời non sông


Rừng thu từng biếc xen hồng


Nghe chim như nhắc tấm lòng thân hôn


Thì nỗi nhớ nàng chia ra làm hai, một nửa nhớ chàng Kim, một nửa nhớ cha mẹ.


Lần thứ hai là trước lầu Ngưng Bích:


Tưởng người dưới nguyệt chén đồng


Tin sương luống những rày trông mai chờ


Bên trời góc bể trơ vơ


Tấm son gột rửa bao giờ cho phai


Xót người tựa cửa hôm mai


Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ


Sân Lai cách mấy nắng mưa


Có khi gôc tử đã vừa người ôm


Tình cảm chia đều bên tình bên hiếu, bốn câu nói nỗi nhớ chàng Kim, bốn câu sau nhớ về cha mẹ.


Lần thứ ba, trong lầu xanh Lâm Tri:


 Nhớ ơn chín chữ cao sâu


Mỗi ngày một ngả bóng dâu tà tà


Dặm ngàn nước thẳm non xa


Nghĩ đâu thân phận con ra thế này


Sân hòe đôi chút thơ ngây


Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình


Nhớ lời thề nguyện ba sinh


Xa xôi ai có thấu tình chăng ai


Khi về hỏi liễu Chương Đài


Càng xuân đã bẻ cho người chuyên tay


Tình sâu mong trả nghĩa dày


Hoa kia đã chắp cành này cho chưa…


Thì sáu câu nói nỗi nhớ cha mẹ, sáu câu nói nỗi nhớ chàng Kim. Khi mối tình mới chỉ có với chàng Kim, thì nỗi nhớ của nàng thường chia ra hai nửa, một nửa dành cho cha mẹ, một nửa dành cho chàng Kim. Do hoàn cảnh đưa đẩy phải chia ly với người tình cũ, đến với người tình mới, khi cô đơn buồn nhớ, nhớ người tình mới đã đành nhưng nàng không hề quên người tình cũ và không nguôi nỗi nhớ mẹ cha.


Theo thứ tự thời gian, đoạn buồn nhớ của Thúy Kiều(*) là lần thứ 4 được tác giả mô tả. Còn lần thứ 5, là nỗi nhớ của nàng khi ở nhà chờ Từ Hải đi đánh trận:


Đoái trông muôn dặm tử phần


Hồn quê theo ngọn mây tần xa xa


Xót thay huyện cỗi, xuân già


Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi


Chốc đà mười mấy năm trời


Còn ra khi đã da mồi tóc sương


Tiếc thay chút nghĩa cũ càng


Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng


Duyên em dầu nối chỉ hồng


May ra khi đã tay bồn tay mang


Tấc lòng cố quốc tha hương


Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời


Cánh hồng bay bổng tuyệt vời


Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm”


Thì 6 câu đầu nói về nỗi nhớ cha mẹ, những câu tiếp nói nỗi nhớ Thúc Sinh, Kim Trọng, Từ Hải và nhớ quê. Như vậy, trong bốn lần mô tả sự cô đơn thương nhớ của Thúy Kiều, dù đoạn thơ dài ngắn khác nhau ( 4 đến 12 câu), dù khi nàng chỉ mới có một mối tình với Kim Trọng hay đã qua Thúc Sinh, đến với Từ Hải…không bao giờ tác giả quên nói nỗi lòng nhớ cha mẹ của nàng. Chứng tỏ với Thúy Kiều, nỗi nhớ cha mẹ thường trực trên bước đường lưu lạc.


   Trở lại đoạn thơ (*) chúng ta đang khảo sát, đó là nỗi nhớ của Thúy Kiều ở Lâm Tri khi xa Thúc sinh mà chính nhà thơ Mai Văn Hoan đã trích dẫn.


         Nguyễn Du nhất quán trong việc tả tâm trạng và nỗi nhớ của Thúy Kiều trong bước đường lưu lạc, không bao giờ tách Tình ra khỏi Hiếu, dù thứ tự có thể khác nhau, nhưng bao giờ cũng tồn tại với nhau. Với nhận thức như vậy, dù chưa phân tích đoạn thơ này, từ bốn đoạn thơ trên kia, ta tin trong lần nhớ này, chữ Hiếu không vắng bóng, nghĩa là Thúy Kiều có nhớ cha mẹ, cùng nỗi nhớ những người tình, lúc này là Kim Trọng và Thúc Sinh. Nhà thơ Mai Văn Hoan đã phân tích khá dài để đưa đến kết luận rằng, “Bóng dâu đã xế ngang đầu / Biết dâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi”là Thúy Kiều nghĩ về bản thân mình:


“… Nguyễn Du dùng hình ảnh “bóng dâu tà tà” để nói về tuổi


đời của cha mẹ nàng. “Bóng dâu tà tà” là khi mặt trời sắp lặn, là chặng cuối


của đời người. Nói như dân gian: hai ông bà đã đến cái tuổi “gần đất, xa


trời” rồi. “Nhớ ơn chín chữ cao sâu” và “nghĩ đâu thân phận con ra thế này”


khẳng định rõ ràng “chủ từ” của “một ngày một ngả bóng dâu tà tà”. Còn


việc xác định “chủ từ” cho “bóng dâu đã xế ngang đầu” khó khăn hơn nhiều,


vì không hề có chi tiết nào phụ thêm để có thể bấu víu. Đây là cách nói


“thiếu minh xác” cần phải giải mã. “Bóng dâu đã xế ngang đầu” khác với


“một ngày một ngả bóng dâu tà tà”. “Bóng dâu đã xế ngang đầu” chỉ khoảng


thời gian quá giờ Ngọ (hơn 12 giờ trưa), nghĩa là đã hơn một nửa đời người.


Mà như thế thì không phù hợp với tuổi tác của cha mẹ nàng Kiều chút nào.


Năm, sáu năm về trước (khi Kiều đang ở lâu xanh của mụ Tú Bà) họ đã về


già, bây giờ chẳng lẽ ông bà trẻ lại? Thi hào Nguyễn Du không bao giờ làm


chuyện ngược đời như vậy. Từ đó ta có thể suy ra: Ở đây có thể là Kiều


đang nghĩ về cuộc đời ngắn ngủi của chính mình. Sau bao nhiêu năm chìm


nổi, lênh đênh, lưu lạc… lúc này Kiều tưởng như mình đã sống quá nửa


cuộc đời. Bước qua tuổi 20 với những phụ nữ ngày xưa phần lớn đã êm ấm


gia đình. Có người đã sinh hạ ba, bốn đứa con. Còn nàng thì vẫn chưa được


yên thân: “Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi?”. Nàng hết sức lo lắng cho


chính bản thân mình, nhất là khi đang phấp phỏng chờ đợi Thúc Sinh. Mặc


dù đã phó thác đời mình cho chàng Thúc nhưng Kiều vẫn cảm thấy hết sức


bấp bênh”.


Nhà thơ Mai Văn Hoan đã chính xác khi nói rằng “ Nguyễn Du dùng hình ảnh “bóng dâu tà tà” để nói về tuổi tác của cha mẹ nàng Kiều”, nhưng lại quá máy móc để phân tích “Bóng dâu đã xế ngang đầu” chỉ khoảng thời gian quá giờ Ngọ ( hơn 12 giờ trưa)! Sự thật, “bóng dâu tà tà” hay “bóng dâu đã xế ngang đầu” chỉ cùng một ý, cùng nói rằng cha mẹ đã “xế bóng”, đã già rồi chứ không hề “định lượng” sự hơn kém về độ già giữa hai hình ảnh ấy. Vì Mai Văn Hoan muốn kéo hình ảnh thứ hai về cho hợp với Thúy Kiều (theo ông), nên ông mới định lượng là mới “quá ngọ”, chứ thực ra, trong câu chữ của Nguyễn Du không hề có nội dung ấy. Cái nhầm của Mai Văn Hoan bắt đầu từ chỗ này, nên nghĩ “Biết đâu ấm lạnh, biết đâu ngọt bùi” là nàng Kiều nói về mình. Sự thật, khá dễ hiểu, Thúy Kiều lo nghĩ về cha mẹ nơi xa không biết sinh sống, ăn uống ra sao?


Và hai câu tiếp: “ Tóc thế đã chấm ngang vai / Nào lời non nước, nào lời sắt son”. Mai Văn Hoan cũng cho rằng đó là Thúy Kiều nhớ Thúc Sinh, chứ không phải nhớ Kim Trọng. Ông viết: “Nguyễn Du đã “nhập thân” vào nàng Kiều một cách hết sức tài tình. Lúc này bóng hình Thúc Kỳ Tâm hầu như choán hết tâm trí của nàng: Đêm thu gió lọt song đào/ Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời (“ba sao” là ba chấm cùng với nét cong của nửa vành trăng khuyết kết thành chữ Tâm). Vậy nàng Kiều còn lòng dạ nào để nghĩ đến người khác lúc này nữa”?


