tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20554194
Tiểu thuyết
31.12.2012
GERALD Gordon
Hãy để ngày ấy lụi tàn

Tiểu thuyết Hãy để ngày ấy lụi tàn, bản in lần thứ sáu của NXB Văn học - nhà văn Triệu Xuân biên tập, giới thiệu- phát hành từ 12-2010, đến nay đã hết sách. Chúng tôi nhận được rất nhiều yêu cầu tái bản của bạn đọc.


Vì lý do bản quyền còn tái bản, www.trieuxuan.info không thể post toàn bộ tác phẩm. Sách dày hơn 400 trang, khổ 14.5 x 20.5 cm. Thể theo yêu cầu khẩn thiết của bạn đọc, chúng tôi xin post những trang cuối cùng của tác phẩm. Hy vọng, năm 2013, bản in lần thứ Bẩy sẽ ra mắt bạn đọc.


www.trieuxuan.info


 


LIV.


Thời gian trôi qua trong im lặng. Ông Blair hình như còn phân vân chưa biết nên tấn công nhân chứng này vào chỗ nào trước. Rồi ông bắt đầu:


- Đêm ấy, ông ở đó?


- Vâng.


- Uống trà?


- Vâng.


- Và hút thuốc lá để lại dấu môi son ở mấy đầu mẩu thuốc lá?


- Tôi không hút thuốc.


- Ông có biết mấy đầu mẩu thuốc lá đó là của ai không?


- Không, chúng đã có ở đấy khi tôi đến.


- Ông Greơm này, ông có thể giải thích tại sao ông phải đến thăm bị cáo vào cái giờ khác thường đó không?


- Tôi đã nói, đó là thời gian duy nhất thích hợp.


- Tại sao?


- Tôi phải lên đường về cảng Êlidabet vào lúc rạng đông…bằng ôtô.


-  Thời gian duy nhất thích hợp nghĩa là gì? Ông từ cảng Êlidabet tới vào lúc nào?


- Tôi đã ở thành phố này được hai ngày, tôi tới vào chiều thứ Năm trước đó.


- Vậy tại sao, nếu việc ông gặp bị cáo là rất quan trọng, tại sao ông lại để việc đó đến phút cuối cùng?


- Tôi bận việc ở thành phố này.


- Suốt ngày đêm ư?


- Phải.


- Nào, nào, ông Graham. Công việc đặc biệt gì mà lại chiếm hết toàn bộ thời gian của ông thế?


Cái cằm Steve chìa ra có vẻ thích thú.


- Tôi dự một cuộc hội nghị.


- Hội nghị gì?


- Để tổ chức những cuộc biểu tình phản đối chính sách Apathai.


- Hội nghị của những ai?


- Các đại biểu của những tổ chức khác nhau ở khắp đất nước?


- Những tổ chức gì?


Steve ngập ngừng, rồi anh nói:


- Những tổ chức không phải người Âu.


- Ai triệu tập hội nghị đó?


- Tôi phải trả lời tất cả vấn đề này ư, thưa quý tòa?


- Tôi phản đối, – ông Turner nói. – Đây không phải là một phiên tòa chính trị. Vậy những câu hỏi đó thích đáng sao được.


- Được thôi, – ông Blair nói. – Tôi sẽ bỏ qua những chi tiết. Tôi chỉ muốn kiểm tra mức độ tin cậy của lời khai, thưa ngài chánh án tối cao. Tôi sẵn sàng chấp nhận nhân chứng đã dự một cuộc hội nghị.


Ông ta quay về phía Steve.


- Hội nghị đó đã chiếm hết toàn bộ thời gian của ông ư?


- Phải. Tối thứ Năm, cả ngày thứ Sáu và cả ngày thứ Bảy.


Steve bắt đầu ho. Anthony  nhớ lại Steve đã ho như thế nào ở phòng anh đêm hôm đó.


Nhưng lần này là một cơn ho tồi tệ hơn, những tiếng ho dữ dội, như xé phổi từ lồng ngực phát ra. Steve vật lộn điên cuồng, dung mù soa che miệng, trong khi đó mọi người chờ đợi, những tiếng ho vang qua phòng xử án rộng lớn, nóng bức, giống như những phát súng từ một khẩu súng trường bắn ra, thoạt tiên thành một loạt liên tiếp, nhanh rồi chậm dần.


Người tùy phái mang cho Steve một ly nước, anh uống từng ngụm nhỏ, trong khi đó thân hình anh phồng lên rồi xẹp xuống thành những nhịp đều đặn và gấp gáp tựa như anh vừa mới phải chạy cật lực.


- Ông có muốn ngồi xuống không? – Viên chánh án hỏi.


- Không, cảm ơn, thưa quý tòa, – Steve  nói, đằng hắng và quay lại đối diện với ông Blair một lần nữa.


- Tôi không hiểu đầu đuôi thế nào cả, ông Greơm, – ông Blair tiếp tục – Ông là một người da màu, và ông đến thăm bị cáo vào cái giờ rất khác thường đó. Với mục đích gì?


- Tôi có việc muốn nói với ông ấy.


- Trong những giờ sớm nhất của buổi sáng Chủ nhật?


Hai ba viên bồi thẩm mỉm cười.


- Phải.


- Về việc gì?


- Việc riêng tư.


- Được thôi, và bây giờ tôi sẽ không dồn ép ông nữa, nhưng có thể tôi phải trở lại điểm này. Ông có thể giải thích lí do vì sao đây là lần đầu tiên chúng tôi nghe thấy bị cáo có một vị khách vào đêm hôm đó. Bị cáo đã khai với cảnh sát là đêm đó chỉ có một mình trong buồng.


Steve nhún vai.


- Trả lời câu hỏi của tôi đi! – Ông Blair nói sẵng.


- Câu hỏi của ông là gì đấy?


Viên chánh án nói bằng một giọng lạnh như băng.


Ông Blair ngập ngừng. Rõ ràng ông ta bối rối vì sự diễn biến lạ lùng này trong việc bào chữa, và vì nhân chứng này xuất hiện một cách bất ngờ. Đây phải là một người hoặc phạm tội khai man trước tòa một cách liều lĩnh, trơ tráo nhất, hoặc nếu không thì phải là người nói đúng theo sự thật.


- Thưa ngài chánh án tối cao, tôi muốn nhân chứng giải thích tại sao việc ông ấy có mặt ở trong phòng đó bây giờ mới được đưa ra lần đầu tiên.


- Nhân chứng này làm sao có thể giải thích được điều đó? – Viên chánh án nói.


- Được ạ, thưa ngài chánh án tối cao, tôi sẽ tiếp cận vấn đề đó từ một góc độ khác.


Ông Blair quay lại với Steve.


- Theo ông nói, thì tại sao bị cáo lại không muốn để ông Bosman đi qua những bức màn che đó? Tại sao bị cáo không muốn để ông Bosman nhìn thấy ông ở đấy?


Steve giữ im lặng.


- Tôi không phải nhắc lại câu hỏi đó chứ? Được thôi, ông có ý kiến gì về lí do bị cáo không muốn ông Bosman nhìn thấy ông?


- Đó là việc của ông ấy.


- Của ai?


- Của an….. – Steve  nắm chặt lấy chiếc ghế dành cho nhân chứng khi cái chữ tai họa đó suýt nữa bật ra. – Đó là việc của ông Grant.


- Cái gì? Ông vừa định nói gì? Nào, cứ nói ra đi!


Steve im lặng.


- Ông Greơm này, bản thân bị cáo khai với cảnh sát là ông ấy chỉ có một mình. Thế thì hoặc là ông nói dối, hoặc là bị cáo nói dối. Vậy là ai?


- Tôi không nói dối.


- Vậy bị cáo nói dối cảnh sát phải không?


- Tôi không thể có ý kiến được, tôi không biết. Tôi không có mặt ở đó khi cảnh sát tới.


- Vậy ông ở đâu?


- Tôi đã đi khỏi rồi.


- Ông đi đâu?


- Về chỗ tôi trọ.


Steve cho biết địa chỉ chỗ trọ của mình ở thành phố Kếp Tao. Ông Blair ngừng một lát rồi tiếp tục.


- Ông có thể cho biết lí do tại sao bị cáo lại nói ông ấy chỉ ở nhà một mình trong khi ông cũng có mặt?


