tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20783409
26.09.2017
Nhiều tác giả
V. I. Lenin có phải gián điệp Đức?!



Bao cao su Đức đã tài trợ cho Cách mạng Nga ra sao?


Posted on 26/09/2017 by The Observer


Nguồn: Catherine Merridale, “How German Condoms Funded the Russian Revolution”, The New York Times, 17/07/2017.


Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng


Cái tên Vladimir Ilyich Lenin thường không liên quan đến những băng nhóm buôn lậu chợ đen hay trục lợi trong thời chiến. Là một người nổi tiếng đứng đắn, ông không có gen cho các phi vụ lăng nhăng. Tuy nhiên, các hoạt động tội phạm và đầu cơ đã giúp tài trợ các hoạt động của ông vào năm 1917. Một khoản tiền lớn mà Lenin cần để chuẩn bị cho Đại Cách mạng Xã hội Chủ nghĩa Tháng Mười đã được chuyển qua một công ty xuất nhập khẩu chuyên buôn lậu dược phẩm, bút chì, và bao cao su của Đức.


Câu chuyện bắt đầu ở Thụy Sĩ, nơi Lenin, vốn đang lưu vong khỏi nước Nga, đã sinh sống kể từ khi Thế chiến I bùng nổ. Tháng 03/1917, tin về cách mạng ở Petrograd đã đến Zurich. Là lãnh đạo của phe Bolshevik, đảng xã hội chủ nghĩa cấp tiến nhất của Nga, nhiệm vụ của ông là quay trở lại Nga ngay lập tức. Vấn đề là không có con đường nào an toàn: việc Lenin kêu gọi biến chiến tranh châu Âu thành cuộc cách mạng chống lại giai cấp tư sản đã khiến người Pháp và người Anh không ưa nổi ông, nên nếu đi về hướng tây, Lenin có thể bị giam giữ mà không cần xét xử. Nhưng đi về hướng bắc, qua Đức, lại đồng nghĩa là băng qua vùng đất thuộc về kẻ thù của nước ông. Ông có thể bị bắt hoặc bị xử tội phản quốc khi về đến quê nhà.


Phải mất hơn một tuần đàm phán để tìm ra câu trả lời. Chính phủ Đức đã đồng ý cho Lenin một hành trình an toàn đến vùng Biển Baltic, hộ tống ông trong một chuyến xe lửa đặc biệt với những cánh cửa bị khóa. Về mặt pháp lý, Lenin sau đó giải thích, toa xe lửa chỉ như là một “thực thể ngoại địa,” như một khoang kín băng qua đất Đức mà không tiếp xúc với công dân Đức, những kẻ thù hay gián điệp tiềm tàng. Tuy nhiên, khi con tàu di chuyển gần về phía bờ biển, nó đã nhanh chóng được gọi là “con tàu bị niêm phong”.


Không có gì bí mật về cuộc hành trình này. Lenin đã mong chờ sự chấp thuận từ bất kỳ nhân vật của công chúng nào mà ông có thể tìm được. Vào phút chót, nhằm tìm kiếm sự hỗ trợ của quốc tế, ông thậm chí còn gọi cho Văn phòng Đại diện của Mỹ đặt tại Bern, Thụy Sĩ. Đó là một ngày chủ nhật, và chàng thanh niên trực ban đang chuẩn bị rời đi chơi quần vợt. “Vui lòng gọi lại vào ngày mai,” anh nói với vị chủ nhân tương lai của Điện Kremlin. Trong những năm sau đó, khi chàng thanh niên Allen Dulles trở thành người đứng đầu của C.I.A., ông vẫn thường nhắc đi nhắc lại câu chuyện về cuộc gọi đó.


Lenin không cần vàng của Hoàng đế Đức để về nhà. Ông đã tự trả tiền vé (hạng hai) của mình. Nhưng nghi vấn bắt đầu xuất hiện ngay khi ông đến Petrograd. Lập tức giành quyền lãnh đạo đảng, Lenin nhấn mạnh một chương trình nghị sự bác bỏ tất cả các cuộc chiến tranh đế quốc. Sự phản đối của ông đối với chính phủ lâm thời, một nội các tạm thời gồm các nhà tự do và các doanh nhân đang cố gắng đưa nước Nga vào một cuộc chiến tranh như vậy, đã gây ra mối nghi ngờ rằng ông là gián điệp của Đức.


Người Pháp nói rằng họ có thể có bằng chứng. Được khích lệ bởi niềm hy vọng đó, một đại tá Nga tên Boris Nikitin đã được giao trọng trách điều tra. Ông đã phái một điệp viên đi theo dõi việc sử dụng điện báo của phe Bolsheviks và trả tiền cho mọi tin đồn bất kể đúng hay sai. Nikitin làm việc toàn thời gian, nhưng văn phòng duy nhất có sẵn cho ông lại nằm trong một tòa nhà đã có nhiều người tình nghi là Bolshevik đang làm việc. Viên đại tá không chỉ cảm thấy bị theo dõi, mà tất cả các cửa sổ của ông khi mở ra đều thấy những lá cờ đỏ rực bay phấp phới.