Đúng là Kiều có nhớ nhiều về Thúc Sinh, nhưng kết luận rằng chỉ nhớ Thúc Sinh thôi mà không còn lòng dạ nào để nhớ đến người khác nữa, xem ra không ổn. Chúng ta đọc lại lần Thúy Kiều nhớ khi phải xa Từ Hải xem! Rõ ràng là Từ đã cứu vớt Thúy Kiều ra khỏi vũng lầy lầu xanh, Thúc Sinh cũng từng làm thế, nhưng về sau đầu hàng máu ghen của Hoạn Thư, đã dứt tình với Thúy Kiều khi tuyên bố: “ Ái ân ta có ngần này mà thôi”, thế mà khi đợi Từ Hải, Thúy Kiều vẫn nhớ về chàng Thúc: “Tiếc thay chút nghĩa cũ càng/ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”, thì sao có thể kết luận được khi ở Lâm Tri xa Thúc Sinh, Thúy Kiều chỉ nhớ Thúc Sinh mà không nhớ Kim Trọng?


Ngẫm lại những “nỗi nhớ” của Thúy Kiều trong mười năm lăm lưu lạc, ta thấy nàng là người “tình nặng, nghĩa dày”, không những có Tình không bao giờ quên Hiếu, mà mối tình nào cũng sâu nặng, không hề lãng quên mối tình trước khi hoàn cảnh đã dun dủi nàng tới mối tình sau. Hình như nhà thơ Mai Văn Hoan đã không lưu ý điều này nên đã hiểu lệch nỗi nhớ của nàng khi xa Thúc Sinh ở Lâm Tri, rồi tưởng học giả Đào Duy Anh đã nhầm lẫn, thực ra sự nhầm lẫn thuộc về chính Mai Văn Hoan!


     Có vài ý nữa cũng muốn được trao đổi với Mai Văn Hoan. Thứ nhất, ông viết: “ Năm, sáu năm về trước ( khi Kiều đang ở lầu xanh với Tú Bà)  họ đã về già, bây giờ chẳng lẽ ông bà trẻ lại”? Ở trên kia tôi đã nói rằng “bóng dâu tà tà” hay “bóng dâu đã xế ngang đâu” chỉ cùng một ý bố mẹ đã ngả bóng chiều, đã già mà không nói cụ thể già đến mức nào. Ở đây tôi muốn lưu ý rằng, Mai Văn Hoan bảo “năm, sáu năm về trước…”, nghĩa là ông cho rằng khoảng cách giữa hai lần nhớ (3) và (4) là năm hoặc sau năm. Điều này không có căn cứ. Tôi đã bỏ khá nhiều thời gian để giải bài toán “ Thời gian trong Truyện Kiều”, cố xem một cách cụ thể trong 15 năm lưu lạc ấy, Thúy Kiều đã ở với ai, ở đâu…bao nhiêu thời gian, nhưng cuối cùng đành bó tay vì…không đủ giả thiết! Cụ thể không làm sao để biết được Thúy Kiều ở lầu xanh Lâm Tri trong bao lâu! Ta chỉ biết rằng sau khi Thúc Sinh hoàn lương Thúy Kiều, họ sống với nhau một năm thì Thúc Sinh về Vô Tích ở với Hoạn Thư một năm. Nỗi nhớ (3) của Thúy Kiều là khi ở lầu xanh, nhưng ta cũng không biết ở quãng đầu, giữa, hay cuối thời kỳ này. Còn nỗi nhớ (4) thì cuối thời kỳ chờ đợi Thúc Sinh, tức là cách ngày nàng rời lầu xanh chừng hai năm. Như vậy, ta chỉ kết luận được khoảng cách giữa nỗi nhớ (3) và (4) là “nhiều hơn hai năm” mà thôi! Thứ hai, trong bài viết của mình, ông tỏ ra đồng tình với Đoàn Phú Tứ khi nhận định “cách viết thiếu minh xác” của Nguyễn Du trong Truyện Kiều dẫn đến khó hiểu, làm như “thiếu minh xác” là một đặc điểm của ngôn ngữ Truyện Kiều. Nếu điều ấy đúng thì tin chắc Truyện Kiều không thể là tuyệt tác và Nguyễn Du khó thành Đại thi hào đươc UNESCO tôn vinh “Danh nhân Văn hóa thế giới” trọng dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh vào năm 2015 sắp tới!.. Thơ khác với văn xuôi là không phải khi nào một câu cũng có đủ các thành phần, và nhiều khi tác gỉa sử dụng chủ ngữ ẩn. Nhưng nói chung, ngôn ngữ Truyện Kiều khá trong sáng. Tuy thơ cổ điển thường dùng nhiều điển tích, nhưng ngay trong trường hợp này, Nguyễn Du vẫn sử dụng một cách “thông thoáng” làm cho bạn đọc khá dễ tiếp nhận. Một điều đáng chú ý là trong Truyện Kiều tác giả dùng nhiều thủ pháp hoán dụ, mà nội dung của nó rút từ điển tích, cổ thi… khá quen thuộc trong thơ cổ điển buộc người đọc phải nắm bắt điều đó mới hiểu hiểu được nội dung của câu thơ.  Ví như “tử”, “phần” là nói về quê hương, “mây tần” là nói nỗi nhớ quê, “bóng dâu tà tà” hay “bóng dâu đã xế” nói tuổi già cha mẹ… Cũng tương tự, khi Kim Kiều thề bồi : “Tóc mây một món dao vàng chia hai” thì “TÓC THỀ” đã trở thành biểu tượng cho mối tình Kim Kiều mà không thể nhầm sang mối tình khác. Cách diễn đạt trong những câu thơ như vậy không hề “thiếu minh xác” chút nào!


                                                                        Tháng 11- 2013                                                               


 


CÓ PHẢI NGUYỄN DU NHẦM KHÔNG?


        Trong bài “Phác thảo phương hướng biên khảo Truyện Kiều…” của TS Nguyễn Tuấn Cường, có đoạn như sau : “ Câu số 1920, các bản Nôm và Quốc ngữ đều thống nhất ghi là “ Tam quy ngũ giới cho nàng xuất gia”, vậy có thể tin rắng câu này là của Nguyễn Du, không có dị bản. Thiền sư Thích Nhất Hạnh nhận xét rằng: “ Khi sáng tác Truyện Kiều, kiến thức Phật giáo của Cụ còn chưa sâu sắc lắm. Điều đó thể hiện một vài nơi…Cụ Nguyễn Du cũng không biết xuất gia thì phải thọ mười giới chứ không phải năm giới”… Chúng ta cần thừa nhận  (ông) đã nhận xét đúng về cái sai trong ý “ tam quy ngũ giới”. “Ngũ giới” là “tại gia giới”, dành cho người tu tại gia, chứ không phải “ xuất gia giới” dành cho người tu chùa…không có chuyện “xuất gia” mà lại “ngũ giới” như lời của Nguyễn Du…”.


Như vậy, theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh và TS Nguyễn Tuấn Cường thì cụ Nguyễn Du đã nhầm trong trường hợp này. Ý kiến của tôi hơi khác, muốn được trao đổi với quý vị.


Trước khi đưa Thuý Kiều ra ở chùa, Hoạn Thư bàn với Thúc Sinh:


Sẵn Quan Âm các vườn ta


Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa


Có cổ thụ, có sơn hồ


Cho nàng ra đó giữ chùa, chép kinh.


Như vậy, ngôi chùa ở đây có tên là Quan Âm các, là cái gác thờ Quan Âm, được gia đình thúc Sinh cho xây trong vườn nhà mình để phục vụ cho việc “tu tại gia” của người trong gia đình. Tuy gọi là chùa, nhưng chắc chắn không phải là ngôi chùa đúng nghĩa của nó, vì thiếu điều cốt lõi là không có vị sư nào trụ trì, và không phải là nơi để cho bất cứ phật tử nào, trừ người nhà, đến cầu kinh niệm Phật. Thông thường tu tại gia thì người ta không cần chùa, nhưng với gia đình Thúc Sinh, do kinh tế khá giả, có điều kiện nên người ta xây dựng cái gác Quan Âm trong vườn, gọi là chùa thế thôi. Chuyện đó đã có từ lâu trong gia đình Thúc Sinh, còn những ai trong gia đình này đã tu tại gia thì chúng ta không biết được, vì trong tác phẩm không nói đến.


  Thuý Kiều vốn không phải là một Phật tử, xa lạ với chuyện tu hành, nhưng do hoàn cảnh éo le như ta đã biết, nay muốn “nương nhờ cửa không” và được Hoạn Thư “chiều lòng” cho ra “Quan Âm Các” làm hai nhiệm vụ giữ chùa và chép kinh. Mặc dù không thông thạo về đạo Phật, nhưng tôi tin rằng, bất cứ một người nào đã đi tu ở một ngôi chùa chính thức, thì không những ở hẳn trong chùa mà hàng ngày phải làm việc, học tập theo sự sai bảo và quản lý của sư thầy chùa ấy, chứ đâu chỉ làm duy nhất có hai việc “giữ chùa, chép kinh” theo sự sai bảo của người nhà? Mặc dù khi sang ở Quan Âm Các, Thuý Kiều có pháp danh là Trạc Truyện, có mặc áo cà sa, nhưng chỉ vậy đâu đã đủ điều kiện cho người tu chính thức ở chùa? Quan Âm Các là nơi xây lên để phục vụ những người tụ tại gia, thì khi vào ở nơi này, Thuý Kiều cũng thực thi như một người tu tại gia. Trước khi sang ở Quan Âm các, gia đình Thúc Sinh phải làm “thủ tục” “Tam quy ngũ giới” cho nàng, điều mà người nhà của Thúc Sinh đã làm cho mình trước khi thực hiện tu tại gia, chỉ khác là với người nhà thì sau khi làm thủ tục “tam quy, ngũ giới”, mọi người vẫn ở trong nhà như cũ, nhưng Thuý Kiều thì sang ở trong chùa. “Tam quy ngũ giới cho nàng xuất gia”. Điều dẫn đến sự hiểu lầm chính là hai chữ “xuất gia” ở trong câu thơ này. Vì hai chữ xuất gia này, mà người ta liên tưởng đến “xuất gia giới”nghĩa là từ đó về sau, Thuý Kiều tu (chính thức)tại chùa chứ không phải “tu tại gia” được. Theo tôi, hai chữ “xuất gia” ở đây không mang theo nghĩa ấy, mà bao hàm ý nghĩa: Thuý Kiều không ở trong nhà Thúc Sinh nữa mà sang ở Quan Âm Các.