- Tôi không biết, đó là… tôi… tôi là…


- Tiếp tục đi, ông nói hết cả câu đi!


Steve tỏ ra căng thẳng, anh đưa mắt nhìn viên luật sư đang thẩm vấn mình tới đoàn bồi thẩm, và cảm thấy là họ đang mỉm cười ngờ vực. Nước da đen ở mặt anh nhợt đi, anh ngập ngừng, ấp úng.


- Ông có nhận thức rằng từ lúc bắt đầu làm chứng trước tòa, ông đã thề là nói toàn sự thật không?


- Có.


- Ông có biết việc khai man trước tòa có ý nghĩa như thế nào không?


Không trả lời.


- Ông Greơm, tôi sẽ tạo cho ông một cơ hội khác để nói sự thật cho chúng tôi. Ông có mặt hay không có mặt trong phòng đó đêm hôm ấy?


Steve nhìn thẳng vào ông Blair. Điềm tĩnh nói:


- Tôi đã nói thật với ông, tôi có mặt tại phòng ông Grant đêm hôm đó.


- Khi người quá cố là Bosman bước vào?


- Phải, tôi đã ở đó và nhìn thấy mọi chuyện như tôi đã khai báo.


- Hãy gượm, trước đây ông đã nói là ông nấp sau bức rèm cửa khi Bosman bước vào đúng không?


- Phải, đúng như thế.


- Vậy ông đã không nhìn thấy ông ấy bước vào buồng?


- Phải.


- Ông nhìn thấy ông ấy lần đầu tiên vào lúc nào?


- Khi tôi nghe thấy những tiếng động của cuộc ẩu đả.


- Trước khi đó, lúc nào ông cũng ở sau bức màn và không nhìn thấy một cái gì ư?


 


- Đúng như thế.


 


- Ông làm gì sau bức màn đó? – Ông Blair hỏi và lấy mù soa lau khuôn mặt đẫm mồ hôi.


 


- Không làm gì cả.


 


- Kìa, cứ nói tiếp đi. Ông nói “không làm gì cả” là nghĩa gì?


 


- Tôi lắng nghe những việc đang xảy ra giữa ông Grant và kẻ xâm nhập.


 


- Không, không. Tôi muốn hỏi là trước khi ông ấy đến cơ. Ông đang làm gì? Ông nói là ông ở sau những bức màn trước khi ông nghe thấy có người ở cửa?


 


- Phải.


 


Ông Blair lại chuyển cho Steve bản sơ đồ.


 


- Chỉ chính xác cho chúng tôi, ông ở chỗ nào?


 


- Ông muốn nói là ngay trước lúc Bosman tới? – Steve  hỏi khi xem xét sơ đồ.


 


- Phải, khi đó ông ở đâu, ông Greơm?


 


- Tôi đang nằm trên giường.


 


- Sao, giường của ai?


 


Anthony nhìn thấy những nét kinh ngạc trên những khuôn mặt chung quanh anh. Cả ông Turner cũng có chút nhạc nhiên. Anthony nghĩ thầm: thật hết sức không may là Steve đã không nhận ra điểm này trong những lần bàn bạc và chính bản thân Anthony cũng bỏ qua điểm đó. Nếu không thì Steve đã được dặn trước là không để lộ điều này một cách không cần thiết như hiện giờ.


 


- Giường của ông Grant. – Steve  chỉ sơ đồ. – Đây này.


 


Tiếng rì rầm của những người dự phiên tòa nổi lên. Các thành viên trong đoàn bồi thẩm rướn cổ về phía trước.


 


Ông Blair nheo mắt lại, nói rất chậm rãi, rất cân nhắc:


 


- Ông đang nằm trên giường của ông Grant? – Ông ta gật gù ranh mãnh – Tôi hiểu rồi!


 


- Ông ám chỉ cái gì thế, ông Blair? – Steve  hỏi giận dữ.


 


- Tôi không phải có mặt ở đây để trả lời! – Ông Blair hét to. – Đặc quyền của tôi là đưa ra câu hỏi, còn bổn phận của ông là trả lời, ông có hiểu không? – Ông ta nhìn bồi thẩm đoàn, vẻ mặt dương dương tự đắc rồi quay lại Steve – Ông có mặc quần áo trên người không? – Ông ta quát tháo.


 


- Tất nhiên là có, thưa ngài chánh án tối cao. Ông Blair gợi ra những điểm như thế có đúng không?


 


- Giữ im lặng trong tòa – Người tùy phái kêu to.


 


- Tôi cho rằng người luật sư có quyền đặt cho ông câu hỏi ấy, -  Viên chánh án nói. – Nếu đưa ra một câu hỏi không chính đáng, tôi sẽ không cho phép.


 


Đôi mắt ông Blair sáng rực, ông tiếp tục:


 


- Bị cáo ở đâu khi đang… ờ, ờ… nằm trên giường của ông ấy? Ông ấy cũng nằm trên giường đấy chứ?


 


Có nhiều tiếng cười to trong công chúng.


 


- Giữ trật tự trong tòa.


 


Ông Blair đưa ngón tay trỏ chỉ nhân chứng:


 


- Vậy lúc này chúng ta có một bức tranh rất kỳ cục. Ông, một người da màu đến thăm bị cáo trong buồng của ông ấy vào lúc nửa đêm. Ông ăn uống, trò chuyện với ông ấy và rồi đi cùng ông ấy vào buồng ngủ và nằm trên giường của ông ấy.


 


- Chúng tôi trò chuyện, rồi tôi cảm thấy mệt nên nằm duỗi người trên giường của ông ấy một chút. Tất cả chỉ có thế. Ông Grant ngồi trên một chiếc ghế cạnh tôi.


 


- Ông vẫn cố bám lấy điều đó hả? – Ông Blair hỏi mỉa.


 


- Vì đó là sự thật, thưa quý tòa.


 


- Vậy tất cả những điều tôi có thể nói đây là một việc rất chi bí mật. – Ông Blair cười cười. Vài thành viên trong đoàn bồi thẩm cũng cuời thích thú, những thành viên khác tỏ vẻ khó chịu.


 


- Hãy để tôi tóm tắt lại sự thể. Bị cáo khai với cảnh sát là chỉ có một mình trong phòng. Còn ông bảo với chúng tôi rằng không phải như thế, rằng sự thật ông có ở đấy với ông ấy và đang nằm ngây thơ, vô tội trên giường của ông ấy! Ông muốn đoàn bồi thẩm tin theo câu chuyện nào?


 


- Tôi không có trách nhiệm về những gì ông Grant khai với cảnh sát.


 


- Phải, có thể như vậy. Nhưng ông có trách nhiệm về những lời nói dối ở đây sau khi đã tuyên thệ.


 


- Tôi không nói dối, tôi đã bảo rồi.


 


- Vậy thì bị cáo nói dối! Bây giờ, ông có thể giải thích toàn bộ điều đó được không?


 


Steve im lặng.


 


- Nào, ông Greơm, đừng đứng như phỗng thế! Xin hãy làm sang tỏ điều bí mật kỳ dị này cho các vị trong đoàn bồi thẩm.


 


Nhưng Steve vẫn không nói gì.


 


- Được rồi, nếu ông không thể giải thích được điều đó, xin ông chấp nhận rằng, nếu ông có mặt ở đây thì việc ông nằm trên giường không hoàn toàn ngây thơ, vô tội như thế, và bị cáo hết sức lo ngại không muốn cho ông Bosman nhìn thấy phía sau những bức màn che ấy… và bị cáo đã dùng vũ lực để ngăn cản ông ta.


 


Steve đưa mắt chậm rãi nhìn quanh phòng xử án. Anh thấy cơ man nào bộ mặt đang quan sát anh. Ánh mắt anh dừng lại một lát ở chỗ Anthony, đôi mắt sẫm màu của anh nhìn đăm đăm chứa đầy vẻ thương hại. Rồi anh thấy ông Blair đưa mắt hết nhìn anh rồi lại nhìn Anthony, đoạn quay lại nhìn anh. Anthony cũng chú ý đến mắt của Blair và tự hỏi không hiểu cuối cùng nét giống nhau giữa hai anh em cùng chung máu mủ có thu hút sự chú ý của viên luật sư này không. Phải chăng Steve cũng đang phân vân như vậy.


 


- Tôi đang đợi đấy ông Greơm, – Ông Blair nhắc.