Trong khi đó, chính phủ lâm thời vẫn tiếp tục tiến hành chiến tranh. Cuối tháng 6, họ đã phát động cuộc tấn công trên mặt trận Galicia. Mặc dù được tung hô là chiến dịch thực hiện bởi quân đội non trẻ của một quốc gia mới được tự do, nhưng nó đã thất bại chỉ trong vòng ba ngày. Những rối loạn quy mô lớn đã xảy ra ở Petrograd, đi kèm với giao tranh trên đường phố – giữa các băng đảng cánh hữu và cánh tả, cờ đen và các biểu ngữ xã hội chủ nghĩa, hoảng loạn, bắn giết và dân thường thiệt mạng. Còn có cả những tin đồn mới về một cuộc đảo chính.


Trong tuyệt vọng, Pavel Pereverzev, Bộ trưởng Tư pháp, đã cố gắng đem những người Bolshevik làm vật tế thần cho hoàn cảnh khó khăn của nước Nga. Bằng chứng của ông không đủ thuyết phục (ông đã nhanh chóng bị yêu cầu từ chức), nhưng ý tưởng rằng Lenin là gián điệp cho người Đức đã khởi đầu một chiến dịch truy lùng. Khi Petrograd rơi vào tình trạng hỗn loạn, “bọn côn đồ” làm việc cho chính phủ đã lục soát văn phòng tòa soạn tờ báo của phe Bolshevik, tờ Pravda. Một số nhà cách mạng hàng đầu đã bị bỏ tù, trong đó có Leon Trotsky. Cạo sạch râu và ngụy trang bằng một bộ tóc giả, Lenin đã trốn khỏi thủ đô Nga trong nỗi sợ bị mất mạng. Tháng 8, sau khi thu thập thêm nhiều lời khai, chính phủ lâm thời đã tuyên án vắng mặt ông.


Vụ án chống lại Lenin luôn thiếu chứng cứ. Bằng chứng của Pereverzev, liên quan đến một hợp đồng mà Lenin bị cáo buộc đã ký tại Berlin ở thời điểm một năm trước, hóa ra lại là sự bịa đặt của một tù binh chiến tranh trốn trại. Báo chí thậm chí còn thêu dệt nhiều câu chuyện, chẳng hạn: em gái của Lenin là gián điệp ở Salonica, Lenin đã bị sát hại, tên thật của Lenin là Mytenbladm hay Zederbluhm. Nhiều năm sau, Trotsky nhớ lại tháng 07/1917 là “tháng của nhiều vu khống nhất trong lịch sử thế giới”.


Trên thực tế, Lenin vẫn sống. Ông đã sử dụng thời gian ở Phần Lan để đưa ra các kế hoạch mới, đầy tham vọng. Giữa tháng 9, ông cảm thấy mình đủ bạo dạn để trở lại Nga và tiếp tục cuộc chiến, lần này để chuẩn bị cho các phụ tá của mình ở Bolshevik lên chiếm quyền. Chiến dịch này đã diễn ra vào ngày 07/11, và cùng ngày đó, các đường phố của Petrograd đã đầy những tờ truyền đơn tuyên bố chiến thắng của chế độ Liên Xô mới của Lenin.


Nhưng những câu hỏi về tài chính luôn có cách để ám ảnh những nhân vật vĩ đại của lịch sử. Lenin đã trông chờ vào sự bí mật, nhưng người Đức đã khiến ông thất vọng. Cuối năm 1917, Ngoại trưởng Đức, Richard von Kühlmann, đã lên tiếng về vai trò của đất nước mình trong cuộc đảo chính Bolshevik vào tháng 11. Ông nói, Berlin từ lâu đã dự định lật đổ chính phủ Nga. Thách thức là tìm một người có thể làm việc này. Người Đức đã ủng hộ một loạt nhân vật, từ những người Phần Lan theo chủ nghĩa dân tộc đến những người Trung Á theo chủ nghĩa thánh chiến. Kuhlmann đã giải thích thẳng thắn trong một bản ghi nhớ rằng, “Phải đến khi Bolshevik nhận được từ chúng tôi một dòng tiền ổn định thông qua các kênh khác nhau thì họ mới có thể xây dựng được tổ chức quan trọng nhất của họ, Pravda, nhằm tiến hành các chiến dịch tuyên truyền và mở rộng cơ sở mà ban đầu vẫn còn hạn hẹp của họ”.


Lenin rất thận trọng trong giao dịch ngân hàng. Ông quả quyết rằng mình đã từ chối mọi điệp viên mà người Đức gửi tới gặp ông. Ông khẳng định (một cách đúng đắn) rằng đảng của ông đã chiến thắng bằng cách định hình niềm đam mê thực sự và thất vọng. Tuy nhiên, tiền mặt là điều thiết yếu. Mùa hè năm 1917, người Anh ước tính rằng sẽ phải mất 2 triệu bảng mỗi tháng để thực hiện được chương trình tuyên truyền đủ ứng phó với các nỗ lực tuyên truyền của Lenin. Cái giá cao này một phần là do sự hấp dẫn chân thực của chủ nghĩa Bolshevisk (khiến việc tuyên truyền chống lại nó khó khăn hơn – NBT), nhưng ngay cả Lenin cũng biết rằng báo chí và áp phích, bản thân chúng chẳng thể tự in ra và tự phân phát.