    Tóm lại, khi sang ở Quan Âm Các, Thuý Kiều vẫn là người tu tại gia chứ không phải là người “tu ở chùa” theo đúng nghĩa của nó. Bởi vậy câu thơ “Tam quy ngũ giới cho nàng xuất gia” ở đây là chính xác, nghĩa là Nguyễn Du không nhầm.


Mặc dù là người hết sức yêu mến Truyện Kiều và phục tài cụ Nguyễn Du, nhưng tôi không phải là người tuyệt đối hoá Truyện Kiều và không quan niệm rằng cụ Nguyễn Du luôn luôn đúng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, tôi tin Nguyễn Du không nhầm một phần vì lập luận như trên, một phần vì vấn đề khá đơn giản chứ không phải sâu xa của đạo Phật, chuyện mà bất cứ người đi tu nào cũng biết từ ngày đầu tiên thì chẳng lẽ người viết về tu hành không biết hay sao?                                                                                                            


          NGUYỄN DU BÀN VỀ SÁNG TÁC VĂN CHƯƠNG


            T khi Đại thi hào nguyễn Du qua đời đến đầu thế kỷ 21, chúng ta chỉ biết đến tác phẩm của Cụ để lại gồm có 250 bài thơ chữ Hán cùng Truyện Kiều bất hủ và một số tác phẩm chữ Nôm. Tất cả đều ở dạng sáng tác. Cách đây mươi năm, mới phát hiện ra tập “Hoa nguyên thi thảo”, là một tập bình thơ của Đại thi hào, gồm 33 lời bình thật ngắn gọn cho 33 bài thơ. Tuy nhiên, khi chưa tiếp cận tập sách phê bình này, chỉ qua sáng tác, chúng ta cũng biết được một phần về sự đánh giá nhiều tác phẩm, đồng thời thấy rõ quan niệm sáng tác văn chương của Đại thi hào. Đó là nội dung bài viết này.


    1 Sinh thời, Nguyễn Du, yêu mến, phục tài nhiều nhà thơ cổ điển Trung Quốc, đặc biệt là Đỗ Phủ. Sự gặp gỡ giữa hai nhà thơ này, ngoài tài thơ ra, cùng có trái tim lớn đau nỗi đau những cuộc đời bất hạnh. Đánh giá nhà thơ Đỗ Phủ và nói lòng yêu mến của mình đối với nhà thơ này, Nguyễn Du viết:


Thiên cổ văn chương thiên cổ si (sư)


Bình sinh bội phục vị thường ly


Nghĩa là: "Văn chương ông lưu truyền thiên cổ, ông là bậc thầy muôn đời. Tôi bình sinh khâm phục ồng, không lúc nào rời thơ ông". Nguyễn Du tôn Đỗ Phủ là người thầy muôn thuở, lấy thơ Đỗ Phủ làm sách gối đầu giường, bởi nhận thấy thơ Đỗ Phủ là thứ văn chương chói sáng về câu chữ và gần gũi với cuộc đời.. Nhiều khi đọc thơ Đỗ Phủ, Nguyễn Du khóc một mình bởi thương người sống cách mình hơn ngàn năm trước.


   Với Thôi Hiệu, người có bài thơ Hoàng Hạc lâu nổi tiếng đến mức Lý Bạch đến nơi này không dám làm thơ nữa vì đã có thơ Thôi Hiệu rồi, thì Nguyễn Du đánh giá: " Thi thành thảo thụ giai thiên cổ", nghĩa là bài thơ Thôi Hiệu làm xong thì cỏ cây  trở thành thiên cổ. Tôi nghĩ rằng, khó tìm được một câu nào đánh giá thơ cao hơn thế! Với Lý Bạch, Nguyễn Du không bình thơ mà nói về quan niệm sống của "ông tiên trong làng rượu"  này, rằng " ông coi thường vinh hoa như dép rách".  Đó là ba nhà thơ đời Đường mà Nguyễn Du yêu mến nhất. Còn một nhà thơ nữa sống cách Nguyễn Du trên hai ngàn năm. Đó là Khuất Nguyên thời Chiến quốc. Nguyễn Du viết:


Tông quốc tam niên bi phóng trục


Sở từ vạn cổ thiện văn chương


Nghĩa là, ông buồn rầu suốt ba năm bị đày xa tổ quốc, tập Ly tao vẫn là áng văn muôn thủơ tuyệt vời! Nguyễn Du đã dành ba bài thơ nói về Khuất Nguyên, trong đó có bài Phản chiêu hồn quá quen thuộc với đông đảo bạn đọc.


   Còn Nguyễn Du nhận định như thế nào về các nhà thơ đương thời? Ông viết:


Tam Đường thiên tải hậu


Tịch mịch cửu vô văn


Nghĩa là, sau đời Đường nghìn năm, thi đàn vắng vẻ, đã lâu không nghe ai nổi tiếng hay thơ nữa! Nếu lời nhận xét này thốt ra từ miệng một nhà thơ bình thường, tôi tin rằng thời đó lắm kẻ đã nổi khùng lên, mắng người nói câu đó là chủ quan, là " mục hạ vô nhân", nhưng Nguyễn Du nói thì có cái lý của thiên tài từ đỉnh cao thi ca nhìn xuống.


  


 2 - Có một câu hỏi mà chúng ta đã bàn khá nhiều trên báo chí cũng như trong các cuộc hội thảo là làm thế nào để có thơ hay, như cố tìm bí quyết để các nhà thơ không cho ra đời những bài thơ dở. Vấn đề này, cách đây trên hai trăm năm Nguyễn Du đã từng "phát biểu" trong Truyện Kiều:


Ngổn ngang trăm mối bên lòng


Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình.


   Tôi nghĩ rằng, ở đây Nguyễn Du không chỉ nói chuyện Thuý Kiều ban ngày thăm mộ Đạm Tiên, lòng cám thương, rồi đêm về làm thơ; mà là câu trả lời cho câu hỏi trên kia: Khi lòng ngổn ngang trăm mối là điều kiện cho những câu tuyệt diệu ra đời. Như vậy, thơ hay thường đến với những người có nỗi lòng đau đáu, trăn trở, cám thương, dằn vặt... chứ thơ hay không thể có được với những ai sống đơn giản, dửng dưng, " trơ như đá, vững như đồng" trước nỗi đau và niềm vui của người khác. Thực tế cũng đã kiểm chứng điều này khi chỉ ra rất nhiều nhà thơ có tác phẩm hay nhất của mình vào những năm đời sống khó khăn, nhiều dằn vặt suy nghĩ, còn khi đời sống khấm khá rồi, không phải lo nghĩ gì, thì "nhà càng lộng gió, thơ càng nhạt" ( Xuân Sách) là không phải chuyện cá biệt.


   Khi lòng ngổn ngang trăm mối thì dễ có thơ hay, nhưng chỉ có thơ hay về điều mình đang dằn vặt suy nghĩ, chứ thật khó làm thơ về đề tài khác. Khi Thúc Sinh mê mẩn Thuý Kiều, chàng có làm một bài thơ Đường luật, muốn Thuý Kiều hoạ lại, nhưng Thuý Kiều đã từ chối:


Lòng còn gởi áng mây hàng


Hoạ vần xin hãy chịu chàng hôm nay


Nghĩa là, lòng Thuý Kiều đang "ngổn ngang trăm mối" về quê hương, gia đình thì không dễ gì làm thơ thù tạc được.


   Tuy nhiên, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du còn chỉ ra rằng, đối với những người có tài thơ, tâm hồn thơ thường trực, thì có thể làm thơ theo " đơn đặt hàng" của người khác, vẫn có được những bài thơ hay. Đó là trường hợp Thuý Kiều làm bài thơ tứ tuyệt vịnh bức tranh tùng theo yêu cầu của Kim Trọng, hay vịnh cái gông theo yêu cầu của Chánh án " mặt sắt đen sì" ngay trong phiên toà. Thế mà hai bài thơ đặt hàng ấy được "khen tài nhả ngọc phun châu" hoặc " giá đáng Thịnh Đường"! Thế là Nguyễn Du vừa coi trọng hoàn cảnh ra đời của bài thơ, vừa đánh giá cao tài năng thiên bẩm của người làm thơ.