 


Cuối cùng, Steve nói.


 


- Ông muốn tôi làm rõ điều bí mật. Được, tôi sẽ làm sáng tỏ. Việc đó hoàn toàn đơn giản. – Rồi bằng một giọng trong sáng, mạnh mẽ anh nói ra những lời mà Anthony từ nãy đến giờ đang chờ đợi. – Ông Grant là anh ruột tôi.


 


Trong phòng xử án nổi lên một tiếng kêu ngạc nhiên kéo dài. Một đám đông đầy kích động tụ tập xung quanh chỗ Gin đang ngồi. Mọi người rướn về phía trước nhìn Steve và rồi quay sang nhìn Anthony chòng chọc.


 


- Giữ im lặng trong tòa, giữ im lặng trong tòa.


 


Cả gian phòng ào ào như một bầy ong nổi giận.


 


Ngay khi lời viên chánh án có thể nghe được rõ ràng, ông ta nghiêm khắc cảnh cáo:


 


- Nếu một lần nữa còn náo động như thế này, tôi sẽ giải tán phiên tòa.


 


Ông Blair tiếp tục phỏng vấn Steve về các chi tiết đã xảy ra liên quan đến chiếc ghế đẩu, gợi ý rằng lời khai của Bosman có khả năng đúng hơn, cố gắng làm cho Steve phản cung hoặc tự mâu thuẫn. Nhưng tất cả đều vô ích, Steve không hề nao núng. Khi ông Blair dứt lời, ông Turner lên tiếng:


 


- Thưa ngài chánh án tối cao, tôi không hỏi thêm gì nữa.


 


Chánh án ra hiệu cho Steve là tòa không cần đến anh nữa, ông Turner lại đứng lên, nói bằng một giọng trong sáng, thận trọng:


 


- Tôi mời bị cáo.


 


Trên mặt Anthony có một vẻ bất chấp thích hợp khi anh đi lên và bước vào vòng móng ngựa.


 


Sau khi nhận diện bức ảnh Bosman, anh tiếp tục nói, xác minh bằng chứng của Steve và đính chính những lời chính anh đã khai với cảnh sát. Anh nói không hề xúc động, không hề nao núng và không dành cho mình một điều gì cả. Anh trình bày lí do tại sao anh thay đổi họ, về cuộc vật lộn cũng như những trở ngại anh gặp phải trên bước đường công danh. Anh nói cho họ biết là cô Gin Hatli chưa bao giờ bước chân vào phòng của anh, nhưng một cô gái khác đã đến đây, người đó đã hút những điếu thuốc lá ấy vào lúc 6 giờ chiều.


 


Anh vô hình trung gạt sang một bên những câu hỏi của ông Turner. Anh đưa ra bằng chứng của mình, không đợi ai nhắc nhở. Viên luật sư của anh cứ đứng im lặng. Khi đã trình bày xong, anh nhìn chăm chăm vào đoàn bồi thẩm và nói chậm rãi:


 


- Thưa các ngài, bây giờ có lẽ các ngài đã hiểu tại sao tôi phải nói dối cảnh sát. Các ngài thấy đấy, đây không phải lần đầu tiên tôi phải đứng trước vành móng ngựa của kẻ bị cáo. Tôi và em trai tôi đã bị đem ra xử án từ lâu. Phiên tòa đó đã diễn ra từ trước khi chúng tôi lọt lòng mẹ. Chúng tôi bị xử án vì hành động của tổ tiên chúng tôi, bị kết tội và bị kết án phải sống trong một thế giới đầy thiên kiến màu da. Cho dù giờ đây các ngài có tha bổng cho tôi thì bản án kia vẫn còn có hiệu lực. Nó sẽ vẫn có hiệu lực cho đến khi cuộc sống dưới trần thế của tôi chấm dứt. Dẫn lời của Giôp, tôi có thể nói đúng rằng: “Hãy để ngày ấy lụi tàn, ngày mà tôi sinh ra đời và đêm mà người ta nói rằng đã có một con người được kết thành thai”1.


 


Trong sáng như tiếng chuông, những lời của Anthony vang khắp phòng xử án. Mắt của nhiều phụ nữ ươn ướt. Ngay cả viên chánh án già có bộ mặt khắc khổ cũng xúc động. Ông Blair không đạt được chút kết quả nào trong cuộc thẩm vấn. Ông cố thuyết phục bồi thẩm đoàn rằng việc Anthony có một người em trai da màu trong phòng rõ ràng là động cơ thậm chí còn mạnh mẽ hơn khiến anh ta cố ngăn không cho Bosman đi vào phía sau mấy bức màn che. Bởi vậy cho rằng Anthony đã dùng vũ lực tàn khốc đối với Bosman là lẽ suy luận tự nhiên.


 


Tuy ông Blair nói rất hùng hồn và sinh động, song ông Turner đã lần lượt đánh đổ tất cả các luận điểm của ông ta một cách dễ dàng. Thật vậy, ông Turner chỉ nói ngắn thôi. Về vấn đề bị cáo có tấn công người quá cố hay không, đoàn bồi thẩm phải hoặc là tin lời Anthony đã được Steve xác minh, hoặc là tin lời khai của Bosman. Trước tiên, rõ ràng là các khả năng cảm nhận của Bosman đã bị rượu làm tê liệt. Và rồi đến điểm hệ trọng trong lời khai của Bosman là nghe thấy một tiếng kêu của phụ nữ. Sự thật ở bên nào đã quá rõ rồi, còn nghi nghờ gì nữa? Và nếu lời khai của Bosman bị bác bỏ ở điểm tiếng kêu đó thì nó còn có sức thuyết phục nào nữa không? Xét đến cùng, vụ án phải tỏ rõ không còn tồn tại một mối nghi ngờ hợp lí nào thì mới có lý do để truy tố, mà trong vụ án này – Ông Turner nói – thì không thể có chút nghi ngờ nào cả. Còn về lời khai không đúng của bị cáo với cảnh sát thì vừa đây ông ấy đã chẳng đưa ra lời giải thích có sức thuyết phục quá mạnh mẽ rồi ư.


 


Tiếp theo là bản tổng kết của chánh án. Tuy ông trình bày về vụ án một cách khách quan, song ông rõ ràng ủng hộ việc tuyên bố tha bổng.


 


Khi ông chánh án nói xong, đoàn bồi thẩm lui vào trong bàn bạc. Họ đi thành hàng theo nhau vào phòng dành riêng cho bồi thẩm đoàn. Sau lưng họ cánh cửa khép lại, một viên cảnh sát đứng án giữ trước cửa. Viên chánh án tuyên bố nghỉ giải lao.


 


Những tiếng rì rào, ầm ĩ vang khắp phòng. Tuy vậy Anthony chẳng nói với ai một lời nào. Anh lạnh lùng chờ đợi ở chỗ ngồi của mình.


 


Dường như chưa tới năm phút trôi qua, đã có tiếng gõ cửa ở phòng dành riêng cho đoàn bồi thẩm. Các viên chức trở lại vị trí để phiên tòa tiếp tục. Anthony đi lên trước vành móng ngựa, đứng nhìn thẳng về phía trước.


 


Trong không khí lặng ngắt như tờ, giọng người tùy phái vang to:


 


- Giữ im lặng trong tòa.


 


Chánh án Xtêphơn vào chỗ ngồi. Khi các bồi thẩm đi thành hàng trở về chỗ của họ xong xuôi, viên lục sự đứng lên, quay về phía họ:


 


- Thưa các ngài, các ngài quyết người bị đem ra xét xử có tội hay vô tội?


Trưởng đoàn bồi thẩm, ông già hói đầu nói to:


- Vô tội.


- Tất cả các ngài đều đồng ý như vậy?


- Phải, thưa quý tòa!


 


LV.


Sau vài lời cám ơn nhóm luật sư của mình và vội vã hẹn gặp lại Steve, Anthony lẩn tránh mọi người, kể cả Jean mà anh nhìn thấy đang biến mất ở xa xa cùng với ông bố, anh ra khỏi tòa án và lái xe nhanh về nhà mình.


Một lát sau, anh nghe thấy tiếng quả đấm cửa cót két. Khi bước vào, Ren thấy Anthony đang viết sách. Bề ngoài anh trông có vẻ điềm tĩnh, nhưng bên trong một nỗi kinh hoàng đột ngột xâm chiếm người anh, tim anh đập nhanh. Tuy làm ra vẻ không lo lắng và hí hoáy viết, nhưng anh kinh sợ không dám nhìn vào mắt Ren.