Đó là khi mà bao cao su và bút chì xuất hiện. Lenin không thể chịu rủi ro nhận hối lộ trực tiếp, nhưng sẽ dễ dàng hơn khi Berlin cung cấp cho các nhân viên của Lenin các loại hàng hóa và sau đó quên gửi hóa đơn. Hàng hoá được xuất khẩu sang Đan Mạch (hoàn toàn hợp pháp), bao bì sau đó bị thay đổi (bất hợp pháp), và rồi được bán lại cho các quốc gia cấm nhập khẩu từ Đức. Một phần lợi nhuận đã đổ vào ngân khố của phe Bolshevik thông qua các doanh nghiệp ở Stockholm. Nhân tố quan trọng ở đây là Yakov Fürstenberg, quản lý một công ty xuất nhập khẩu có trụ sở tại Scandinavia, người mà các giám đốc của ông, Alexander Helphand và Georg Sklarz, là các điệp viên của Đức. Dù Lenin đã công khai khinh thường Helphand, nhưng Fürstenberg là một trong những đầu mối liên lạc gần gũi nhất của ông – một tay trung gian của ông ở Bắc Âu.


“Lenin đã trở về Nga thành công,” trưởng cơ quan gián điệp của Đức tại Stockholm đã báo cáo với các ông chủ của mình vào tháng 04/1917. “Ông ta đang làm chính xác những gì chúng ta mong muốn”. Nhưng Lenin mới là người chiến thắng trong ván bài cuối cùng. Hoàng đế Đức và các bộ trưởng của ông đã bị đánh bại, nhưng đế chế của Lenin thì ngày càng mạnh hơn. Đúng như lời ông từng nói hồi vài năm trước: “Đôi khi một tay ma mãnh lại hữu ích cho đảng của chúng ta chính xác bởi vì hắn là một tay ma mãnh”.


Catherine Merridale là một nhà nghiên cứu lịch sử và là tác giả của cuốn sách gần đây nhất “Lenin on the Train”.


Lenin có phải là gián điệp của Đức?


Nguồn: Sean Mcmeekin, “Was Lenin a German Agent?”, The New York Times, 19/06/2017.


Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng


Ngày 16/04/1917, sau gần hai thập niên sống lưu vong ở nước ngoài, Vladimir Ulyanov, nhà cách mạng Nga thường được biết đến với bí danh Lenin, đã đến Ga Phần Lan của thành phố St. Petersburg sau một hành trình vòng vèo từ Thụy Sĩ. Ông đã ngay lập tức có một bài phát biểu mạnh mẽ và một chương trình chính trị cấp tiến gọi là “Luận cương Tháng Tư” (April Theses). Nước Nga, thế giới, và chính trị sẽ chẳng còn như trước.


Mối liên hệ của Lenin với Đức


Do Lenin đã trở về Nga qua ngả Đức – và rõ ràng là có sự hợp tác từ Bộ Tư lệnh Tối cao Đức, vốn khi ấy đang chiến đấu chống lại Nga và phe Hiệp ước (Pháp, Anh và, từ ngày 06/04, Mỹ) – các đối thủ của ông đã cáo buộc rằng Lenin là gián điệp của Đức, một cáo buộc vẫn còn gây tranh cãi cho đến ngày nay.


Nếu có thể chứng minh được rằng Lenin đã hành động thay mặt cho Chính phủ Hoàng gia Đức vào năm 1917, chúng ta sẽ thu được các hàm ý sâu sắc hơn về Cách mạng Tháng Mười và về chế độ cộng sản Liên Xô sinh ra từ cuộc cách mạng đó và kéo dài đến năm 1991. Điều này sẽ tương đương với một chiến dịch gián điệp gây ảnh hưởng lớn nhất mọi thời đại, khiến cho mọi quan ngại trong hiện tại về sự can thiệp của Nga vào các cuộc bầu cử ở phương Tây, bao gồm cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm ngoái, trở thành quá nhỏ bé nếu so sánh với chiến dịch đó. Liệu điều đó có đúng hay không?


Theo nghĩa nào đó, không có gì đặc biệt mới về một âm mưu của Đức nhằm phá hoại chính phủ của kẻ thù trong thời chiến. Suốt nhiều thế kỷ, các cường quốc đều đã từng chơi trò này. Trong Chiến tranh Napoléon, Pháp đã giúp đỡ quân Ireland nổi dậy để làm suy yếu nước Anh, và giúp những người Ba Lan theo chủ nghĩa dân tộc chống lại Nga. Còn Anh lại ủng hộ các du kích Tây Ban Nha chống lại lực lượng chiếm đóng của Pháp. Và dù là những kẻ đến sau trên chiến trường, người Đức đã biết học theo rất nhanh sau khi nước Đức thống nhất năm 1871. Họ thậm chí còn đặt ra một thuật ngữ cho hoạt động này: “Revolutionierungspolitik,” hay chính sách cách mạng hoá.


Trong Thế chiến I, nếu chính phủ Anh hoặc Pháp yếu hơn, họ có lẽ đã bị những “Lenin” khác làm suy yếu. Thực ra, Đức cũng đã nhắm tới họ, dù sự hỗ trợ của Đức đối với các nhà dân tộc chủ nghĩa Ireland và những người chủ trương hòa bình ở Pháp là không lớn.


Nước Nga, từ lâu đã luôn gặp rắc rối với các cuộc nổi dậy của công nhân và nông dân, là một mắt xích yếu của phe Hiệp ước, và cũng không ngạc nhiên khi người Đức đã nỗ lực rất nhiều để phá hoại chính quyền Sa hoàng. Với chủ trương ủng hộ mọi nhóm cách mạng Nga, Đức không chỉ hỗ trợ cho đảng Bolshevik của Lenin, mà còn cho cả các đối thủ xã hội chủ nghĩa của ông như Leon Trotsky, khi đó là một người Menshevik, người đã xuất bản các bài báo chống chiến tranh ở Paris và sau đó là New York.