         Chất lượng cuộc sống và chất lượng tác phẩm không đồng hành cùng nhau, thậm chí có khi còn ngược nhau. Nguyễn Du đã chỉ ra trường hợp Khuất Nguyên, một nhà thơ nước Sở, thế kỷ thứ IV trước công nguyên. Khuất Nguyên giữ chức Tam lư đại phu ( dưới Tể tướng). Lúc đầu Sở Hoài Vương tín nhiệm Khuất Nguyên, bằng lòng thực hiện chủ trương chính trị của ông, nhưng sau bị Thượng quan Ngân Thượng gièm pha, Sở Tương Vương không dùng Hiến lệnh của Khuất Nguyên, đày ông đi Giang Nam. Ông đi qua hồ Động Đình, theo dòng sông Nguyên đến Thần Dương, Tư Phố rồi theo dòng sông Tương đến Mịch La và ngày 5 táng 5 ông trẫm mình tại đó. Đối với Khuất Nguyên, việc Hiến lệnh của ông không được dùng là một tai hoạ, dẫn đến lưu đày và cái chết, nhưng đối với thơ cổ điển Trung Quốc, thì đó là điều may mắn, bởi nhờ cuộc lưu đày đó mà có được Ly tao, một tuyệt tác. Nguyễn Du viết:


Trực giao Hiến lệnh hành thiên hạ


Hà hữu Ly tao kế Quốc phong?


Nghĩa là: Giá như Hiến lệnh ông thảo ra được ban hành khắp thiên hạ, thì thơ ca Trung Quốc làm gì có Ly tao kế tiếp Kinh thi? Qua trường hợp Khuất Nguyên, phải chăng, Nguyễn Du muốn nói rằng, có khi điều bất hạnh trong cuộc sống, lại là điều may mắn trong sáng tác thi ca?


      Trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du nói nhiều về quan hệ giữa tuổi tác và sáng tác thơ văn, hay nói chính xác hơn là ông nêu những hạn chế, nhược điểm trong sáng tác do tuổi tác mang lại. Nguyễn Du là người về hình thức già trước tuổi, đầu bạc ở tuổi ba mươi và là một nhà thơ có nhiều câu thơ nói về tóc bạc nhất trong tất cả các nhà thơ mà tôi được đọc. Chỉ sáu mươi bài thơ đầu tiên trong Thanh Hiên thi tâp, thì có đến 22 lần ông nhắc đến tóc bạc, lúc thì lô đầu, bạch đầu lúc thì bạch phát, tiêu tiêu bạch phát...Còn trong hai tập Nam trung tạp ngâm Bắc hành tạp lục, tóc bạc trù mật khắp nơi. Có người nói rằng, tuổi càng cao, có từng trải và chiêm nghiệm, thơ viết càng sâu sắc, nhưng với Nguyễn Du thì ngược lại. Ông nói: " Lão khứ văn chương diệc tị nhân", nghĩa là, "già rồi văn vẻ cũng xa lánh người". Đồng hành với sự già đi của thân thể là sự chai lỳ của cảm xúc, thưa vắng sự sửng sốt trước con người và cảnh vật, lòng hiếm khi " ngổn ngang trăm mối", tất nhiên ít có điều kiện cho thơ ra đời. Khi đó nhà thơ phải sáng tác theo ý thức và trách nhiệm, chứ không phải do sự thúc giục của nội tâm. Chất lượng của những tác phẩm đó sẽ như thế nào? Nguyễn Du nói:"Văn chương tàn tức nhược như ti", nghĩa là, khi sức mình đã tàn thì văn chương chỉ mong manh như sợi tơ, dễ đứt lắm! Không chỉ đối với các nhà thơ " thường thường bậc trung" mà ngay đối với Đại thi hào, thì cũng trở nên bất lực trong sáng tác khi tuổi già đến nơi. Nguyễn Du thừa nhận rằng:


Tráng niên ngã diệc vi tài giả


Bạch phát thu phong không tự ta


 nghĩa là, thuở trẻ ta cũng là kẻ tài ba, nay đầu đã bạc, chỉ còn than thở  trước gió thu mà thôi! Vẫn làn gió thu ngàn năm ấy, với tuổi trẻ, có thể thành thơ, với tuổi già chỉ còn lời than thở suông, chẳng làm được gì. Hai câu thơ này tác giả viết trong chuyến đi sứ, vô hình trung góp phần phản bác lập luận của những ai bảo rằng Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều sau chuyến đi sứ, tức là từ năm 1814 đến 1820.


    Bắc hành tạp lục là tập thơ cuối cùng của Nguyễn Du viết trong chuyến đi sứ nhà Thanh, gồm 132 bài mà bài cuối cùng viết cuối năm 1813. Thế là từ năm 1814 đến khi mất, năm 1820, Nguyễn Du không để lại một bài thơ chữ Hán nào, còn Truyện Kiều, theo các nhà nghiên cứu có uy tín thì được sáng tác trước năm 1802. Phải chăng những năm cuối đời, văn chương đã xa lánh nhà thơ như ông đã nói, và ông không muốn sáng tác nữa, vì biết rằng, có viết ra thì " văn chương tuổi lão mảnh như tơ" là điều ông không bao giờ muốn đem đến cho bạn đọc. Nếu vậy, đó là thái độ tôn trọng người đọc của Đại thi hào.                                                                                  


 


NGUYỄN DU VỚI QUÊ HƯƠNG HỒNG LĨNH LAM GIANG                             


            Nguyễn Du được sinh ra ở thành Thăng Long, tuổi thơ nhiều năm ở Thăng Long, nhưng ông chỉ coi Thăng Long như nơi một thời mình từng sinh sống, khi xa ít nhớ về, nếu có điều kiện gặp lại thì chỉ gợi lên một vài kỷ niệm, còn tất cả tình quê ông dành cho Hồng Lĩnh, Lam Giang. Con người đa sầu, đa cảm đó từng phải sống nhiều năm xa quê, nhưng không hề quen được với nỗi xa cách, mỗi lần phải từ giã quê hương là bao lần ngoái đầu nhìn lại, khóc thầm:


Cố quốc hồi đầu lệ


Tây phong nhất lộ trần


Tài qua Long Vĩ thuỷ


 Tiện thị di hương nhân.


Tạm dịch: Ngoái nhìn quê, lệ chảy/ Gió tây cuốn bụi đường / Vừa qua sông Long Vĩ/  Đã thành người tha hương.(*)


             Quê hương Tiên Điền của ông nằm ở phía nam sông Lam, còn gọi là sông Long Vĩ. Chỉ cần qua con sông đó, đặt chân lên bờ bắc là ông đã có cảm giác của người tha hương; thế thì khi phải sống ở góc bể chân trời, ông không nhớ quê sao được. Nguyễn Du bắt đầu làm thơ về nỗi nhớ quê hương trong mười năm gió bụi sống ở quê vợ Quỳnh Hải, Thái Bình, kể từ năm 1786. Năm 1786 là năm có gia biến lớn, tạo bước ngoặt trong cuộc đời Nguyễn Du: trong một năm, cả hai người anh là Nguyễn Khản và Nguyễn Điều cùng qua đời, ông không còn nơi nương tựa. Vạn bất đắc dĩ Nguyễn Du phải về sống ở quê vợ. Ngày nay ai phải sống nương nhờ nhà vợ, quê vợ cũng là điều chẳng vinh hạnh gì, thế thì thời phong kiến, cậu ấm con quan Tể tướng trong triều mà lâm vào cảnh phải ăn nhờ ở đỗ trên quê vợ thì không buồn sao được, nhất là đối với con người rất dễ buồn này. Hơn nữa Nguyễn Du, ngoài dòng dõi con nhà khoa bảng, ngoài tài thơ và vốn chữ nghĩa đầy mình, ngoài nỗi buồn khi nào cũng thường trực, ngoài mái đầu bạc sớm trước tuổi ba mươi…ông không có cái gì lo được cho sinh kế vào thời buổi loạn ly này. Có nhà nghiên cứu đã nhầm lẫn khi cho rằng về quê vợ Thái Bình, Nguyễn Du có trồng vườn thuốc để làm kế sinh nhai. Sự nhầm lẫn này một phần do xử lý văn bản thiếu khoa học, phần khác là nhà nghiên cứu đó chưa thật hiểu Nguyễn Du là người không dễ thích nghi với hoàn cảnh mới. Chính hoàn cảnh đã biến ông thành người khất thực, khiến ông thốt lên:


Văn tự hà tằng vi ngã dụng


Cơ hàn bất giác thụ nhân liên.


( Văn chương nào đã giúp được gì cho ta, đâu ngờ đói rét để người thương). Phải xa quê, ông cảm thấy mình như đám cỏ bồng lìa gốc, gió tây thổi mạnh, không biết rồi giạt tới phương nào:


Đoạn bồng nhất phiến, tây phong cấp


Tất cánh phiêu linh hà xứ quy ?