Ren đứng bên anh, nhìn qua vai Anthony, đọc những dòng anh đang viết.


- Em biết anh sẽ không thất bại mà - Ren nói. Rồi nàng đi ngang qua phòng, tới chiếc bàn con, chỗ nàng thường làm việc, sắp xếp một ít giấy vẽ, đoạn ngồi xuống.


Cái bút nằm lỏng lẻo giữa mấy ngón tay Anthony, trong khi đó thời gian vẫn trôi qua từng giây một. Khi không thể chịu đựng được tình trạng đó thêm một chút nào nữa, anh đứng dậy, bước tới đứng bên cạnh nàng. Nghĩ đến tương lai, mắt anh đau khổ phát cuồng lên.


 


- Em đã đọc… bài tường thuật về phiên tòa rồi chứ?


Nàng tiếp tục vẽ.


- Vâng - Nàng nói bình thản.


- Thế mà em vẫn đến đây?


- Vâng.


Nét mặt Anthony nhíu lại hoài nghi.


- Vẫn như… hoàn toàn như… như trước?


- Vâng.


- Hệt như không có gì xảy ra.


- Vâng.


Anthony quì xuống, gục mặt vào lòng nàng. Hai hàm răng anh bắt đầu cử động chậm chạp lạ lùng, anh không điều khiển được, nhưng không một âm thanh nào thốt ra từ miệng anh. Các mạch máu ở cổ bắt đầu giần giật. Anh đưa hai bàn tay lên thái dương, ép chặt lấy dữ dội, trong khi đó lưỡi anh bất giác quét dọc vòm miệng. Rồi chúng xuất hiện. Anh hết sức cố gắng ngăn chúng lại, nhưng vô ích. Chúng xuất hiện, những giọt nước mắt không hề mong muốn, không hề cần đến, trào ra từ cặp mắt bất lực của anh; cổ họng anh nghẹn lại với những tiếng nức nở nặng nề, buồn thảm.


Nàng âu yếm vuốt tóc anh. Nàng thì thầm:


- Em xin anh một điều: anh đừng để mất lòng tự trọng.


Anh nhìn nàng qua hai hàng nước mắt:


- Đầu óc anh căng thẳng vô cùng. Em hãy tha thứ cho phút yếu đuối này. Anh không thể ngăn lại được. Lần cuối cùng anh khóc là khi mẹ anh mất.


- Em hiểu.


- Tối qua, em bảo là em tin ở anh.


- Vâng.


- Em vẫn còn tin ở anh?


- Em cảm thấy buồn vì anh cứ phải hỏi thế mãi, anh Anthony ạ.


Chậm rãi, Anthony đứng dậy, trở lại bàn làm việc. Anh rút mùi soa ra, rồi nhồi đầy tẩu thuốc và châm lửa.


- Chúng ta hãy tiếp tục công việc của chúng ta.


Anthony ngồi xuống, cầm bút lên, làm ra vẻ tập trung. Nhưng từ đôi mắt, anh cho rằng có thể nhìn thấy nàng đang quan sát anh, anh thắc mắc không hiểu có phải nàng đang nghĩ đến dòng dõi da màu của anh không?


Anthony thấy nàng đặt một điếu thuốc lá vào miệng. Nàng đánh diêm. Que diêm đã gãy làm đôi. Phân nửa que mang đốm lửa nhỏ bé quay tít, xì xì bay qua không khí rồi rơi xuống tấm thảm cũ. Nàng giẫm chân lên, nhặt nó vứt đi và đánh que diêm khác.


Khói thuốc lá uốn khúc, ngoằn ngoèo bay trong phòng cho đến khi gặp luồng gió từ cửa sổ tạt vào, khi đó màu xanh da trời lờ mờ của khói thuốc hòa vào những tia nắng màu da cam sẫm của mặt trời đang lặn. Sự im lặng bao trùm hai người dường như kéo dài vô tận, nhưng thực sự mới chỉ có mấy giây trôi qua, Anthony đặt tẩu thuốc rồi lại đứng dậy. Đứng sau nàng, anh nhìn nàng vẽ những đường nét vô nghĩa. Anh bình thản nói:


- Anh tự hỏi không hiểu em có nhận thấy tất cả ý nghĩa của những chuyện này không?


Nàng quay lại.


- Chuyện gì?


- Ý kiến của em… cho rằng việc tiếp tục giữa hai chúng ta giống hệt như cũ.


- Vâng.


- Em đã xem xét chuyện đó từ mọi góc cạnh chưa?


Nàng gật đầu


- Nhưng em có nhận thấy rằng hiện nay có một điều luật qui định anh không thể kết hôn với em không?


- Ôi anh thân yêu! Nhưng điều luật đó có áp dụng với anh không?


- Nó không áp dụng được… Cho đến hôm nay. Em thấy đấy, anh không giống người Âu, và điều luật công nhận anh được coi là một người Âu, trừ khi và cho đến khi có sự chứng minh ngược lại - Anh mỉm cười - Thế đấy, hiện giờ nó đã được chứng minh, phải không?


- Chúng ta có thể đi tới một nước khác và kết hôn với nhau, rồi trở về.


- Không, một cuộc hôn nhân như vậy cũng không có giá trị ở Nam Phi


- Anh Anthony ơi, có thể có một điều luật nào, một điều luật trái với tự nhiên như thế, thực sự ngăn cách chúng ta không? - Nàng hạ giọng xuống - Còn nếu chúng ta không thể kết hôn chính thức, điều đó có gì quan trọng đâu.


- Không Ren ạ, chuyện đó sẽ không giúp được gì. Người ta đưa ra một điều luật khác qui định một người Âu và một người da màu sống chung với nhau là phạm pháp.


- Đất nước này đang phát rồ lên mất rồi!


Anthony nhún vai.


- Chẳng bao lâu nữa, theo cái mưu đồ mới này, tất cả chúng ta sẽ phải mang căn cước. Thẻ căn cước của em ghi rõ em là người Âu, thẻ căn cước của anh ghi rõ anh là người da màu.


- Khi chuyện ly hôn của em xong xuôi, chúng ta có thể đi xa mãi mãi, anh Anthony ạ, tới Anh, tới Rôdêdia, tới Úc, tới bất cứ nơi nào… miễn là chúng ta sống bên nhau.


- Như thế chẳng dễ dàng đâu. Nó có nghĩa là bắt đầu một cuộc đời mới ở một đất nước mới.


- Chứ sao? Những người khác cũng đã làm như vậy, những người tị nạn khủng bố ấy mà. Giống như nhiều người khác đã rời khỏi Nam Phi, chúng ta sẽ là những người tị nạn… tị nạn thiên kiến màu da. Miễn là em và anh sống bên nhau…


- Anh có rất ít tiền tiết kiệm


- Cái đó không quan trọng, miễn là có quyết tâm chiến thắng khó khăn.


Anh âu yếm ôm đầu nàng trong hai bàn tay mình dịu dàng hôn vào trán nàng.


- Ren ơi, em nói đúng đấy. Chúng ta phải cùng nhau đi xa.


Mặt anh ngoi lên một niềm hy vọng mới. Nàng nhận thấy điều đó và lần đầu tiên trong buổi chiều nay, một niềm hạnh phúc dâng lên trong lòng nàng. Nàng nói:


- Ôi, anh thân yêu, giá mà anh kể cho em biết bí mật của anh từ trước. Tại sao trước kia anh không kể cho em?


- Chỉ vì anh không thể bắt mình làm như vậy.


- Ước gì trước đây anh kể hết cho em!


- Nếu anh kể thì sao?


- Em đã có thể giúp anh rất nhiều…


Nàng đưa ra nhận xét này là định nói gì? Anthony suy nghĩ. Phải chăng chỉ có nghĩa là nàng sẽ tận tình như thế với anh, ngay cả khi nàng biết được sự thật từ lâu? Và chỉ có nghĩa là tình yêu của nàng sẽ giúp anh có thêm nhiều can đảm đương đầu với cuộc đời không?