Tầm quan trọng của Lenin


Dù Lenin không phải là người duy nhất nhận được sự hỗ trợ từ Đức, nhưng ông vẫn là người quan trọng nhất. Dù hầu hết mọi người ngày nay nghĩ rằng Chủ nghĩa Cộng sản là một chương trình Marxist chủ trương bãi bỏ quyền tư hữu, áp dụng quyền sở hữu nhà nước đối với các phương tiện sản xuất và kinh tế kế hoạch hóa, nhưng không phải chương trình được các nhà Marxist châu Âu ủng hộ này là điều đã đưa Lenin đến với Chính phủ Hoàng gia Đức.


Điều làm Lenin khác biệt với những nhà xã hội chủ nghĩa người Nga khác là việc ông nhiệt liệt phản đối chiến tranh, đồng thời ủng hộ Ukraine giành độc lập, vốn là một mục tiêu chính của phe Liên minh Trung tâm. Trong khi các nhà xã hội chủ nghĩa chống chiến tranh khác như Trotsky thực sự ghét việc chém giết và cố gắng để ngăn chặn cuộc chiến bằng cách ủng hộ biểu tình và tổ chức kháng chiến, Lenin lại lập luận trong bài luận “Chủ nghĩa Xã hội và Chiến tranh” (Socialism and War, 1915) rằng các nhà cách mạng nên thâm nhập vào quân đội và biến họ trở thành người cộng sản, kích động bạo loạn và chủ động gây thất bại cho chính quyền của họ”.


Tác động từ của chương trình của Lenin, được gọi là tư tưởng “chủ bại cách mạng” (revolutionary defeatism), lớn đến mức Bộ Ngoại giao Đức đã can thiệp để ngăn chặn phát tán chương trình này cho những người lính ở tiền tuyến, sợ rằng nó sẽ khiến chính phủ Sa hoàng bắt giữ các thành viên đảng Bolshevik vì tội phản quốc. Vì những lý do tương tự, Berlin đã tạo ra một vụ lùm xùm xung quanh hành trình của Lenin trên đất Đức, đó là câu chuyện nổi tiếng về đoàn tàu được niêm phong – một huyền thoại cho Lenin, đồng thời cũng giúp Lenin bác bỏ sự bảo trợ của Đức. Thực ra, đoàn tàu không hề được niêm phong: Lenin đã lên xuống vài lần, và ở lại qua đêm trong một khách sạn của Đức tại Sassnitz. Theo các nhân chứng, Lenin thậm chí còn có những bài phát biểu chính trị trên đất Đức tại các trại tù binh chiến tranh người Nga.


Lenin cũng không che giấu quan điểm chống chiến tranh của mình sau khi trở về Nga. “Luận cương Tháng Tư” ủng hộ lật đổ chính phủ lâm thời, vốn lên nắm quyền sau cuộc Cách mạng tháng Hai. Trong cuộc đảo chính Những Ngày Tháng Tư, xảy ra hai tuần sau khi Lenin trở về, các thành viên Bolshevik đã cầm những tấm áp phích chống chiến tranh, trên đó kêu gọi đoàn kết với kẻ thù (“Người Đức là anh em của chúng ta”).


Sau âm mưu đảo chính thứ hai, được gọi là Những Ngày Tháng Bảy, Lenin và 10 người Bolshevik khác bị buộc tội “phản bội và nổi dậy có vũ trang”. Hàng loạt nhân chứng đã đưa ra lời khai về: việc chuyển tiền từ Stockholm, rửa tiền thông qua một doanh nghiệp nhập khẩu của Đức, việc Đức tài trợ cho tờ báo Pravda của Bolshevik (bao gồm cả các phiên bản dành cho quân đội tiền tuyến), về mức trợ cấp khi họ cầm áp phích Bolshevik trong các cuộc biểu tình đường phố (10 rúp) hoặc tham gia chiến đấu trong Hồng Quân (40 rúp/ngày). Trong khi Lenin trốn sang Phần Lan, phần lớn các đồng đội của ông đã bị bắt. Tình hình đã sẵn sàng để chuẩn bị cho một phiên tòa lớn.


Nhưng nó đã không xảy ra. Vào cuối tháng 08/1917, khi cáo buộc của chính phủ lâm thời được minh chứng nhờ lời khai của các nhân viên cảnh sát đột nhập vào trụ sở của Lenin, thủ tướng Alexander Kerensky đã ân xá cho hầu hết các phần tử Bolshevik bị bắt (ngoại trừ Lenin) để lôi kéo họ chống lại một vị tướng, Lavr Kornilov, người mà Kerensky tin là đang mưu toan một cuộc đảo chính quân sự cánh hữu. Trong một động thái thiếu cân nhắc, Kerensky đã cho phép tổ chức quân sự Bolshevik được tái vũ trang, nên họ đã có được thứ vũ khí mà họ sẽ dùng để lật đổ ông hai tháng sau đó.


Gián điệp của Đức?