            Trong mười năm gió bui đó, ông đã tự nhận ra mình chưa làm nên danh vọng gì mà thân đã suy yếu, tóc bạc phất phơ trước ngọn gió chiều, cái dáng nho nhã bình sinh đã biến mất, bây giờ thân thể xác xơ như chim phượng bị nhốt trong lồng (Sinh bình văn thái tàn lung phượng), phải chấp nhận nỗi nhớ quê nhà từ xa "dao ức gia hương thiên lý ngoại" mà không thể về quê được vì " Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán", tức là ở Hồng Lĩnh không có nhà nữa, anh em đã ly đán mỗi người một nơi, mình về đó biết ở vào đâu, ở với ai…thôi đành sống nhờ quê vợ vậy. Trong hoàn cảnh xa quê đó, hầu hết những bài thơ ông viết ra đều buồn, không chỉ buồn ở những bài có đầu đề đáng buồn như Khất thực (Xin ăn), Bất mị ( Không ngủ), Tự thán (Than thân), Bát muộn (Xua nỗi buồn)…mà ngay những bài  viết về mùa xuân, về ngày tết nguyên tiêu cũng buồn, chung quy một nỗi buồn xa quê. Đêm xuân đem đến bao nhiều vui và tốt lành cho người khác, còn ông:


Ky lữ đa niên đăng hạ lệ


Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm


Nghĩa là sống ở đất khách lâu năm, ngồi dưới bóng đèn mà rơi lệ, vầng trăng quê nghìn dặm, ở trong trái tim mình.


    Trong mười năm đó, ý nguyện muốn được về quê luôn thường trực trong lòng ông, hễ có cái cớ là hiển hiện. Nhân tiễn một người bạn về quê, ông nói nỗi lòng mình:


Quy khứ cố hương hảo phong nguyệt


Ngọ song vô mộng đáo thiên nhai


Tức là: Về quê trăng mát, gió êm / Giấc trưa không mộng tới miền xa xôi.


    Năm 1796, sau khi người vợ họ Đoàn mất, Nguyễn Du rời Quỳnh Hải trở về quê hương cùng đứă con trai tên là Nguyễn Tứ. Nguyễn Tứ là người con thứ tư của Nguyễn Du với người vợ thứ nhất này, nhưng ba người con trước đều bị mất sớm, điều này chứng tỏ khi hai bố con ông rời Thái Bình, Nguyễn Tứ chỉ một vài tuổi. Về Tiên Điền, Nguyễn Du ở đâu? Trong một bài thơ gửi bạn, Nguyễn Du viết:


Viễn lai tri thủ tương tầm lộ


Gia tại Hồng Sơn đệ nhất thôn


Anh ở xa đến thì nhớ đường mà tìm, nhà tôi ở thôn đầu tiên của dãy Hồng Lĩnh. Thôn đầu tiên mà Nguyễn Du nói với bạn chính là xóm Tiên Giáp ( sau đổi thành Tiên Mỹ), sát trường tiểu học ngày nay. Gần đây khách đến thăm chỉ còn nhận ra khoảnh đất, hướng quay của ngôi nhà và hai cây đại đã chết khô. Nguyễn Du đã sống ở đấy liên tục trong sáu năm trời từ năm 1796 đến năm 1802. Ông đã có nhiều bài thơ nói về ngôi nhà này. Khi muốn nói mình là kẻ rời kinh đô về làm người nhà quê trong núi thì ông gọi đây là nơi " quần phong thâm xứ", mây núi luôn phủ kín cửa sài. Có khi ông cảm thấy yên tâm ở đây vì xa cách cuộc đời gió bụi:


                              Gối cao, cửa đóng chặt rồi


Trong nhà nằm nghỉ mặc trời bụi tung


Trăng trời sáng khối tình chung


Non Hồng vạn dặm hoà đồng khí thiêng


                                                                                    ( Ký hữu)


Vẫn là ngôi nhà ấy, nhưng khi nói tình cảm của mình đối với sông Lam thì nhà thơ như xịch căn nhà ra sát bờ sông:


Long Vĩ giang đầu ốc nhất gian


U cư sầu cực hốt tri hoan


(Nhà đầu Long Vĩ một gian/ Đang sầu, ẩn sĩ bỗng tràn niềm vui). Niềm vui khá hiếm hoi của Nguyễn Du những năm sống ở Hồng Lĩnh. Hay là:


                                     Long Vĩ châu biên đa bạch âu


Lam Giang đường thượng hữu hàn nho


( Bãi sông Long Vĩ lắm cò /Nhà trên bờ sông Lam có một nhà nho nghèo).


Có một điều lạ là hầu hết các bài thơ nói về bệnh tật của mình, Nguyễn Du không nói mình ở trong núi Hồng mà là ở bên bờ sông Lam, dường như dành non Hồng cho nơi nghỉ ngơi vui thú:


Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ


Bạch vân ngoạ bệnh Quế Giang biên


Hoặc là:


Đa bệnh, đa sầu, khí bất thư


Thập tuần khốn ngoạ Quế Giang cư


Nguyễn Du chỉ có một bài thơ trực diện về sông Lam với đầu đề Lam Giang, nhưng không phải ông ca ngợi cảnh đẹp của dòng sông, mà tả sông Lam trong mùa lũ, lòng đầy kinh sợ:


Bờ lở như sấm vang


Sóng đỏ như quỷ lạ


Nguy hiểm hơn lòng người


                    Sụt lở do trời cả.


Hay:


Ta nhìn nước sông Lam


Nỗi lòng lo ngay ngáy


Không may lỡ sẩy chân


Chìm mãi không tới đáy…


Và ông muốn đẩy núi Thiên Nhận để lấp bằng sông Lam. Đoc kỹ bài thơ này ta nghĩ rằng, hình như Nguyễn Du không chỉ tả cảnh sông Lam trong mùa lụt, mà nhà thơ muốn nói một điều gì khác của thời thế xã hội? Bài thơ Giang Đình hữu cảm  cũng không hề tả cảnh đẹp của bến Giang Đình mà chứa đầy chất hoài cổ, luyến tiếc một thời vàng son đã qua. Ta biết rằng năm 1771, Nguyễn Nghiễm xin về quê trí sĩ, được thăng Đại tư đồ, Chúa cho vinh quy. Nguyễn Du khi đó 6 tuổi theo mẹ là Trần Thị Tần cùng về quê hương. Vọng lọng, ngựa xe ngày ấy, gần ba chục năm sau ngồi trên bến Giang Đình Nguyễn Du nhớ lại:


ức tích ngô ông tạ lão thì


Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi


Tiên chu kích thuỷ thần long đấu


Bảo cái phù không thụy hạc phi


Tạm dịch là:


Về hưu ngày ấy, cha ta


Xe bồ, ngựa tứ đã qua bến này


Thuyền xô nước tựa rồng quây


Lọng như hạc báo điềm hay giữa trời.


Đó là quá khứ, còn hiện tại thì:


Từ khi xiêm áo hết thời


Khói trên ngọn cỏ ngậm ngùi bờ sông


Trăm năm bao chuyện đau lòng


Trằng An ngày trước nay không còn gì!


Hơi thơ trở lại giọng buồn quen thuộc của Đại thi hào. Có thể bạn đọc tự hỏi rằng, sao được sống giữa quê mình mà nhà thơ buồn lắm thế? Xin thưa: mặc dù được sống giữa quê hương nhưng các em đã ly tán mỗi người một phương, không có tin tức: "Cố hương đệ muội âm hao tuyệt/ Bất kiến bình an nhất chỉ thư". Buồn vì nhớ người vợ họ Đoàn ở Thái Bình đã qua đời mà trong chiêm bao vẫn tìm đường vào thăm ông. Nhưng nỗi buồn lớn nhất là "Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên" ( Hùng tâm và kế sinh nhai, cả hai cùng mờ mịt). Hùng tâm trở nên mờ mịt sau khi ông toan vào Gia Định giúp Nguyễn ánh vào mùa đông năm 1796 và đã bị quân Tây Sơn bắt giam trong mấy tháng. Hùng tâm ấy còn trở nên mù mịt vì một lẽ nữa: "Bạch phát tiêu ma bần sĩ khí" ( tóc bạc làm tiêu ma chí khí của kẻ sĩ nghèo). Hoặc là: "Bạch phát hùng tâm không đốt ta ( Tóc bạc rồi, có hùng tâm cũng chỉ ngồi than thở suông mà thôi). Nguyễn Du là người có mái đầu bạc sớm trước tuổi ba mươi và cũng là nhà thơ nói nhiều về tóc bạc nhất. Khi thì bạch đầu, khi thì bạch phát hoặc tiêu tiêu bạch phát, chỉ trong 60 bài thơ đầu của Nam trung tạp ngâm, thi hào đã 22 lần nói đến tóc bạc. Còn sinh kế thì sao? Những năm sống dưới chân Hồng Lĩnh, Nguyễn Du chịu cảnh nghèo đói thường nhật: "Táo đầu chung nhật vô yên hoả/ song ngoại hoàng hoa tú khả xan".( Suốt ngày bếp núc không lửa khói/ Thấy bông hoa vàng đẹp ngoài cửa sổ nghĩ có thể ăn được!).


             Nhưng sống giữa quê hương, Nguyễn Du không chỉ có bệnh tật và nỗi buồn mà ông còn có niềm vui. Vui vì cảnh đẹp của quê hương Lam Hồng.Trong một bức thư gửi bạn, Nguyễn Du đã viết:


Mạc sầu tịch địa vô giai khách


Lam thuỷ, Hồng sơn túc vịnh ngâm


(Chớ lo cho tôi ở nơi hẻo lánh không có bạn tốt, sông Lam, núi Hồng có nhiều cảnh đẹp đủ để ngâm vịnh).