Nếu đấy là tất cả những điều nàng đã diễn đạt nên lời, anh tự hỏi không hiểu nàng có đang tự lừa dối mình không. Nam Phi là một nơi thấm đẫm thiên kiến màu da đến nỗi đối với một cô gái như nàng dường như không thể không hấp thụ chút nào thiên kiến đó. Và nếu trong bản chất nàng có một chút thiên kiến; ngay cả chỉ có một dấu vết lờ mờ nhất, mà anh cảm thấy hẳn phải có, thì ở mức độ đó vẫn có - là một hàng rào ngăn cách họ, sẽ luôn luôn có một hàng rào. Và nếu nàng biết được điều bí mật của anh sớm hơn thì sẽ không có nghĩa là hàng rào đó sẽ xuất hiện giữa họ sớm hơn ư? Vậy làm sao mà nàng nói được là nàng có thể đã giúp anh rất nhiều.


Anh băn khoăn tự hỏi không hiểu còn có điều gì khác nữa đằng sau lời nhận xét đó của nàng không. Anh suy nghĩ, nàng đưa ra lời nhận xét đó rất xúc động khiến anh cảm thấy hình như nó mang một ý nghĩa đặc biệt.


Ngoài đường, mấy đứa trẻ đang ca hát. Đó là một bài hát từ lâu lắm rồi, tiếng hát của chúng bay qua cửa sổ lọt vào phòng làm anh nhớ lại những năm mình còn bé, hát hỏng, chơi đùa ở ngoài đường phố với những đứa trẻ khác. Trong khi vuốt ve mái tóc Ren, anh nhìn thấy một con côn trùng đã từ ngoài cửa sổ bay vào, và hiện đang đâm sầm vào tấm kính, cố tìm cách thoát ra ngoài. Nó đến nghỉ trên bậu cửa sổ, gập những chiếc cánh mềm dưới lớp cánh cứng màu nâu, bóng loáng, rồi bò chậm rãi theo khung cửa. Lại những tiếng trẻ em, lần này to hơn. Những năm tháng xa xưa lướt nhanh về trong tâm trí anh. Anh cùng nàng trở lại trang trại ấy. Đó là một hình ảnh anh vẫn giữ kín trong tâm khảm anh, song anh biết là nó vẫn còn nằm ở đấy. Sự hung hăng trong cơn giận dữ của ông Du Toit vào tối hôm ấy quả rất lạ lùng, Anthony chẳng bao giờ có thể hiểu được. Đột nhiên, khi đứng ôm nàng âu yếm, một ý nghĩ mới chợt xuất hiện, một ý nghĩ có thể giải thích không những chỉ thái độ kỳ cục của ông già đó, mà có lẽ còn cả lý do hiện giờ Ren thốt ra lời ấy - nếu trước đây anh kể cho nàng nghe, nàng có thể giúp anh rất nhiều - Ý nghĩ đó cũng có thể giải thích lý do nàng nói câu đó có vẻ xúc động sâu xa như vậy.


Liệu anh có thể, liệu anh dám hỏi nàng xem điều dự đoán riêng của anh có đúng hay không? Sao lại không? Nếu như nàng đã nói ra sự tiết lộ ở phiên tòa hôm nay không có gì quan trọng đối với nàng, thì anh có thể yên trí nói ra những ý nghĩ của mình. Im lặng suy nghĩ một lúc lâu, anh hỏi:


- Em đã có thể giúp anh như thế nào, Ren?


- Anh thân yêu, anh lại còn phải hỏi ư?


- Không, anh biết em định nói gì, nhưng anh đang thắc mắc không hiểu ngoài sự thông cảm và hiểu biết mà em sẽ biểu lộ với anh nếu trước kia em biết rõ, liệu có thể còn có một cái gì khác không?


- Anh định nói gì?


- Đấy, em có nhớ tối hôm ấy ở trang trại, khi anh trai em bảo có thể một hôm nào đó em tỉnh dậy và thấy mình lấy một người chồng da màu, thì ba em chồm dậy, đấm mạnh xuống mặt bàn, nói rằng sẽ giết chết bất kỳ một tên da màu nào dám chạm vào em không?


Nàng ngước nhìn Anthony, vẻ bối rối:


- Có, em nhớ mang máng… đã lâu quá rồi mà… nhưng điều đó có liên quan gì với tất cả chuyện hiện nay?


- Anh thắc mắc không hiểu sao ba em lại làm như thế, lại xúc động đến như thế.


- Em không hiểu ý anh, anh Anthony. Thế là thế nào?


Anthony không thể trả lời. Anh bắt đầu hoảng. Không, lần này anh sẽ không để chuyện đó trôi qua. Anh sẽ phải cố thốt ra thành lời. Im lặng đã đem lại khá nhiều đau khổ trong quá khứ rồi.


- Anh đang thắc mắc, đó chỉ là một ý nghĩ thôi, không hiểu… không hiểu cơn bùng nổ của ba em có phải là vì…


Trí tưởng tượng đang đánh lừa anh hay đây là sự thật: mặt nàng đột nhiên nhợt nhạt lạ lùng, và mắt nàng đang nheo lại. Nàng không thúc giục anh nữa, vậy anh phải gắng hết sức để nói hết câu.


- Vì ba em đã có, có thể đã có… một vết tích về…


- Anh định nói về da màu chứ gì?


- Phải, Ren ạ, những người có thái độ như thế - Anthony nói nhanh vì bối rối - thường có một điều gì đó cần che giấu.


Nàng nhìn anh ngạc nhiên một lúc. Rồi nàng cười to:


- Không đâu, anh thân yêu, chẳng có chuyện như thế về chúng tôi đâu…


Nàng kìm lại song đã quá muộn. Những lời ấy vừa thốt ra khỏi miệng thì ngay lập tức nàng hoảng sợ thấy mình đã làm tổn thương Anthony biết bao, vì mặt Anthony tái nhợt đi, hai tay anh buông thõng xuống bên sườn.


Anthony thấy một màn sương trắng tràn ngập gian phòng, mang đến đôi môi run rẩy của anh dư vị chát chúa. Khi ảo ảnh đó tan đi, anh nhìn thấy rõ nỗi ân hận hiện lên trên mặt nàng, và điều đó chỉ làm anh càng thêm đau khổ, vì như vậy có nghĩa là từ nay trở đi nàng sẽ phải thận trọng trong lời ăn tiếng nói, nếu nàng không muốn làm anh đau khổ. Và nếu phải dè dặt giữ gìn như thế, nếu anh và nàng không còn dựa trên một cơ sở bình đẳng, mà dựa trên cơ sở tương phản “chẳng có điều gì như thế về chúng tôi đâu” thì làm sao họ có thể ngày càng thông cảm với nhau điều mà anh hằng khao khát? Anh sẽ làm thế nào biết được là bất kỳ lời nào của nàng lại không phải thốt ra do lòng ưu ái đối với anh hay do chính cái vực thẳm ngăn cách giữa họ?


Anh rời mắt khỏi nàng, và qua cửa sổ, anh đăm đăm nhìn mặt biển lúc này mang màu bột nhão. Một lát sau, anh cảm thấy hai cánh tay nàng ôm anh, và anh cầu nguyện rằng nàng sẽ không xin lỗi, vì nếu nàng làm như thế, thì chỉ làm anh bị tổn thương thêm.


Nhưng khi nàng thốt lên thì tất cả chỉ là mấy tiếng: “Ôi, anh Anthony…” rất dịu dàng. Rồi anh nghe tiếng nàng nức nở.


Chuông điện thoại vang lên. Anh nghiêng người, bỏ một tay ra, cầm ống nghe lên, áp vào tai.


- Alô, alô.


Anh không trả lời.


- Alô, alô, alô.


Anh nhẹ nhàng đặt ống nghe xuống. Rồi anh nói:


- Ren ơi, em phải suy nghĩ cẩn thận về toàn bộ chuyện này. Cần phải có thời gian để cho toàn bộ những hàm ý bắt đầu hiện ra trong trí não em. Một ngày, hai ngày, ngay cả một tuần cũng không đủ. Anh và em phải giải quyết vấn đề của chúng ta dưới ánh sáng của lý trí trầm tĩnh, tránh những cảm xúc ngày càng mạnh mẽ do luôn luôn gần gũi bên nhau. Bây giờ em phải về đi. Em hãy đi xa anh đi và cứ ở đấy… cho đến khi em chắc chắn, hoàn toàn chắc chắn là em muốn trở lại với anh.