Lenin, với những tờ lệnh truy nã lan tràn trên toàn nước Nga vào đêm trước Cách mạng Tháng Mười, đã không bỏ lỡ cơ hội của mình. Khi lên nắm quyền, thay vì cẩn trọng trong quan hệ với những người bảo trợ Đức, một trong những hành động đầu tiên của ông là gửi một bức điện đến trụ sở quân đội Đức ở mặt trận phía đông, đề nghị một lệnh ngưng bắn vô điều kiện. Khi các điều khoản khắc nghiệt của Hiệp ước Brest-Litovsk được công bố tại Cung điện Tauride ở Petrograd vào năm 1918 – bao gồm việc tách Ukraine và các quốc gia vùng Baltic khỏi Nga – Lenin đã được ‘chào đón’ trong tiếng la ó “Đả đảo tên phản bội”, “Judas!” và “Tên gián điệp Đức!”


Vậy Lenin có phải là gián điệp của Đức?


Trong suy nghĩ của ông, Lenin có thể và đã biện minh rằng những hành động của mình là các bước đi chiến thuật nhằm phục vụ mục đích cao hơn của Chủ nghĩa Cộng sản, chứ không phải phục vụ các mục tiêu chiến tranh tàn nhẫn của Chính phủ Hoàng gia Đức. Nghe cũng có lý. Nhưng thật khó để tưởng tượng được lời biện minh này lại có thể được bảo vệ ở một phiên toà với bồi thẩm đoàn gồm những thường dân Nga trong khi ngoài kia cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn. Các chứng cứ do Bộ Tư pháp của Kerensky thu thập, hầu hết trong số đó gần đây đã được phát hiện trong các kho lưu trữ của Nga, đều buộc tội Lenin. Cho dù ý định thực sự của Lenin là gì đi chăng nữa, thì không thể chối cãi rằng ông đã nhận được sự hỗ trợ hậu cần và tài chính từ Đức vào năm 1917, và các hành động của ông, từ việc kích động phản chiến trong quân đội Nga, cho đến yêu cầu ngừng bắn vô điều kiện, đều đã phục vụ cho lợi ích của các kẻ thù thời chiến của Nga tại Berlin. Các hành động này cũng gây ra những hậu quả thảm khốc cho chính nước Nga, từ sự chia cắt lãnh thổ vào năm 1918 cho tới hàng thập niên đau đớn dưới chế độ độc tài Bolshevik.


Cách mạng Nga đã mở đầu một kỷ nguyên mới cho các chiến dịch gây ảnh hưởng ở nước ngoài. Chính Lenin đã giúp thành lập Quốc tế Cộng sản, mà gần một phần tư thế kỷ sau đó đã luôn cố gắng lật đổ các chính phủ tư bản trên toàn thế giới. Đức Quốc xã đã chơi một trò chơi tương tự ở Áo và Tiệp Khắc năm 1938, chỉ để rồi từ bỏ lớp vỏ gây ảnh hưởng của mình mà theo đuổi vũ lực thẳng thừng, khi cùng với Hồng Quân Liên Xô từ phía đông, họ xâm chiếm Ba Lan từ phía tây vào năm 1939. Trong Chiến tranh Lạnh, Liên Xô và Mỹ đã biến Revolutionierungspolitik thành một loại nghệ thuật, cố gắng làm suy yếu các đồng minh và các quốc gia vệ tinh của nhau bằng mọi thủ đoạn phá hoại ngầm và lật đổ.


Bối cảnh ngày nay


Ngày nay, có vẻ như một thời kỳ Chiến tranh Lạnh mới đã xuất hiện, mặc dù với một ý thức hệ khác, khi Điện Kremlin thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc dân túy ở châu Âu và Mỹ, cho dù các nhà lãnh đạo phương Tây và các nhà hoạt động dân chủ vận động chống lại Nga và các chế độ thân Putin, như Viktor Orban ở Hungary – những chế độ sau đó đàn áp các nhà hoạt động xã hội với lý do họ là “gián điệp cho nước ngoài”. Revolutionierungspolitik đã xuất hiện trên toàn cầu.


Trước khi chúng ta hoảng loạn, tốt hơn là nên cân nhắc về sự khác biệt trong mức độ, và hình thức, của hoạt động gây ảnh hưởng ở nước ngoài hiện tại so với trong quá khứ. Việc bóp méo thông tin của các phương tiện truyền thông nhà nước, các ứng dụng trực tuyến và những trò đùa trên Twitter là một sự phiền toái nghiêm trọng, lợi dụng sự cởi mở của các xã hội phương Tây để làm suy yếu niềm tin vào các thể chế dân chủ; tấn công qua mạng và hacker đang ngày càng nghiêm trọng. Về phần mình, Putin và những người bảo vệ ông lại tố cáo các can thiệp chính trị từ bên ngoài, ở những nơi như Ukraine, tuyên bố rằng các động thái của Nga chỉ là để phản ứng trước sự can thiệp của phương Tây.


Tuy nhiên, không có hoạt động gây ảnh hưởng nào lại có thể đem ra so sánh, về quy mô hoặc ảnh hưởng địa chính trị, với việc Đức chơi lá bài Lenin, hay những gì mà Mỹ và Liên Xô đã làm trong Chiến tranh Lạnh. Không giống như nước Nga vào năm 1917, chính quyền của các cường quốc hiện đại, dù là ở Washington, Paris, Berlin hay Moskva, đều quá bảo thủ để trở thành nạn nhân của một Lenin khác. Chúng ta hãy hy vọng là vậy!


Sean McMeekin, Giáo sư Lịch sử tại Đại học Bard, là tác giả của cuốn The Russian Revolution: A New History.