          ở chốn Lam Hồng, Nguyễn Du còn có một thú vui nữa là đi săn. Có nhà nghiên cứu nói rằng, Nguyễn Du đi săn để lo kế sinh nhai, tôi không tin như vậy, vì chính Nguyễn Du đã nói rằng: "Giải thích nhân tình, an tại hoạch "(Đi săn để  tâm tình thư thái, chứ không cốt bắt được nhiều thú). Trong nhiều bài thơ viết về chuyện đi săn, Nguyễn Du không chỉ nói chuyện đi săn mà để bộc bạch nhân sinh quan của mình.


            Năm 1802, Nguyễn Du ra làm quan dưới triều Nguyễn. Nhiều người cứ nghĩ rằng, đây là một bước ngoặt lớn trong đời và chắc sẽ tạo bước ngoặt lớn cho thơ. Nhưng không, Nguyễn Du không thích thú gì việc làm quan ấy, ông làm quan chẳng qua vì kế sinh nhai mà thôi. Mặc dù vậy, ông được đề bạt rất nhanh. Vừa ra làm quan, ông được bổ Tri huyện Phù Dung thuộc Khoái Châu, ba tháng sau được thăng tri phủ Thường Tín, rồi được cử đi tiếp sứ nhà Thanh ở trấn Nam Quan. Thế mà đến mùa thu năm 1804 ông đã xin từ chức về quê, lấy cớ là bị bệnh. Sự cáo quan bất ngờ của Nguyễn Du đã làm ngạc nhiên nhiều người, trong đó có cả Nguyễn Hành, người cháu ruột  kém Nguyễn Du sáu tuổi và cũng là một nhà thơ nổi tiếng thời bấy giờ. Nguyễn Hành thốt lên: "  Đang buổi thanh bình làm sao chú lại cáo quan mà về?…Chú đã có một chức tước trong thiên hạ, thì chú cần phải giữ trọn cái danh tốt cho nhà ta…".ở quê được mấy tháng, ông lại được ( hay bị?) nhà vua gọi vào Phú Xuân, thăng chức Đông các học sĩ. Thế nhưng ông vẫn buồn và nhớ quê. Không hiểu thời ấy lương bổng một chức quan như Nguyễn Du thì được bao nhiêu, nhưng qua thơ ông, ta thấy tình cảnh vợ con ông ở quê thật là khốn khổ. Ông đã viết về quê nhà:


Quê hạn nặng, mùa trắng tay


Mười con đói khát mặt mày xanh rau


Hoặc là:


Mười con kêu đói non Hồng


Một thân ngoạ bệnh phía đông đế thành.


Mười con là một cách làm tròn con số cho gọn, sự thật, Nguyễn Du có đến 18 con, không kể những đứa mất sớm! Bà vợ họ Đoàn quê Thái Bình chỉ một con là Nguyễn Tứ, bà vợ thứ hai ở quê chỉ một con là Nguyễn Ngũ, còn bà vợ thứ ba, cũng ở quê, có đến 16 con ( 10 trai, 6 gái). Có lẽ đông con sống nghèo khổ giữa quê hương cũng là một lý do để khi xa nhà thơ luôn hướng về quê nhà, có dịp là sẵn sàng từ bỏ "chức quan mọn" của mình để trở về với quê hương.


            Khi xa quê, không biết bao lần ông đã làm thơ về nỗi buồn nhớ quê hương, trong đó bài Nễ Giang khẩu hương vọng, tức là Từ cửa sông Nễ Giang ( sông Ròn) trông về quê hương, ông viết trong những năm làm Cai bạ ở Quảng Bình là một bài khá điển hình về chủ đề này.


Vọng vọng gia hương tự nhật biên


Hoành Sơn chỉ cách nhất sơn điên


Khả liên quy lộ tài tam nhật


Độc bão hương tâm dĩ tứ niên


Tạm dịch:


Nhìn quê xa tựa mặt trời


Cách Hoành Sơn, chỉ một thôi núi này


Đường về đi  bộ ba ngày


Lòng quê đã bốn năm nay nhớ hoài.


Phải chăng trong suốt bốn năm trời làm quan ở Quảng Bình, Nguyễn Du không được một lần về thăm quê dù đoạn đường chỉ ba ngày đi bộ, hay vì quá thương nhớ quê mà nhà thơ thốt lên như thế, dù có vài ba lần về được thăm cũng chẳng hề vơi được nỗi nhớ quê nhà?


     Nguyễn Du mất ở Huế mùa thu năm 1820, chưa đầy bốn năm sau, mùa hè năm 1824, con trai ông là Nguyễn Ngũ đã đưa hài cốt của cha mình về táng ở vườn cũ ông ở lúc sinh thời. Và 104 năm sau, tức năm 1928, mộ của Đại thi hào mới được cải táng ra vị trí hiện nay. Mặc dù trong gia phả cũng như trong tư liệu không thấy có lời di chúc nào của Đại thi hào về chuyện dặn con cháu đưa hài cốt mình về quê hương, nhưng đó chính là nguyện vọng thiêng liêng, vì đối với ông, việc nấm mộ phải táng ở đất khách là điều đáng thương, như ông đã buồn thương trước nấm mộ gửi nhờ nơi đất khách của nhà thơ Đỗ Phủ.


            Phải chăng quan niệm này một lần nữa nói lên tình quê của Đại thi hào Nguyễn Du?


                                                           


___


* Những câu thơ trích dẫn trong bài này rút trong tập “TOÀN TẬP THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU” do Vương Trọng dịch thơ, xuất bản năm 2008.


 


 


TỪ THĂNG LONG TIẾC THĂNG LONG   


      Chính kinh đô Thăng Long đã tạo nên mối lương duyên giữa Tả thị lang bộ Hình (sau này là quan Tư đồ rồi Tế tướng) Nguyễn Nghiễm quê Nghi Xuân, Hà Tĩnh với cô gái Trần Thị Tần quê Từ Sơn, Bắc Ninh. Chúng ta biết rằng, Nguyễn Nghiễm lúc đó tuổi đã xấp xỉ năm mươi, còn Trần Thị Tần, xuân xanh chưa đầy hai chục, chính xác là kém Nguyễn Nghiễm 32 tuổi và kém 6 tuổi so với Nguyễn Khản, con đầu của ông. Nếu năm 1757, Nguyễn Nghiễm không được triều đình gọi về Thăng Long, thì làm gì có được mối lương duyên này, và tám năm sau, năm 1765 không thể khai sinh ra một con người mà sau này trở thành Đại thi hào của dân tộc.


  Chúng ta cũng từng biết, Nguyễn Du sinh ra ở phường Bích Câu, tuổi thơ và tuổi học trò sống ở Thăng Long, tình yêu đầu tiên và câu thơ lục bát đầu tiên cũng dành cho người Thăng Long. Chuyện này chính Nguyễn Du đã thuật lại trong bài “Một mối tình hận của tôi” mà nhà giáo Nguyễn Đức Bính đã giới thiệu cách đây hơn nửa thế kỷ. Trong bài viết ấy, Nguyễn Du kể lại mối tình của mình ngày còn đi học, đã quen rồi yêu một cô gái chống đò trên sông Nhị Hà, tên là Đỗ Thị Nhật. Tình yêu không thành nhưng chuyện tình còn để lại với những dòng lục bát tỏ tình đầu tiên, với ba chấm lửng (…) kết thúc khổ thơ đầy ngụ ý:


Ai ơi chèo chống tôi sang


Kẻo trời trưa trật lỡ làng tôi ra


Còn nhiều qua lại, lại qua


Giúp cho nhau nữa để mà…


  Khi Nguyễn Du ra đời thì kinh đô Thăng Long đã 755 tuổi, Văn miếu, Quốc Tử Giám đã có ngót 700 năm, rùa Văn Miếu đã xếp hàng đội bia Tiến sĩ từ những thời nào. Mặc dù không thấy tài liệu nào nói chuyện Nguyễn Du ra vào khu Văn Miếu, chỉ thấy nhắc tới hồ Giám, nhưng với bản tính ngưỡng mộ hiền tài, trân trọng lịch sử, hơn nữa bốn chữ “Cổ kim nhật nguyệt” sơn son thếp vàng hiện còn treo ở nơi trang trọng nhất của Văn Miếu là chính do Nguyễn Nghiễm, thân sinh ông viết, thì ta tin rằng, Văn Miếu là địa chỉ quen thuộc của Nguyễn Du thời trai trẻ. Là con trai một vị Tể tướng, những năm sống ở Thăng Long, Nguyễn Du có điều kiện ra vào cung vua, phủ chúa, chứng kiến được cuộc sống sang trọng, có khi xa hoa, truỵ lạc của tầng lớp trên của xã hội bấy giờ, điều này tạo điều kiện cho ông có những câu thơ tả cảnh, tả người hết sức sinh động trong Truyện Kiều. Theo kết qủa nghiên cứu của các học giả có uy tín, cũng như qua sự suy xét của bản thân tôi, Nguyễn Du viết Truyện Kiều vào thời gian sống ở Tiên Điền từ năm 1796 đến năm 1802, và cụ thể hơn, chuyện Kiều được ra đời vào năm 1801. Như vậy khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du chưa ra làm quan cho Gia Long, chưa biết được cảnh sinh hoạt chốn vua quan triều đình Huế, thế thì những câu tả cảnh, tả người những gia đình quyền quý trong Truyện Kiều chính nhờ kinh đô Thăng Long cung cấp vốn sống. Ví như những câu tả cảnh nhà và cách sinh hoạt của bà mẹ Hoạn Thư, bà vợ của ông Thượng thư bộ Lại:


Ban ngày sáp thắp hai bên


Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà.


Một người dù tài thơ đến mấy, nhưng nếu chưa từng tiếp xúc với tầng lớp trên của xã hội thời bấy giờ, thì khó mà nghĩ ra được những cảnh tượng ấy vốn không có trong Kim Vân Kiều truyện. Hay như hình dáng mụ chủ chứa Tú bà:


Thoắt trông nhờn nhợt màu da


Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao


Rồi: “Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm…”là những gì Nguyễn Du sáng tạo ra từ sách vở đọc được cũng như chứng kiến ở kinh thành Thăng Long một thời.


    Từ khi sinh ra đến năm 1786, trước khi về quê vợ ở Thái Bình sống “mười năm gió bụi”, chỉ trừ về quê Nghi Xuân vài lần ngắn ngủi, hầu hết thời gian Nguyễn Du sống ở Thăng Long để học hành cũng như giao du với những người sống ở Thăng Long như Đoàn Nguyên Thục, Đoàn Nguyên Tuấn, Thực Đình... Chúng ta nhớ rằng, Thăng Long là Kinh đô nên không chỉ có những người quê Thăng Long, mà nhân tài tứ xứ, đặc biệt là văn sĩ Bắc Hà sinh sống và làm việc ở đó. Xuất thân từ một gia đình khoa bảng, có truyền thống thi ca thơ, lại được giao du, tiếp xúc với những người tài sống ở Thăng Long, tài thơ bẩm sinh của Nguyễn Du như hạt giống tốt gặp đất tốt, mưa thuận, gió hoà.  Nhà thơ lớn của một dân tộc phải là người hiểu được văn hoá của cả dân tộc mình chứ không phải chỉ của một vùng đất, một nhóm người. Khi không có điều kiện lăn lộn khắp các vùng của đất nước, nếu muốn hiểu văn hoá của dân tộc mình thì không sống đâu bằng ở thủ đô, nơi hội tụ tinh hoa của các vùng văn hoá. Ngoài việc khác nhau về năng khiếu bẩm sinh, Nguyễn Du thuận lợi hơn một số nhà thơ khác, ví dụ như Nguyễn Đình Chiểu, là cả một thời trai trẻ được sống ở kinh đô, nên tác phẩm ông là tiếng nói chung của cả dân tộc, thoát ly văn hoá vùng miền nên bạn đọc cả nước dễ tiếp nhận và đồng cảm. Như vậy, Thăng Long không những tạo cơ hội cho con người Nguyễn Du ra đời, mà còn tạo điều kiện, hun đúc ông trở thành Đại thi hào.


  Ngoài những vần lục bát tặng Đỗ Thị Nhật, trong thơ chữ Nôm, chúng ta không thấy bài nào, dòng nào ông viết về người và cảnh Thăng Long, nhưng trong thơ chữ Hán, ông để lại năm bài. Đầu tiên là bài Đại nhân hý bút ( thay người khác viết đùa), có những câu tả cảnh Thăng Long hết sức cụ thể:


Thác lạc nhân gia Nhị Thuỷ tân


Cư nhiên biệt chiếm nhất thành xuân


Đông tây kiều các  kiêm thiên khởi…


 Tạm dịch:


Nhà bên sông Nhị chen chân


Nghiễm nhiên chiếm hết cảnh xuân thành này


Chạm trời, cầu, gác đông tây…


    Đây là những câu thơ tả cảnh Thăng Long duy nhất của Nguyễn Du thời ông còn trai trẻ. Tuy nhiên, cảnh đó có đúng sự thật hay không, thì ta thật khó biết vì đầu đề bài thơ là Đại nhân hý bút, tức thay người khác viết đùa. Thay lời người khác đã không phải ý của tác giả rồi, lại còn viết đùa nữa thì người đọc khó biết được thực hư thế nào!


 Bốn bài còn lại đều nằm trong tâm trạng hoài vãng, đau xót trước cuộc bể dâu, thương tiếc Thăng Long một thời vàng son. Chúng ta biết rằng năm Nguyễn Du rời Thăng Long về quê vợ ở Thái Bình cũng là năm Nguyễn Huệ kéo quân ra Thăng Long lần thứ nhất. Từ đó Nguyễn Du rất ít có dịp trở lại Thăng Long. Nếu như bài ghi chép “Một mối tình hận của tôi” nói về mối tình đầu và những câu lục bát đầu tiên của Nguyễn Du thời đi học ở Thăng Long, thì bài “Long Thành cầm giả ca” chứa đựng nhiều lượng thông tin nhất về mối liên hệ của Nguyễn Du với Thăng Long sau năm 1786. Theo lời Tiểu dẫn cũng như nội dung bài thơ, ta biết được rằng, khoảng năm 1793, từ quê vợ Thái Bình, Nguyễn Du lên Thăng Long thăm anh trai là Nguyễn Nễ trước làm quan trong triều Lê, nay giúp Tây Sơn. Nguyễn Du trọ gần hồ Giám, có chứng kiến cuộc “chơi sang” của quan lính Tây Sơn, xem tiền bạc như bùn đất trong một đêm xem đàn hát. Trong lời tiểu dẫn có một câu: “ Lúc đó tôi nấp trong bóng tối, không thấy rõ lắm”. Là em một ông quan triều Tây Sơn đi xem hát do quân Tây Sơn tổ chức, tại sao Nguyễn Du lại phải nấp trong bóng tổi? Là vì Nguyễn Du không muốn ai nhận ra mình, một người không chấp nhận sự đổi thay của Thăng Long do quân Tây Sơn mang lại. Nguyễn Du dùng hình tượng người gảy đàn ở Long Thành, không chỉ nói về số phận của một người ca kỹ, mà muốn nói sự đổi thay của thời thế, đổi thay của Thăng Long qua các thời kỳ nhà Lê, Tây Sơn rồi nhà Nguyễn với nỗi tiếc nuối, giống như nội dung hai câu Kiều ông từng viết: “ Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.Trong lời Tiểu dẫn, Nguyễn Du còn viết: “ Sau đó vài năm, tôi dời vào nam và từ đó không trở lại Thăng Long nữa”. Ta biết rằng năm 1796, một năm sau khi vợ mất, Nguyễn Du đã đưa con trai tên là Nguyễn Tứ, khi đó mới vài tuổi về Nghi Xuân. Hai chữ “ vào Nam” Nguyễn Du dùng là kể cả thời gian ông sống dưới chân núi Hồng Lĩnh cũng như thời gian làm quan dưới triều Gia Long mà ông ở Phú Xuân hoặc Quảng Bình. Như vậy là đến 20 năm Nguyễn Du không trở lại Thăng Long, kể từ năm 1793 đến năm 1813.


  Khi ở ẩn dưới thời Tây Sơn hay khi làm quan dưới triều Gia Long, Nguyễn Du có lúc coi Thăng Long như nơi xuất phát của mình, dùng Thăng Long để xác định vị trí các nơi ở khác. Ví như sau khi rời Thái Bình về Nghi Xuân, trong bài “ Sơn cư mạn hứng”, ông mở đầu:


Nam khứ Tràng An thiên lý dư


Quần phong thâm xứ dã nhân cư


là ông nói mình trở thành gã nhà quê sống trong núi sâu cách Thăng Long hơn ngàn dặm. Ông chọn Thăng Long làm vật chuẩn là vì ông ra đi từ đó, lòng ông hướng về nơi ấy. Nhưng nhiều khi ông nghĩ về Thăng Long như một sự thất thế, một nỗi cảm thương. Sáu năm sống ở Tiên Điền, có khi ông ngồi lặng bến bến Giang Đình nhớ quá khứ vàng son, nhắc lại chuyện khi ông mới sáu tuổi theo cha từ Thăng Long về quê nghỉ hưu, cập bến này:


Về hưu ngày ấy cha ta


Xe bồ, ngựa tứ đã qua bến này


Thuyền kích nước tựa rồng quây


Lọng như hạc báo điềm hay giữa trời…


  Nhưng đó là quá khư gần ba mươi năm trước, còn hiện tại thật đáng buồn, ông buồn cho mình và buồn cho đổi thay của Thăng Long:


Từ khi xiêm áo hết thời


Khói trên ngọn cỏ ngậm ngùi bờ sông


Trăm năm bao chuyện đau lòng


Tràng An ngày trước nay không còn gì.


                                    (Giang Đình hữu cảm)


  Đó là ông nói về Thăng Long dưới thời Tây Sơn, còn khi Gia Long lên ngôi, kinh đô chuyển vào Phú Xuân, Thăng Long đâu còn như xưa nữa, ngay ý nghĩa hai chữ Thăng Long cũng đã đổi khác: thịnh vượng chứ không phải rồng bay. Trong thời gian làm quan cho nhà Nguyễn ở Phú Xuân, ở bài “Ngẫu Hứng”, Nguyễn Du viết:


Hữu nhất nhân yên lương khả ai


Phá y, tàn lạp sắc như hôi


Tỵ nhân đản mịch đạo bàng tẩu


Tri thị Thăng Long thành lý lai.


Dịch thơ:


Ai kia trông đáng thương thay


Nón cời, áo rách, mặt mày tái xanh


Tránh người, vệ cỏ bước dành


Chắc là mới đến từ thành Thăng Long.


Ở Huế, thấy một người thất thế, rách rưới, đáng thương, đi đường thì dạt vào vệ cỏ tránh người, Nguyễn Du đoán người ấy từ Thăng Long mới vào, chứng tỏ trong ý nghĩ của Đại thi hào thời ông làm quan cho nhà Nguyễn thì Thăng Long biểu tượng cho sự thất thế đáng thương.


  Và đúng thế thật, khi Gia Long lên ngôi, chuyến kinh đô vào Phú Xuân, ông cho xây dựng thay đổi diện mạo Thăng Long, mà năm 1813, trên đường đi sứ Trung Quốc, Nguyễn Du đã ghé thăm và ghi nhận:


Thành quách suy di, nhân sự cải


Kỷ xứ tang điền biến thương hải


( Thành quách đổi dời, việc người cũng khác, bao nhiêu nương dâu đã thành bãi biển)


Và cũng trong dịp này, Nguyễn Du sáng tác bài thơ Thăng Long, một tác phẩm thể hiện rõ tình yêu và sự nuối tiếc của nhà thơ đối với kinh đô cũ. Bài thơ mở đầu:


Tản Lĩnh, Lô Giang tuế tuế đồng


Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long


Núi Tản sông Lô bao nhiêu năm vẫn thế. Đầu bạc rồi mà còn được thấy Thăng Long. Ở đây không phải tác giả than vãn vì gặp lại Thăng Long quá muộn, khi mái đầu đã bạc, mà ngược lại tác giả tỏ rõ nỗi mừng, một sự may mắn được thấy lại Thăng Long, vì bao nhiêu năm nghĩ rằng cơ hội đó không còn nữa. Như trên đã nói, Nguyễn Du rời Thăng Long năm 1786 để về quê vợ Thái Bình, khoảng năm 1793 nhà thơ có lên thăm người anh ở bên hồ Giám. Như vậy là đã hai mươi năm ông không có dịp thăm Thăng Long, kể cả năm 1802 ra làm quan cho Gia Long được nhậm chức tri huyện Phù Dung ( Khoái Châu) và tri phủ Thường Tín và mùa đông năm 1803 được cử đi tiếp sứ nhà Thanh ở Lạng Sơn. Thế thì thời gian làm quan ở Phú Xuân và Quảng Bình, làm sao ông còn hy vọng gặp lại Thăng Long nữa nếu như năm 1813 không có dịp được triều đình cử đi sứ Trung Quốc và được Tuyên phủ Thăng Long mở tiệc tiễn. Đối với Nguyễn Du bữa tiệc tiễn đó càng thêm buồn vì gặp lại người đánh đàn ngày xưa, làm ông “bồi hồi không  yên, ngửng lên, cúi xuống, ngậm ngùi cho cảnh xưa nay…”. Bên cạnh nỗi buồn cho sự đổi thay thời thế, buồn cho kiếp người, ông còn buồn vì sự thay đổi của bản thân Thăng Long:


Thiên niên cự thất thành quan đạo


Nhất phiến tân thành một cố cung


(Những ngôi nhà đồ sộ nghìn xưa thành đường cái. Dải thành mới làm mất dấu vết cung điện xưa). “Tân thành” tức thành mới mà Nguyễn Du nhắc tới chính cái thành mà Gia Long cho xây vào năm 1805, nhỏ hơn thành cũ và nằm ngay chỗ cung điện thời nhà Lê. Đó là đổi thay của vật thể, còn văn hoá phi vật thể thì:“Quản huyền nhất biến tạp tân thanh”, nghĩa là tiếng sáo, tiếng đàn cũng khác, có nhiều âm thanh mới pha tạp”. Với các từ “một cố cung” và “tạp tân thanh” thể hiện thái độ của Nguyễn Du luyến tiếc những cái Thăng Long vốn có từ xưa, những thứ ông đã lưu giữ trong ký ức từ thời trai trẻ và không muốn chấp nhận cái mới do thời Gia Long mang lại.


   Nguyễn Du sinh ra, lớn lên ở Thăng Long, tiếp nhận nền văn hoá Thăng Long, đồng thời ngôn ngữ  kinh đô, ngôn ngữ phổ thông thấm đẫm trong tiềm thức của ông, chứ không phải là văn hoá, ngôn ngữ của riêng một vùng miền nào. Theo tôi, nhận định này hết sức quan trọng trong quá trình nghiêm cứu, tìm hiểu các tác phẩm của đại thi hào, đồng thời góp phần cho phép chúng ta loại bỏ những tác phẩm vốn không phải của Nguyễn Du mà một thời đã ngộ nhận. Cách đây ba năm tôi có công bố bài nghiên cứu nhan đề “ Nguyễn Du không như thế” để chứng minh rằng “ Văn tế sống hai o gái Trường Lưu” là không phải của Nguyễn Du. Lập luận của tôi tóm tắt như sau:


-          Văn tế sống hai o gái Trường Lưu xa lạ với lòng nhân ái và văn phong của Nguyễn Du.


-          Cách dùng từ địa phương xa lạ với Nguyễn Du.


-          Không có thời điểm nào để Nguyễn Du viết bài văn tế đó…


 Trong bài viết về mối quan hệ của kinh đô Thăng Long với Nguyễn Du này, tôi muốn nhắc lại một số ý trong luận điểm thứ hai, tức là cách dùng tiếng địa phương trong Văn tế sống hai o gái Trường Lưu xa lạ với Nguyễn Du, một người tuy quê ở Hà Tĩnh nhưng sinh ra, lớn lên, đi học ở Thăng Long. Nguyễn Du tuy có biết tiếng địa phương Nghệ Tĩnh nhưng sử dụng theo cách của người hàng ngày dùng tiếng phổ thông, chỉ điểm xuyết vào tác phẩm của mình một đôi tiếng địa phương khi thật cần thiết. Điều này đã thể hiện khá rõ trong những tác phẩm cuả ông. Truyện Kiều dài 3254 câu nhưng tiếng địa phương chỉ sử dung dăm lần . “Văn tế thập loại chúng sinh” dài 184 câu mà hầu như không có tiếng địa phương nào. “Thác lới trai phường nón” là Nguyễn Du mượn lời các chàng trai phường nón Tiên Điền để tỏ tình với các cô gái Trường Lưu, thế mà tiếng địa phương cũng chỉ vài ba từ. Còn “Văn tế sống hai o gái Trường Lưu” thì tiếng địa phương nhan nhản, thiếu chọn lọc, làm cho ngay những người quê Nghệ Tĩnh đọc cũng khó chịu, nói chi người các địa phương khác. Những câu như: “ Thương chắc nỏ lấy được chắc, làng nước hục hặc,nỏ lấy được chắc, chúng bạn ta như nghé sổ ràn…” thừa tiếng Nghệ mà thiếu chất văn, xuất hiện khắp nơi trong bài văn tế này. Với tài năng bẩm sinh của mình, lại được sinh ra và lớn lên ở Thăng Long, Nguyễn Du ý thức được mình là nhà thơ của cả nước, thậm chí của nhân loại, nên không bao giờ dùng từ ngữ như thế để kéo mình là một trong năm nhà thơ lớn nhất lúc bấy giờ ( An Nam ngũ tuyệt) về trình độ câu lạc bộ thơ phường xã! Đây không thể là văn của Đại thi hào, một người bậc thầy về nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Ngôn ngữ của bài văn tế này chứng tỏ tác giả của nó khi viết bài văn này là người chưa có dịp bước ra khỏi cùng quê Nghệ Tĩnh, chứ nhất thiết không phải của Nguyễn Du, một người sinh ra và lớn lên ở Thăng Long.


   Với lòng ngưỡng mộ Đại thi hào Nguyễn Du, tôi muốn được các nhà Nguyễn Du học, đặc biệt là các giáo sư từng nghiên cứu phong cách và thi pháp của Nguyễn Du lưu tâm vấn đề này để sớm có kết luận chính thức, giải thoát cho Nguyễn Du khỏi phải đứng tên một tác phẩm thiếu chất nhân văn, nghệ thuật xoàng xĩnh, xa lạ với với văn phong của Đại thi hào.                                      


                                                                                                       


 


  (còn tiếp)


Nguồn:  Truyện Kiều – Nguyễn Du: Ở trong còn lắm điều hay. Khảo luận, Trao đổi của Vương Trọng. NXB Hội Nhà văn, 2018. Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thi cử và giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc (P1&2) - Trần Bích San 23.06.2018
Nguyễn Phúc Tần - Chúa Hiền - Hiền Vương - Tư liệu 21.06.2018
Chế Lan Viên với ba bài thơ phê phán sâu sắc - Phạm Ngọc Thái 20.06.2018
Trung Quốc đang thôn tính châu Âu ra sao? (P1) - Nhiều tác giả 20.06.2018
Bất đồng chính kiến, sự thật, và sự tan rã của Liên Xô - Gal Beckerman 19.06.2018
Chính quyền Bolshevik và bộ máy chính quyền cũ - Anne O’Donnell 19.06.2018
Tết Đoan Ngọ - ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch - Tư liệu 17.06.2018
Dự thảo Luật Đặc Khu kinh tế - Tư liệu 14.06.2018
Người Trung Quốc gom sạch đất ngay sân bay quân sự Nước Mặn - Đà Nẵng - Tư liệu 14.06.2018
Về tác phẩm Trại súc vật - George Orwell 13.06.2018
xem thêm »