Anh cầm tay nàng, đưa nàng ra. Bước đi của nàng chậm chạp và miễn cưỡng. Họ dừng lại ở cửa. Nàng nhìn anh thương hại. Anthony nói:


- Anh không đưa em về nhà thì hơn.


- Không, đừng đi, nếu anh cảm thấy thế - Nàng dâng đôi môi ấm áp cho anh. Anh co rúm lại trước nụ hôn nồng nhiệt, thiết tha của nàng - Em biết quyết định của em. Em không cần phải đi. Em sẽ trở lại - Hai mắt nàng đẫm lệ.


- Em phải đi đi - Anthony nói giọng kiên nhẫn, mệt lả - Chỉ khi nào em hoàn toàn chắc chắn thì hãy trở lại - Mặt Anthony đầy những bóng đen giày vò, đau khổ.


Tuyệt vọng, nàng quay đi.


Ngay sau khi nàng ra đi, chuông điện thoại lại vang lên. Anh bước tới chỗ máy điện thoại… nhấc ông nghe lên, đặt xuống bàn.


*


Nửa giờ sau, một chiếc ôtô đỗ lại ở bên ngoài. Người lái xe xuống xe, đi lên gian buồng đó, gõ cửa. Không có tiếng trả lời. Anh ta xoay quả đấm, cửa không khóa. Anh bước vào, song không thấy ai ở trong. Đưa mắt nhìn quanh, anh thấy ống nghe điện thoại đã đặt xuống mặt bàn, bèn gật đầu chậm rãi, mắt anh hướng theo ánh hồng của mặt trời đang lặn lọt qua cửa sổ vào trong buồng.


Rồi anh bước tới phòng làm việc, ngồi xuống, viết nguệch ngoạc:


“Anthony thân mến,


Tôi gọi điện thoại, anh không trả lời, nên đến đây để nói với anh là tôi rất khâm phục những lời của anh ở phiên tòa hôm nay và tôi luôn luôn sung sướng coi anh là bạn tôi.


Chân thành


Arthur”.


Đoạn kết.


Buổi hoàng hôn của một ngày mùa hạ nóng bức. Trừ tiếng róc rách của một con suối nhỏ, quang cảnh ở khe núi này lặng lẽ im lìm.


Nhưng giờ đây có tiếng những bước chân, tiếng lao xao của các sỏi đá, tiếng răng rắc của một cành cây, tiếng xào xạc của lá.


Người đang leo núi này trẻ và có thân hình chắc nịch. Anh mặc một bộ thường phục, mang cavát, cổ giả và đi giày.


Trên đường trở về, hai người leo núi đi qua anh. Quần áo của anh rõ ràng trái ngược với quần áo của họ. Họ mặc quần áo soóc kaki, áo sơ mi cổ bẻ, đi giày có đóng những chiếc đinh đầu to ở đế. Anh từ chối lịch sự, nhã nhặn, song kiên quyết lời đề nghị dẫn đường của họ.


Giờ đây, anh có một mình, một mình với các tảng đá, các vách đá, các dòng suối róc rách và bầu trời vươn cao.


Anh tháo cavát và cổ áo, rồi trèo lên, lên mãi, không hề nhìn lại thung lũng phía sau. Thỉnh thoảng, anh dừng lại để thở và mở phanh chiếc sơmi ướt đẫm, dính chặt vào da. Nhưng anh cứ nhìn đăm đăm lên phía trên, nhìn đỉnh núi Têhơn, cái đích anh nhằm đi tới.


Một giờ, hai giờ, ba giờ đã trôi qua… kể từ khi anh bảo nàng ra về. Chẳng bao lâu nữa, trăng sẽ mọc và vách đá dựng đứng sẽ chuyển sang màu trắng bạc. Trước khi đó, anh vẫn phải dò dẫm trong bóng tối. Cứ theo hướng lên cao, thở hổn hển, toát mồ hôi, hăm hở.


Cuối cùng là không khí tinh khiết, trong sạch của đỉnh núi, một vùng nhấp nhô gợn sóng trải rộng hàng dọc, cao hơn mặt biển hơn một nghìn mét. Nhưng cuộc hành trình của anh chưa kết thúc. Anh vẫn còn phải leo từ đỉnh hẻm núi vừa mới leo tới cái vách đứng ở phía trên, và nhìn thẳng xuống thành phố


Đến rìa một vách đứng cao, anh ngồi xuống, châm điếu thuốc lá cuối cùng. Nhờ ánh lửa que diêm, anh nhìn thấy đồng hồ chỉ mười hai giờ kém mười lăm. Anh quăng vỏ diêm xuống vực sâu, rồi đặt hai tay lên đầu gối.


Vầng trăng bán nguyệt đã mọc ở khoảng trời xa xa rọi chiếu những vách đá cheo leo, tạo nên những bóng đen quái đản trong thung lũng. Anh nhìn đăm đăm xuống. Vực thẳm bên dưới anh dường như không có đáy, nhưng anh biết rằng trong bóng tối nằm sâu thẳm bên dưới có ẩn núp nhiều tảng đá khô khốc thê lương. Xa hơn, trên những sườn thấp hơn, ánh đèn của thành phố chụm lại. Ở một chỗ nào đó, trong ánh đèn có một gian phòng lúc này tối tăm và im lặng, nơi đó vừa được tha bổng, vừa bị kết án cùng ngày hôm nay. Đó là lý do giờ đây anh đang ngồi trong bóng tối ở bên ngoài, đăm đăm nhìn xuống vầng sáng lấp lánh của những ngôi nhà.


Chòm sao Thập Tự phương nam thấp thoáng phía trên chân trời xa xa; trên đầu anh là chòm sao Oriôn và nhóm Thất Tinh đang rủ xuống. Các ngôi sao rực rỡ trên bầu trời lặng lẽ, mượt như nhung. Trên các chòm sao ở bầu trời, tất cả đều vô tận; trong thành phố, cuộc đời của con người là một khoảnh khắc. Vậy thì bây giờ hay ngày mai thì có gì quan trọng?


Tâm trí anh trở lại buổi tối hôm đó vào tháng Năm, anh gặp lại nàng sau hơn mười năm xa cách.


Ngày mai thì sao? Liệu họ có cùng nhau đi tới một đất nước mới nào đó không?


***


Nhưng ngay cả ở em, Ren à, thiên kiến màu da cũng rất thâm căn cố đế. Em không thể nào chạy trốn khỏi nó được đâu. Đi tới một đất nước khác… nó sẽ cùng đi với chúng ta, cứ nhăn nhăn nhở nhở… nó sẽ cùng ăn với chúng ta… nó sẽ leo lên chiếc giường đôi lứa.


Steve, em là một người hạnh phúc. Em đã là một đứa trẻ da màu. Trả lại bi của anh đây này, anh Anthony; chúng chẳng chịu chơi với em.


Steve ơi, em là một người da màu; em dạy học, em viết lách, em nói lên tình cảm của dân tộc em - dân tộc của anh mà anh đã chạy trốn.


Hãy xem những điều mẹ đã làm cho con, mẹ ơi. Hãy xem những điều con đã tự làm cho con. Hãy xem những gì mà sự vô nhân đạo của con người đã gây ra cho con người.


Tại sao anh không đen sẫm như em, Steve ơi? Tại sao em không trắng như anh?


***


Tôi đã chiến đấu cho tự do, cho tình anh em của con người. Có nhớ khi những viên đạn trái pháo nổ, những mảnh đạn bay không? Ẩn nấp đi! Tôi đã xem thông báo, thưa ông? Sáu người trên một chiếc xe tải đã bay xuống địa ngục, thưa ông?


Tôi ở đâu đây?


Ren ơi, em đang ở dưới ấy. Giữa những quầng sáng ấy. Ôi Ren ơi, anh phải làm gì đây?


Anthony này, bên cạnh em trai mi, mi nhỏ bé và thấp hèn.


***


Grant kia kìa. Anh ta là một người da màu. Ông Hartley  sẽ thích anh làm con rể đấy, sẽ thích đấy, nếu như…


Grant này, anh sẽ hiểu rõ việc tôi không thể để anh làm trong hãng của tôi. Chúng tôi không dùng người da màu…


Lại đây, anh Anthony, chúng tôi đã có việc cho anh, anh ơi! Nhưng sống như một người da trắng, anh không thể hòa hợp với dân tộc chúng tôi, anh ạ.