Cách mạng Tháng Hai và cơ hội bị Kerensky bỏ lỡ


Posted on 01/08/2017 by The Observer


Nguồn: John Quiggin, The February Revolution and Kerensky’s Missed Opportunity, The New York Times, 06/03/2017.


Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng


Cách mạng Tháng Hai là một trong những khoảnh khắc “giá như” lớn nhất của lịch sử. Nếu cuộc cách mạng này – xảy ra vào đầu tháng 03/1917 theo lịch Gregory của phương Tây (mà Liên Xô sau này mới sử dụng) – thành công trong việc tạo ra một nền dân chủ lập hiến thay thế cho đế chế của Sa hoàng, đúng như kỳ vọng của các nhà lãnh đạo nó, thì có lẽ thế giới đã trở thành một nơi rất khác.


Nếu người lãnh đạo chính phủ lâm thời, Aleksandr Kerensky, biết nắm lấy cơ hội từ cuộc bỏ phiếu ở Nghị viện Đức (Reichstag), mà hiện nay đã bị quên lãng, thì có lẽ Thế chiến I đã kết thúc trước khi quân Mỹ tiến vào châu Âu. Trong phiên bản lịch sử thay thế đó, Lenin và Stalin sẽ chỉ là những nhân vật bên lề, và Hitler sẽ chẳng thể làm gì khác ngoài một họa sĩ thất bại.


Tính đến tháng 02/1917, sau hơn hai năm chiến tranh đẫm máu và vô nghĩa, sáu triệu lính Nga đã chết, bị thương hoặc mất tích. Cảnh thiếu thốn ngày một tăng lên. Khi chính quyền của Sa hoàng Nicholas II thông báo về việc phân chia khẩu phần bánh mì, hàng chục ngàn người biểu tình, rất nhiều trong số đó là phụ nữ, đã ngập tràn các đường phố của St. Petersburg. Đình công nổ ra khắp đất nước. Sa hoàng đã cố gắng đàn áp biểu tình bằng bạo lực, nhưng những lời hiệu triệu của ông tới quân đội đã được đáp lại bằng các cuộc binh biến hoặc đơn giản là bị ngó lơ.


Sang đầu tháng 3, tình hình đã không còn có thể chấp nhận được: Nicholas buộc phải thoái vị và chấm dứt triều đại Romanov.


Khoảng trống tạo ra sau sự sụp đổ của chế độ chuyên chế đã được lấp đầy, một phần bởi chính phủ lâm thời, được hình thành từ các nhóm đối lập trong Duma vốn trước đây không có thực quyền, hay Nghị viện, và phần còn lại là bởi các Xô Viết, hay Ủy ban Công nhân. Ngay từ đầu, chính phủ lâm thời này đã là một sáng kiến thể hiện hy vọng của đa số người Nga.


Hi vọng đầu tiên trong số những hy vọng này, việc thay thế chế độ chuyên chế bằng chế độ dân chủ lập hiến, đã được thể hiện trong tên gọi của chính đảng cầm quyền sau Cách mạng Tháng Hai. Đảng Dân chủ Lập hiến, hay đảng Cadet, nổi lên sau một cuộc cách mạng thất bại vào năm 1905, gồm những nhà tự do chủ nghĩa trung dung nhận được ủng hộ đáng kể từ trí thức và tầng lớp trung lưu thành thị. Hoàng tử Georgi Lvov, một quý tộc trung niên, đã trở thành Thủ tướng, nhưng ông thường chỉ được xem như một nhân vật bù nhìn. Lãnh đạo đảng Cadet và Ngoại trưởng, Pavel Milyukov, mới là nhân vật chi phối trong những ngày đầu của cuộc cách mạng.


Thành viên đảng Cadet là những người ôn hòa nhất trong số các đảng tranh giành quyền lực sau Cách mạng Tháng Hai. Phía cánh tả của họ là đảng Cách mạng Xã hội, những người dù có tên gọi khá cực đoan, nhưng thực chất là một nhóm khá dân chủ và ôn hòa; họ tập trung chủ yếu vào việc thu đất từ các lãnh chúa phong kiến lớn và chia lại cho nông dân. Điều gây bối rối hơn, nếu nhìn từ quan điểm hiện đại, là việc các nhà cách mạng thực sự lại là Đảng Dân chủ Xã hội, một thuật ngữ hiện được dùng để gọi các đảng trung tả ôn hòa ở châu Âu.


Đảng Dân chủ Xã hội lại được chia thành hai nhóm với tên gọi dễ gây hiểu lầm. Nhóm nhỏ hơn, do Vladimir Lenin dẫn đầu, có tên là Bolshevik (hay đa số xã hội chủ nghĩa), trong khi nhóm lớn hơn, bao gồm hầu hết các nhà lãnh đạo nổi tiếng khác ngoại trừ Lenin, thì có tên là Menshevik (hay thiểu số xã hội chủ nghĩa). Khi đưa ra tên gọi “đa số” cho nhóm của mình, dù chỉ giành được lượng phiếu bầu thiểu số về mặt thủ tục, Lenin đã báo trước quyết tâm và sự tàn nhẫn vốn sẽ đưa ông lên nắm quyền tối cao.


Và đó chỉ là những nhóm lớn nhất. Những người theo chủ nghĩa vô chính phủ, theo chủ nghĩa nghiệp đoàn, nhóm người Do Thái theo cánh tả (Bundists), tất cả đều cạnh tranh, chiến đấu chống lại nhau và đôi khi cũng liên minh với nhau.


Khi chiến tranh nổ ra ở châu Âu vào mùa hè năm 1914, hầu hết các nhóm này, bất chấp sự phản đối của họ đối với chế độ Sa hoàng, đã ủng hộ những gì họ xem là một cuộc chiến phòng vệ trước sự xâm lược của Liên minh Trung tâm, gồm Đức và Áo-Hung. Trong bối cảnh này, họ giống như phần lớn các đảng xã hội chủ nghĩa và dân chủ xã hội ở châu Âu, những người đã từ bỏ chủ nghĩa quốc tế và tập hợp xung quanh lá cờ của các chính phủ quốc gia của họ.


Trong nhóm thiểu số các lãnh đạo chính trị phản đối chiến tranh, quan trọng nhất là Lenin, cùng với các lãnh tụ cánh tả Menshevik, như Yuli Martov và Leon Trotsky, tất cả đều đang phải lưu vong. Từ Zurich xa xôi, Lenin chẳng thể làm gì ngoài lên án “những người sô vanh xã hội chủ nghĩa” đã ủng hộ chiến tranh.


Tuy nhiên, khi chiến tranh tiếp diễn, sự ủng hộ chiến tranh của các tầng lớp chính trị và nhân dân Nga đã bị thu hẹp. Đợt tổng tấn công Brusilov năm 1916, được tung hô là một chiến thắng vĩ đại vào thời điểm đó, đã kết thúc với khoảng một triệu người Nga bị giết hoặc bị thương mà không tạo ra thay đổi đáng kể nào cho cuộc chiến. Việc Sa hoàng Nicolas quyết định đích thân chỉ huy lực lượng vũ trang Nga chỉ gây thêm thảm hoạ, làm mất uy tín cho cả Nicholas lẫn chế độ quân chủ.


Do đó, sự sụp đổ nhanh chóng của chế độ là không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng khi đột ngột lên nắm quyền, chính quyền lâm thời phải đối mặt với vấn đề thường gặp của các chế độ cách mạng: làm sao để thỏa mãn các kỳ vọng mâu thuẫn nhau của những người dân đã đưa họ lên nắm quyền.


Chính phủ lâm thời nhanh chóng đưa ra những cải cách mà có lẽ sẽ hoạt động tốt trong thời bình: tiến hành phổ thông đầu phiếu và tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo chí và tôn giáo, và giải quyết nhu cầu của nhiều nhóm tuy là sắc tộc thiểu số nhưng đã tạo nên đa số dân số của nước Nga. Nhưng không có biện pháp nào trong số này đã đem đến ba điều người dân mong muốn nhất: hòa bình, bánh mì, và đối với các nông dân là đất đai.


Trong những thất bại này, quan trọng nhất là thất bại trong việc đem lại hoà bình. Chiến tranh cứ tiếp diễn, và sang tháng 4, Milyukov bị tiết lộ là đã gửi điện tín cho chính phủ Anh và Pháp, hứa hẹn rằng Nga sẽ tiếp tục hỗ trợ họ. Ông bị mất chức ngay sau đó, và nhà lãnh đạo đảng Cách mạng Xã hội, Kerensky, đã lên kế nhiệm.


Dù thất bại của Milyukov đã cho thấy bài học rõ ràng, Kerensky vẫn tiếp tục chiến tranh. Sau khi tới thăm chiến trường, ông đã thành công trong việc vận động những người lính mệt mỏi tham gia một cuộc tấn công khác. Dù có thành công bước đầu, cuộc tấn công của Kerensky đã dần trì trệ, gây ra tổn thất lớn về nhân mạng, và lặp lại mẫu hình tồi tệ của Thế chiến I.


Đỉnh cao trong quyền lực của Kerensky là sự kiện Những Ngày Tháng Bảy (July Days), khi một cuộc biểu tình tập thể được thực hiện bởi những người Bolshevik đã bị đánh bại bởi các lực lượng trung thành với chính phủ. Sau khi sự kiện Những Ngày Tháng Bảy bị dập tắt, Kerensky củng cố vị trí của mình bằng cách trở thành Thủ tướng, thay thế cho Lvov.


Gần như chính cùng thời điểm đó, ở Berlin, các đảng xã hội chủ nghĩa và dân chủ xã hội đã hối hận về quyết định tham chiến của họ. Người Đức cũng mệt mỏi vì chiến tranh hệt như người Nga, với những thương vong khủng khiếp và tình cảnh thiếu thốn lan tràn do phong tỏa của quân Đồng minh Hiệp ước. Một nghị quyết của Reichstag (Quốc hội Đức) đã được thông qua bởi đa số áp đảo, kêu gọi hòa bình mà “không có sáp nhập hay bồi thường” – tức là trở lại tình hình trước khi chiến tranh bùng nổ.


Tuy nhiên, ở thời điểm này, Đức về cơ bản đang ở dưới một chế độ độc tài quân sự. Quyền lực thực sự nằm ở Bộ Tư lệnh Tối cao, do các tướng Ludendorff và Hindenburg điều hành, cả hai sau này đã đóng vai trò nổi bật trong việc đưa Hitler lên nắm quyền. Không có gì ngạc nhiên khi Ludendorff và Hindenburg đã làm ngơ nghị quyết của Reichstag.


Đối với bất cứ ai đi theo quan điểm của người chiến thắng – mà theo đó, quân Hiệp ước đang chiến đấu trong một cuộc chiến phòng vệ để giải phóng các nước nhỏ, điều ngạc nhiên là Anh lại không trung thực về các mục tiêu chiến tranh, còn người Pháp thì từ chối nêu rõ mục tiêu của họ. Lý do là những mục tiêu đó đều không thể chấp nhận được để có thể thừa nhận một cách công khai. Trong một loạt các hiệp ước bí mật, họ đã nhất trí rằng trong trường hợp chiến thắng, họ sẽ chia chác đế chế của kẻ thù mà họ đánh bại.


Với người Nga, giải thưởng lớn sẽ là thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ, Constantinople, nay được gọi là Istanbul. Vùng đất này đã được hứa hẹn trao cho Nga trong một thoả thuận bí mật vào năm 1915. Việc đảng Bolshevik sau đó công bố các hiệp ước bí mật này đã làm mất đi uy tín của phe Hiệp ước.


Kerensky đã có thể bác bỏ các thỏa thuận của Sa hoàng và tuyên bố sẵn sàng chấp nhận công thức hòa bình của Reichstag mà không cần phải sáp nhập hay bồi thường. Bộ Tư lệnh Tối cao Đức có lẽ sẽ bỏ qua lời đề nghị này và tiếp tục chiến tranh (giống như họ đã làm khi phe Bolshevik đưa ra các điều khoản tương tự sau Cách mạng Tháng Mười vào cuối năm 1917). Nhưng tình hình trong tháng 07 thuận lợi hơn rất nhiều so với vào cuối năm 1917. Như cuộc tấn công của Kerensky đã chứng minh, quân đội Nga, dù bị mất tinh thần, nhưng vẫn là một lực lượng chiến đấu hiệu quả, và tiền tuyến của họ rất gần với lãnh thổ của phe Liên minh Trung tâm. Hơn nữa, Kerensky có uy tín với các đồng minh phương Tây và ông có thể sử dụng nó một cách hiệu quả.


Quyết tâm tiếp tục chiến tranh của Kerensky là một thảm hoạ. Trong vòng vài tháng, lực lượng vũ trang đã nổi loạn. Lenin, người đã quá cảnh nước Đức trong một chuyến tàu bí mật với sự chấp nhận của Bộ Tư lệnh Tối cao Đức, với hy vọng ông sẽ giúp đưa Nga ra khỏi cuộc chiến, đã biết nắm lấy cơ hội. Chính phủ lâm thời đã bị phe Bolshevik lật đổ trong cuộc Cách mạng Tháng Mười. Cách mạng Bolshevik đã đưa Cách mạng Tháng Hai rơi vào sự quên lãng của lịch sử.


Sau khi chấp nhận một hiệp ước nhục nhã do người Đức áp đặt, Nga đã sớm bị cuốn vào cuộc nội chiến còn tàn bạo và đẫm máu hơn cả Thế chiến I. Cuối cùng, chính phủ Bolshevik, được thành lập như là đại diện dân chủ của người lao động, lại là một nền độc tài trên thực tế, tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của một đảng viên Bolshevik trước đó còn là ẩn số, Joseph Stalin, người sẽ trở thành một trong những bạo chúa lớn nhất của lịch sử. Bên phía còn lại, việc Bộ Tư lệnh Tối cao Đức từ chối hòa bình cũng đã dẫn đến thất bại, sự ô nhục quốc gia và sự nổi lên của một bạo chúa lớn khác của thế kỷ 20, Adolf Hitler.


Chúng ta không thể biết liệu một phản ứng tích cực từ Kerensky đối với sáng kiến hòa bình của Reichstag có thể tạo ra điều gì. Nhưng thật khó để tưởng tượng ra một kết quả tồi tệ hơn điều thực sự đã xảy ra. Những năm đổ máu vô nghĩa đã đưa nước Nga đến hai cuộc cách mạng hóa ra chỉ là bước đầu cho những thập niên của chủ nghĩa toàn trị và chiến tranh toàn diện. Thất bại của Kerensky là một trong những cơ hội bị bỏ lỡ lớn nhất của lịch sử.


John Quiggin là Giáo sư kinh tế tại Đại học Queensland.


nghiencuuquocte


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thanh Phương - Cô gái Việt kể lại giây phút rợn người khi chứng kiến tục thiên táng của người Tạng - Tư liệu sưu tầm 20.10.2017
Ải Chi Lăng - Nhiều tác giả 20.10.2017
Đại hội 19 Đảng Cộng sản Trung Quốc: Tầm nhìn 30 năm - Tư liệu 18.10.2017
Thác 7 tầng - địa danh kỳ thú còn hoang sơ ở Nghệ An - Nhiều tác giả 18.10.2017
Liên Xô chi phối Đảng Cộng sản Mỹ như thế nào? - Harvey Klehr 17.10.2017
Vì sao người Do Thái giỏi làm kinh tế? - Nguyễn Hải Hoành 13.10.2017
Về bài thơ sám hối của Vua Trần Minh Tông - Hồ Tấn Nguyên Minh 13.10.2017
Trang điểm cung đình - Trịnh Bách 13.10.2017
Về cuộc ‘Thảm sát huyện Đạo’ bị che dấu ở Trung Quốc - Tư liệu 11.10.2017
Nuôi biển Công nghiệp ở Việt Nam - Thời cơ và thách thức - Nguyễn Hữu Dũng 09.10.2017
xem thêm »