***


Phải chăng cơn bùng nổ của ba em có thể là do ba em có… một dấu vết về…


Không, anh thân yêu, chẳng có điều gì như thế về chúng tôi đâu…


Không, anh thân yêu, chẳng có điều gì như thế về chúng tôi đâu…


Không, anh thân yêu…


***


Phía trên những vách đá cheo leo trơ trụi của dãy núi Hà Lan thuộc miền Hôtantô xa xôi, một vệt sáng màu xám lấp lánh, ban đầu còn rụt rè, về sau bạo dạn hơn khi nó hòa lẫn với những màu phấn trải khắp bầu trời. Khắp phương đông đã nhuộm ánh bình minh. Màu hồng chói nhanh chóng chuyển sang màu vàng tươi, và vầng dương tỏa ra một ánh sáng yếu ớt dọc theo chân trời.


Anh đã từng ngắm nhiều cảnh bình minh như thế trên dãy núi kia. Giờ đây anh cũng ngắm nhìn, nhưng đôi mắt mệt mỏi của anh không nom thấy màu hồng, màu vàng hay màu hồng đen của các đỉnh núi quanh anh. Đối với anh, đất trời chỉ có một màu duy nhất, đó là màu chì tẻ ngắt chống lại cuộc tấn công của một ngày mới nữa vào tâm hồn anh.Bất chấp cái đau ê ẩm của đôi chân, anh thong thả đứng lên và đưa mắt xuống vách đá, đăm đăm nhìn những bóng tối đang co lại. Trên vầng trán anh giờ đây đã mất hẳn nét ưu tư vì so với những cạnh sắc lởm chởm của cuộc đời, những tảng đá trong vực thẳm dưới kia tựa như chiếc giường trải đệm lông chim còn êm dịu hơn nhiều.


 


Hết.


 


PHỤ LỤC. Vĩnh biệt Gerald Gordon, người con của Nam Phi


 Điếu văn do ông Gerald Friedman, Chánh án Tòa án Cape Town đọc tại Lễ truy điệu Gerald Gordon.


Đây là một trong những sự kiện đặc biệt, không phải duy nhất nhưng rất hiếm khi xảy ra – ngành tư pháp tổ chức lễ tưởng niệm cho một luật sư không phải đồng nghiệp. Điều này không lạ; tuy vậy, nếu nhớ lại dòng chảy lịch sử và vai trò Gerald Gordon trong quá trình ấy, nhân vật này chắc chắn được tôn vinh.


Sinh ra ở Kimberly 19/1/1909, Gerald Gordon trúng tuyển trường nam sinh trung học Kimberly năm 1925, được trao giải thưởng của trường Sư phạm Luân đôn dành cho vị trí cao nhất trong Đế chế Anh về môn Latinh và môn Hy lạp, Huân chương Kimberley Dux và học bổng De Beers and Diamond đã cho ông ta cơ hội đến Cape Towm.


Tại đây ông bắt đầu đọc sách cổ. Trong năm đầu đại học, ông ta đạt vị trí dẫn đầu môn Latin và được nhận Giải thưởng của Tổng Toàn quyền dành cho sinh viên hệ Cử nhân xuất sắc nhất. Ông ta chuyển sang học luật và cũng thành công không kém – đoạt 5 huy chương, 3 bằng khen và đạt vị trí dẫn đầu vào năm cuối khóa Cử nhân.


Năm 1930, ông nhận bằng LLB. Năm sau, ông được nhận vào phân viện Bar và trong năm cuối đại học ông đọc trong các phòng đọc cùng Joseph Herbstein, sau này là Ngài thẩm phán Herbstein.


Năm 1939, ông hoàn thành cuốn sách đầu tiên Luật Bảo hiểm của Nam Phi. Đây là thành công đặc biệt với một luật gia trẻ tuổi - ba mươi tuổi - như ông vào thời điểm phát hành cuốn sách này. Gerald chỉ ở Bar trong thời gian 5 năm.


Quá trình thực tập tại Bar bị gián đoạn bởi thế chiến thứ II. Năm 1940, ông gia nhập lực  lượng bộ binh Nam Phi với hàm binh nhì. Ông phục vụ tại vùng Bắc Phi tại phòng tình báo. Gerald được gửi trở lại Liên đoàn với tư cách nhân viên thông tin, hàm trung úy và phục viên với hàm đại úy.


Ông trở về Bar và vào năm 1949 ông nhận các lá thư công nhận là Luật sư của Vua. Bằng  kinh nghiệm của một nhân viên thông tin, Gerald Gordon đã thành lập Viện Công dân, với sự hợp tác của Leo Marquarrd và một số đồng nghiệp cũ trong Phòng thông tin của quân đội. Gerald giữ vị trí trong Hội đồng Viện và trong 17 năm qua là Chủ tịch danh dự.


Tại Bar, mặc dù Gerald Gordon chuyên về lĩnh vực thương mại, ông cũng tham gia nhiều phiên tòa như các đồng nghiệp và được biết đến như một tư vấn viên bào chữa cho nhiều phiên tòa có tiếng.


Trong thời gian Gerald Gordon ngày càng nổi tiếng ở Bar, tình hình chính trị Nam Phi thay đổi nhanh chóng. Trong bối cảnh này, Gerald Gordon giữ đường lối riêng của mình như một người đáng tin cậy luôn bảo vệ các quyền lợi của  mỗi con người, một người đấu tranh đầy nhiệt huyết cho nguyên tắc của luật pháp.


Một trong những thành công đáng chú ý của ông là trong trường hợp phiên tòa giữa Rex và ABdurahman năm 1950 (3) SA 136 (A). Những người bị buộc tội bị quy trách nhiệm kích động một số lớn người da màu đi vào toa dành riêng cho “người châu Âu” trong một chiếc xe lửa ngoại ô Cape Town. Tòa thượng thẩm tuyên bố rằng các nguyên tắc chiếu theo đó toa xe được dành riêng là không hợp lệ. Chuyện xảy ra sau khi Gerald Gordon  phản bác thành công thượng thẩm đoàn đối với trường hợp của Rex với Lusa 1953 (2) SA 434 (A), về quy định dành riêng một phòng chờ ở nhà ga Cape Town cho người châu Âu.


Cùng với các công việc bận rộn bên ngành luật, năm 1949, khi chính phủ dọa bãi bỏ các điều khoản vi phạm trong hiến pháp, Gerald Gordon đóng vai trò tích cực trong việc thành lập tổ chức bán quân sự - đội đặc công dẫn đường gồm các cựu binh chiến tranh, ông là phó chủ tịch, như trong lĩnh vực chính trị. Năm 1958, ông liên kết SEA point với tư cách là ứng cử viên đảng Tự do. Ông thất bại trong cuộc tranh cử đó.


Khỏi phải nói, những hoạt động chính trị của ông, cùng cách phát biểu thẳng thừng không e ngại đã không được nhìn nhận với thiện chí bởi những sức mạnh mà nó tạo ra. Hệ quả là ông bị giới hạn hộ chiếu và nhà ông bị lục lượng bảo an ném bom.


Năm 1974, Gerald Gordon thôi hoạt động chính thức ở Bar. Ông nắm vị trí đứng đầu Hội đồng Bar Cape trong 3 nhiệm kỳ từ 1965 đến 1972. Suốt thời gian làm tại cơ quan trong vai trò đó, ông đã trình lên chính phủ đề xuất thả những người bị tạm giam như Bram Fisscher, Albie Sachs và nhiều người khác.


Thời gian nghỉ hưu, Gerald Gordon tiếp tục hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Các bài báo tiếp tục xuất hiện về các vấn đề liên quan pháp luật đương thời, quản lý tư pháp và đặc biệt nguyên tắc luật pháp. Bài báo sau cùng xuất hiện trong tờ Thời báo Cape town vào 15/5/1998. Trong đó, với tựa đề “Hiến pháp Nam Phi có được tiền thân vị trí cao trên thế giới”, với việc đề cập vụ việc De Little của tòa án cấp cao Cape, ông đã so sánh hiến pháp mới của quốc gia với hiến pháp một số nước khác.


Trên lĩnh vực sáng tác: Cuộc đời cầm bút của Gerald Gordon có thể được chia làm hai mảng lớn – các bài viết về pháp luật và tiểu thuyết. Năm 1954, Gerald Gordon cùng với Arthur Suzman  xuất bản cuốn “Luật bảo hiểm môtô bắt buộc”. Quyến sách này, như các ấn phẩm khác của ông về bảo hiểm, được tái bản nhiều lần. Các bài viết trên báo của ông có thể được xếp vào mảng “luật pháp”.


Còn mảng kia, không kém phần quan trọng trong đời ông, Gerald Gordon xuất bản ba cuốn tiểu thuyết: Hãy để ngày ấy lụi tàn, Cơn mưa giả, và Bốn người. Các tác phẩm này được dịch sang nhiều thứ tiếng, có cả tiếng Nga.


Với niềm đam mê viết văn, đặc biệt là sự thành công của ba tiểu thuyết, ông được bầu là chủ tịch SA PEN (Một tổ chức quốc tế của các nhà thơ, nhà viết kịch, biên tập viên, và các nhà viết luận, và các tiểu thuyết gia). Với vai trò này, ông đã đề xuất với chính phủ việc bãi bỏ lệnh cấm các đơn đặt hàng người viết và các bài viết của họ.


Gerald Gordon có một cuộc sống trọn vẹn và nhiều hứng thú. Ông rất yêu thiên nhiên. Ông thích leo núi Table và leo thường xuyên cho đến vài năm gần đây. Ông bơi ở Clifton lạnh lẽo ngay sau nhà quanh năm. Ông cũng rất yêu nghệ thuật và âm nhạc.


Năm 1996, ông được trao bằng Tiến sĩ Luật danh dự bởi chính trường của ông – đại học  Cape Town.


Tôi biết Gerald Gordon 50 năm. Tôi làm việc với ông ở Bar và lấy làm kinh ngạc trước những ghi nhận hoàn hảo ông đạt được trong  cuộc đời. Ông chính là người con của Cape Bar. Ông ra đi là mất mát lớn cho tất cả chúng ta.


Thay mặt Bench, bao gồm cả những thẩm phán đã nghỉ hưu, tôi xin bày tỏ và chia sẻ với bà vợ ông - bà Nancy, và các con ông -  Stephen và Vanessa, sự cảm thông sâu sắc nhất của chúng tôi trước sự ra đi này!


Gerald Friedman


Chánh án tòa án Cape Town


Phạm Thành Hiền Thục. www.trieuxuan.info Dịch từ: Consultus, Tạp chí của Đoàn Luật sư Nam Phi. Số tháng 10-1998.


LỜI BẠT CỦA ĐẮC LÊ


Năm 1971 đang theo học lớp tiếng Anh buổi tối do thầy Bùi Ý dạy ở Hội Nhà báo Việt Nam, tôi tự nhủ mình nỗ lực học thêm bằng cách dịch một số truyện ngắn Mĩ, Âu; đó cũng là một phương pháp học ngoại ngữ. Được thầy Bùi Ý và bè bạn lớn tuổi (nhà thơ Dương Đình Hy, nhà văn Lê Phương) động viên, thế là tuyển tập truyện ngắn Mĩ Hoa dại ra đời. Nhà thơ Dương Đình Hy nhận hộ sách biếu, mang về nhà mình ở phố Cửa Bắc. Rồi chính anh Hy, nhà văn Trần Dũng, anh Học… và tôi bới đống gạch ngói đổ nát ngay trong 12 đêm không lực Hoa Kì đánh vào Hà Nội (12-1972) để cứu vớt tài sản, sách vở của nhà thơ. Hơn chục cuốn Hoa dại tả tơi trong đổ nát của đạn bom Mĩ, vẫn còn sót cùng những chữ “Kính biếu” đỏ như máu tươi mà NXB Lao Động đã đóng dấu dành cho tôi.


Tôi trở thành dịch giả như vậy…


Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, tôi đã hoàn thành dịch phẩm Hãy để ngày ấy lụi tàn. Anh Bằng Việt, một bạn học cùng lớp đệ thất, đệ lục, đệ ngũ và lớp 7 (Trường Nguyễn Trãi), đang là một nhà thơ đang thành đạt, biên tập để NXB Tác phẩm mới xuất bản năm 1976. NXB tác phẩm mới đã đưa cho anh Hoàng Túy hiệu đính lần xuất bản đầu tiên. Theo đề nghị của anh Túy, được tôi đồng ý, dịch phẩm ghi “Hoàng Túy và Đắc Lê dịch” và cái quán tính đó kéo ra tới 3 lần xuất bản nữa, kể cả cái quán tính anh Túy nhận 50% nhuận bút dịch phẩm. Lần tái bản này, anh Túy đã thừa nhận với đơn vị phát hành của NXB: không in chữ “Hoàng Túy dịch” nữa. Thế là sau 20 năm, sự vật đã được gọi đúng tên của nó, chấm dứt việc “cố tình làm sai lệch hồ sơ gây hậu quả…”.


Hãy để ngày ấy lụi tàn đã được tái bản 1981 (theo kế hoạch 2), lần này tôi tự hiệu đính. Năm 1986, tôi vừa trải qua một tai nạn lớn từ cõi chết trở về, thì cuối năm nhận được giấy mời của nữ giám đốc Thư viện tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Thanh Toàn, có cả tiền mua vé máy bay khứ hồi và tiền trọ một tuần khách sạn từng ghi dấu ấn lịch sử Palace (Đà Lạt) để vào đấy nói chuyện giới thiệu cuốn Hãy để ngày ấy lụi tàn vừa được Công ty phát hành sách Lâm Đồng liên kết với NXB Tác phẩm mới in lần thứ 4 nhân dịp kỉ niệm 10 năm thành lập Công ty. Nhân đó, tôi mới được biết NXB Tác phẩm mới đã liên kết với NXB An Giang in lần thứ 3 năm 1982!


Để “trả nợ miệng” và trả nợ “bay”, tôi lại mở miệng “diễn thuyết” tiếp 2 buổi nữa về “Truyện Kiều” và “Dịch thơ tình” ở Đà Lạt mộng mơ, nên tôi thu thập được 2 bài thơ tình và một mối tình, còn nhuận bút thực tế bằng tiền thực tế vẫn chưa được lĩnh, nhưng trong lòng rất vui.


Nhiều năm nay, tôi không lưu tâm tới dịch sách và in sách nữa, mà lưu ý tới các cuốn sách giáo khoa học tiếng Anh bằng thơ và kiếm sống, trong “Ngôi nhà kỳ dị nhất Hà Nội” cao hơn 20m ở Đê Tô Hoàng; không còn một bản dịch nào của cuốn sách Hãy để ngày ấy lụi tàn qua 4 lần xuất bản gần mười vạn cuốn…


Tình cờ, mấy tháng trước do cơ duyên nào đó, một cố nhân thích thú cuốn tiểu thuyết Hãy để ngày ấy lụi tàn, tìm gặp tôi. Thế là qua “mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình”, “cố nhân” lại được thay bộ áo mới, “cán láng” bóng lộn ở nhà xuất bản cũ mang tên mới NXB Hội Nhà văn để các bạn “mua vui cũng được một vài trống canh”…


Lai lịch dịch phẩm Ăng Lê “vang bóng một thời” này chứng tỏ “cung bằng hữu” của tôi rất tốt theo như lá tử vi của tôi “Tân biến vi toan”: “Khuê ly mới biết tân toan dường này”…


Nhân dịp tái bản có bổ sung, sửa chữa một lần nữa này, xin cảm ơn bạn đọc, bạn bè, các cố nhân, “Cố nhân chẳng biết làm sao ấy/ Rặt những tin đồn chuyện viển vông”.


Đắc Lê


Nguồn: Hãy để ngày ấy lụi tàn. Tiểu thuyết của Gerald Gordon. Đắc Lê dịch từ nguyên bản tiếng Anh Let the day perish. NXB Ngoại văn, Moscow, 1961. Tên sách lấy một câu từ Cựu ước: Let the day perish where in I was born (Hãy để ngày ấy lụi tàn, ngày mà tôi sinh ra đời và đêm mà người ta nói rằng đã có một con người được kết thành thai...). NXB Văn học in lần thứ sáu, 12-2010.


www.trieuxuan.info


 ------------


1 Lời của Giôp, ghi trong Kinh Thánh, phần Cựu Ước.



 



 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »