tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20783377
Tiểu thuyết
10.10.2017
Boleslaw Prus
Búp bê



Chương 13: Những trò chơi quý tộc


Cuối cùng thì ngày đua ngựa cũng  đến, một ngày đẹp trời, không nắng nóng. Vôkulxki bật dậy từ lúc năm giờ sáng, lập tức phóng ngay đến trại ngựa  thăm chú ngựa yêu quý của mình. Nó chào đón ông khá lạnh nhạt, song nhìn nó khỏe mạnh, còn ông trưởng trại Miller thì mặt mũi phởn phơ.


- Thế nào? - ông ta cười cười, vỗ vai Vôkulxki. - Nóng ruột quá phải không, ông bạn? Chắc hẳn con người thể thao đang trỗi dậy trong ông! Xin thưa với ông, ở đây chúng tôi bao giờ cũng như ngồi trên đống lửa suốt cả chặng đua. Chúng ta cuộc nhau năm mươi rúp, ông nhận lời chứ? Tôi cảm thấy như có khoản tiền này trong túi, ông có thể trả cho tôi ngay từ bây giờ được rồi.


- Tôi sẽ trả và rất lấy làm hân hạnh được trả - Vôkulxki nói,đoạn nghĩ thầm: “Liệu con ngựa này có chiến thắng không? Liệu tiểu thư Izabela sẽ yêu ta chăng? Liệu có  bất trắc xảy ra không? Nếu con ngựa chẳng may gãy chân thì sao? Mấy tiếng đồng hồ buổi sáng trôi đi vô cùng chậm chạp. Vôkulxki chỉ ghé vào cửa hàng một lát. Trong lúc ăn trưa ông không sao nuốt trôi được thức ăn, ông muốn quên đi mọi chuyện bằng cách bỏ ra công viên Saski. Nhưng rồi bao ý nghĩ trong đầu vẫn không buông tha ông. “Con ngựa kia có thắng cuộc không và tiểu thư Izabela có yêu ta không nhỉ?”. Nhưng cuối cùng ông đã làm chủ được bản thân, lên xe đi khỏi nhà vào khoảng năm giờ chiều.


Trên đại lộ Ujazdowskie khi đó đã tấp nập ngựa xe, đến mức có đoạn xe đi chậm như rùa và ở các ngã tư còn xảy ra kẹt xe, khiến ông phải chờ đến mười lăm phút, lòng kiên trì suýt nữa thì cạn kiệt trước khi xe ngựa của ông ra khỏi trung tâm thành phố để đến trường đua ở Môkôtôv.


Ở chỗ đường rẽ Vôkulxki nghiêng người, qua lớp bụi mỏng màu vàng đang tạt vào mặt và quần áo mình, ông đưa mắt nhìn trường đua. Cả một khu vực rộng lớn khiến ông có cảm giác không giới hạn, đồng thời cũng không mấy dễ chịu, bởi ở đây con người dễ choáng ngợp, mất tự tin vào bản thân mình. Phía xa xa trước mặt, Vôkulxki nhìn thấy dòng người dài dằng dặc đang dồn vào một hình bán nguyệt, hình bán nguyệt này mỗi lúc một phình ra vì  người vẫn tiếp tục dồn đến.


Cuối cùng ông cũng tới nơi,  phải mất thêm mười phút nữa anh hầu mới mua được vé đem về. Xung quanh chiếc xe của ông đã có một đám đông khán giả không có vé cùng tiếng hò reo của cả ngàn giọng điệu, còn Vôkulxki hình dung rằng tất cả mọi người chỉ nói về con ngựa của ông và mỉa mai gã thương gia tự nhiên phởn chí chơi trò đua ngựa.


Cuối cùng xe ngựa của Vôkulxki cũng được phép vào trong. Ông nhảy xuống xe, chạy nhanh đến chỗ con ngựa của mình, cố giữ vẻ bình thản bên ngoài của một khán giả vô tư.


Sau một hồi tìm kiếm, ông đã đến được với con ngựa. Nó đang đứng giữa trường đua. Bên cạnh nó là các ông Miller và Sulxơ, anh chàng nài ngựa đua ngậm chiếc tẩu to tổ bố trong miệng, đội mũ vàng sọc xanh, áo khoác vắt vai. Con ngựa của ông, giữa khoảng trống bao la và đối lập với  đám đông không đếm xuể, trông nhỏ bé và tiều tụy, đến mức ông cảm thấy chán nản, chỉ muốn quẳng mọi thứ, quay về nhà nghỉ ngơi cho khỏe. Nhưng ông Miller và Sulxơ thì mặt mũi hớn hở lạ thường.


- Ôi, cuối cùng ngài đã đến, - trại trưởng kêu lên, đưa mắt về phía anh nài ngựa đua, nói thêm - Tôi xin giới thiệu để các vị làm quen với nhau: anh Yung, tay nài ngựa đua xuất sắc nhất toàn quốc và ngài Vôkulxki.


Anh nài ngựa đua đặt hai ngón tay lên vành chiếc mũ vàng sọc xanh, còn tay kia rút chiếc tẩu ra khỏi miệng, nhổ phì phì qua kẽ răng.


Vôkulxki  thừa nhận trong bụng rằng chưa bao giờ ông nhìn thấy trong đời một người đàn ông gầy gò và nhỏ bé như vậy. Ông còn phát hiện thêm anh chàng này giống hệt con ngựa của ông từ đầu đến chân, và đôi chân vòng kiềng của anh ta luôn làm động tác như thể anh ta đang có ý định nhảy ngay lên ngựa phóng đi.


- Này anh Yung, xin anh nói cho một lời, chúng ta có thể thắng cuộc hay không? - trại trưởng hỏi.


- Ồ! - anh chàng nài ngựa đua trả lời.


- Những con ngựa kia cũng không tồi đâu, nhưng con ngựa của ta quá tuyệt vời, - trại trưởng lại nói.


- Ồ! - anh chàng nài ngựa đua xác nhận.


Vôkulxki kéo anh ta sang một bên rồi nói:


- Nếu chúng ta thắng cuộc, tôi sẽ đưa anh thêm năm mươi rúp ngoài hợp đồng.


- Ồ! - anh chàng nài ngựa đua  thốt lên rồi ngắm nghía Vôkulxki, sau mới nói thêm:


- Ngài đúng là nhà thể thao thật sự, song vẫn nôn nóng. Phải đợi đến sang năm ngài mới có thể bình tĩnh hơn.


Nói đoạn anh ta nhổ một bãi nước bọt ra xa bằng khoảng cách từ đầu đến đuôi con ngựa và lẳng lặng đi về phía khán đài, còn Vôkulxki, sau khi chia tay các ông Miller, Sulxơ và vuốt ve lần cuối con ngựa, đã trở về chỗ xe ngựa của mình.


Bây giờ ông bắt đầu đưa mắt tìm kiếm tiểu thư Izabela.


Ông đi quanh suốt một hàng dài những cỗ xe ngựa đỗ dọc đường tàu, ngắm kỹ từng con ngựa, từng nhóm người giúp việc, ngó vào từng bà đầm ngồi dưới ô che, nhưng chẳng thấy tiểu thư Izabela đâu.


“Hay là nàng không đến?” - ông tự hỏi, dường như toàn bộ  quảng trường chật cứng người này đang cùng ông nghiêng ngả trên mặt đất.          Ông đổ ra bao tiền của để làm gì nếu nàng không tới. Hay mụ Meliton độc địa đã câu kết với gã Marusievich lừa dối ông?


Ông bước lên cầu thang dẫn đến khán đài của trọng tài và nhìn bốn phía. Vô ích. Khi từ đó đi xuống, ông bị hai gã đàn ông, trong đó một gã cao to,  mang đầy đủ dáng vẻ  một nhà thể thao, quay lưng lại, ngáng mất đường. Một gã cao giọng:


- Từ mười năm nay  đọc báo, thấy người ta kêu ca bọn ta sống xa hoa lãng phí, ta cũng muốn thay đổi bản thân và bán trại ngựa đi. Vậy mà bây giờ ta thấy có người hôm qua vừa trở nên giàu sang, ôm khối tài sản kếch sù, hôm nay thả ngựa vào cuộc đua. Ha! Ta nghĩ các người cũng chỉ là những chú chim thôi, đúng không? Các người rao giảng với chúng ta về đạo đức, song khi có cơ hội thì cũng hành động hệt như lũ chúng ta. Đã đến nước này thì ta chẳng tội gì phục thiện,  chẳng dại gì bán trại ngựa, chẳng dại gì…


Gã đi cùng hắn, khi thấy Vôkulxki, đã huých tay vào sườn bạn, khiến người này ngừng nói. Nhân thời điểm đó, Vôkulxki định vượt qua, song gã cao to đã giữ ông lại.


- Xin lỗi ngài, - hắn cất lời và chạm nhẹ ngón tay vào mũi ông - tôi mạo muội nêu vài lời lưu ý. Tôi là Vgiêsinxki…


- Hân hạnh được nghe những lời chỉ giáo - Vôkulxki mỉm cười trả lời - bởi vì tôi cũng nghĩ  thế. Vả lại, tôi đến xem đua ngựa lần đầu tiên và cũng là lần cuối  trong đời.


Hai người bắt tay nhau, và ngay sau khi Vôkulxki vừa đi khỏi được mấy bước, gã có dáng vận động viên nói lí nhí với theo:


- Một con người đầy nhiệt huyết…


Mãi đến lúc này Vôkulxki mới mua tờ chương trình thi đấu, với cảm giác hơi xấu hổ, ông đọc dòng thông báo rằng trong lượt đua thứ ba, con Sultanka, chạy sau con Ali và Klara, là con ngựa thuộc quyền sở hữu của ông X.X., do tay nài ngựa Yung, mặc cái áo có thân màu vàng, hai cánh tay màu xanh, điều khiển. Phần thưởng là ba trăm rúp, ngay sau cuộc đua, ngựa được bán tại chỗ.


“Ta điên mất rồi!” - Vôkulxki lí nhí trong miệng khi đi về phía phòng tranh. Ông nghĩ tiểu thư Izabela sẽ ở đó. Nếu không gặp nàng, ông sẽ lập tức bỏ dở cuộc đua về nhà.


Trong ông tràn ngập nỗi bi quan. Ông có cảm tưởng những phụ nữ quanh mình  xấu xí,  ăn vận trang phục màu sắc kì dị, cách làm đỏm thật khó chịu, còn cánh đàn ông thì ngu ngốc, nhìn chung, đám đông  thô thiển, âm nhạc chói tai. Trong lúc bước chân vào phòng tranh, ông bật cười vì các bậc cầu thang ọp ẹp của nó cùng bức tường cũ kĩ, trên đó có thể nhìn rõ dấu vết sau mỗi trận mưa. Những người quen ông kính cẩn cúi chào, phụ nữ mỉm cười với ông, đây đó có tiếng thầm thì: “Nhìn kìa! Nhìn kìa!” Nhưng ông hoàn toàn không để ý. Ông đứng lên chiếc ghế cao nhất trong phòng tranh, từ vị trí cao hơn đám đông huyên náo mỗi người một vẻ ấy, ông nhìn qua ống nhòm ra tận con đường dẫn đến thành phố, nơi đám bụi màu vàng đang cuộn lên.


“Không hiểu những phòng tranh này hoạt động gì suốt một năm?” - ông nghĩ. Ông tưởng tượng ra đêm nào trên những chiếc ghế ọp ẹp ở đây những người bị phá sản đã chết cũng về ngồi. Cùng với họ là gái điếm, bọn vô công rồi nghề đủ loại, những kẻ  bị hành hình, thậm chí bị đuổi khỏi địa ngục và dưới ánh sáng yếu ớt của các vì sao, bọn họ chăm chú theo dõi cuộc đua của những bộ xương ngựa (những con ngựa đã chết trên đường đua này). Dường như ngay trong lúc này ông vẫn nhìn thấy trước mặt mình những trang phục mục nát, cảm thấy mùi hôi thối bốc lên.


Tiếng reo hò, tiếng chuông rung và tiếng vỗ tay khiến ông sực tỉnh. Cuộc đua  đầu tiên đã bắt đầu. Bất giác ông nhìn xuống đường đua, thấy chiếc xe ngựa của nữ bá tước đang tiến vào nơi diễn ra cuộc đua. Trên xe, nữ bá tước ngồi cùng bà lớn, ở phía trước, ngài Tomas Oenxki ngồi với con gái.


Vôkulxki không hiểu mình từ phòng tranh chạy xuống lúc nào maf đứng cạnh một chiếc bánh xa. Có ai đó chạm vào người ông, hỏi vé ông… Ông cứ thế chạy thẳng, lát sau đã tới chỗ cỗ xe. Người hầu của nữ bá tước cúi chào ông từ trên xe, còn ngài Oenxki thì gọi to:


- A, anh Vôkulxki đây rồi!Trước hết Vôkulxki chào hỏi các quý bà,


bà lớn  nắm chặt tay ông đầy hàm ý, sau đó ngài Oenxki hỏi:


- Này anh Vôkulxki, có đúng là anh đã mua con ngựa  nhà Ksêsôvxki không?


- Thưa đúng ạ.


- Vậy anh có biết anh đã cho lão ta một vố đau, và đem đến cho con gái tôi một bất ngờ thú vị…


Tiểu thư quay sang phía ông, nở nụ cười tươi rói:


- Cháu đánh cuộc với cô, - nàng nói - rằng nam tước sẽ không giữ được con ngựa cho đến cuộc đua, em đã thắng. Lần thứ hai, em cuộc với bà con ngựa ấy sẽ thắng cuộc…


Vôkulxki đi vòng quanh chiếc xe ngựa, đến bên tiểu thư Izabela. Nàng vẫn chưa kể hết câu chuyện của mình:


- Thực ra cả nhà chỉ đi xem một cuộc đua ngựa này thôi, nhất là em và bà đấy. Cô thì lúc nào cũng làm ra vẻ không thích xem đua ngựa. Ôi,  nhất định ông phải thắng cuộc đấy!


- Nếu tiểu thư muốn, tôi sẽ thắng, - Vôkulxki đáp, nhìn nàng với vẻ ngạc nhiên. Chưa bao giờ ông thấy  Izabela đẹp như lúc này, khi nàng đang trong trạng thái sốt ruột cực độ. Ông cũng chưa bao giờ mong ước sẽ có lúc nàng trò chuyện với ông tự nhiên như bây giờ.


Ông ngước nhìn những người có mặt. Bà lớn tỏ ra hài lòng, nữ bá tước cười tươi, còn ngài Oenxki rạng rỡ. Anh hầu của nữ bá tước thì thầm đánh cuộc với tay đánh xe rằng nhất định Vôkulxki sẽ thắng. Xung quanh họ rộn rã niềm vui và nụ cười. Các phòng tranh, đám đông, những cỗ xe ngựa cũng vui lây. Những phụ nữ vận trang phục nhiều màu bỗng đẹp hơn, tựa như hoa, và sinh động hơn, như lũ chim non. Nhạc chơi sai nốt, nhưng vui nhộn. Ngựa hí, các vận động viên đánh cuộc, chiêu đãi nhau bia, cam và bánh gối. Cả vầng dương, bầu trời, trái đất đều vui, Vôkulxki thấy mình ở trong một tâm trạng kỳ lạ đến mức  muốn ôm lấy tất cả, ôm trọn mọi người vào lòng.


Cuộc đua thứ hai đã diễn ra, nhạc lại nổi lên. Vôkulxki chạy xuống khán đài, và khi gặp Yung vừa đi kiểm tra cân nặng của ngựa đua, trên tay cầm yên cương, ông nói thầm vào tai anh ta:


- Anh Yung này, chúng ta buộc phải thắng! Một trăm rúp mời hợp đồng… Nhớ đừng ngã cả người lẫn ngựa.- Ồ! - anh nài ngựa đua khẽ kêu lên, nhìn Vôkulxki với vẻ vừa ngạc nhiên vừa lạnh lùng.


Vôkulxki lệnh cho người đánh xe đưa chiếc xe ngựa của mình gần lại với xe nữ bá tước, rồi ông trở lại chỗ các bà. Điều đập vào mắt ông đầu tiên là quanh họ chẳng có ai. Thực ra, hầu tước và nam tước đã tiến sát đến xe của họ song bị tiểu thư Izabela tiếp đón lạnh nhạt, một lúc sau họ đành lùi ra xa. Còn đám thanh niên chỉ cúi chào từ xa rồi lảng dần.


“Ta hiểu ra rồi, - Vôkulxki nghĩ. - Thông tin bán đấu giá ngôi nhà đã làm họ cảnh giác. Còn bây giờ, - ông lấy lại tinh thần và nhìn tiểu thư Izabela - nàng sẽ thấy rõ ai thật sự yêu nàng, chứ không phải yêu tài sản của nàng”.


Tiếng chuông báo hiệu cuộc đua thứ ba vang lên. Tiểu thư Izabela  đứng hẳn dậy, trên khuôn mặt nàng xuất hiện những vầng đỏ hồng. Cách chỗ nàng mấy bước, trên lưng con Sultanka, Yung ngồi chễm chệ với nét mặt của một người không lúc nào vui.


- Hãy chơi đẹp nhé, ơi con tuấn mã của ta! - tiểu thư Izabela reo lên như đứa trẻ.


Vôkulxki nhảy lên xe ngựa của mình, mở ống nhòm ra. Ông mải mê theo dõi cuộc đua đến quên cả sự có mặt của tiểu thư Izabela bên cạnh. Thời gian như ngừng trôi. Mấy giây dài dằng dặc như cả tiếng đồng hồ. Ông cảm thấy mình gắn chặt với ba con ngựa đua đang phi dưới kia, mỗi động tác thừa của chúng đều cào cấu cơ thể ông. Dường như con ngựa của mình thi đấu thiếu lửa, còn anh nài ngựa Yung  quá thờ ơ với nhiệm vụ của mình. Tình cờ ông nghe những người đứng xung quanh bình luận:


- Yung lấy đà đấy!


- Nhưng này,  hãy nhìn con ngựa vàng nhạt bờm


đen.


- Tớ cuộc với cậu mười rúp đấy, Vôkulxki nhất định sẽ thắng, để tớ búng mũi mấy lão bá tước ấy.


- Ksêsôvxki chắc sẽ tức điên lên.Có tiếng chuông vang lên. Ba con ngựa phi


nước đại lao lên.


- Yung dẫn đầu…


- Thế thì ngu rồi!


- Họ đã vượt qua chỗ rẽ.


- Ở khúc quanh thứ nhất, con ngựa vàng


nhạt bờm đen bám ngay sau.


- Khúc quanh thứ hai, lại vượt lên rồi …


- Nhưng con vàng nhạt đang lên.


- Áo bu dông tím tụt lại.- Khúc quanh thứ ba, nhưng


Yung không làm gì được những người kia.


- Con vàng nhạt bám theo…


- Nhìn kìa! Nhìn kìa! Tay áo tím bám sát con


vàng nhạt.


- Con vàng nhạt chạy cuối cùng, ông thua rồi nhé!


- Tay áo tím đang bám sát Yung.


- Không theo kịp đâu, cậu này luyện ngựa kỹ lắm.


- Nhưng… Nhưng… Hoan hô Yung! Hoan hô Vôkulxki! Ngựa lao nhanh như thác!


- Hoan hô! Hoan hô!


Chuông vang lên. Yung thắng. Anh vận động


viên cao kều cầm lấy dây cương con ngựa và dẫn nó đi qua khán đài, trước hàng ghế trọng tài, kêu thật to:


- Con Sultanka! Kỵ sĩ Yung! Chủ nhân giấu tên!


- Giấu tên là thế nào? Vôkulxki đấy! Hoan hô Vôkulxki! - đám đông gào lên.


- Người chủ là ông Vôkulxki! - anh chàng cao kều nhắc lại rồi dẫn con ngựa đi bán đấu giá.


Đám đông bỗng ủng hộ cuồng nhiệt Vôkulxki. Chưa có cuộc đua nào khuấy động người xem như cuộc đua này. Mọi người hả hê vì một thương gia thủ đô đã chiến thắng một cùng lúc hai vị bá tước.


Vôkulxki lại gần xe ngựa của nữ bá tước. Ngài Oenxki và mấy bà lớn tuổi nhiệt liệt chúc mừng ông, riêng tiểu thư Izabela im lặng.


Đúng lúc đó, tay vận động viên cao kều chạy


đến.


- Thưa ông Vôkulxki, - anh ta nói - đây là toàn bộ số tiền, gồm ba trăm rúp tiền thưởng và tám trăm rúp tiền bán ngựa. Tôi đã mua nó…


Vôkulxki cầm gói tiền quay về phía tiểu thư Izabela:


- Tiểu thư có cho phép tôi được trao số tiền này để góp phần bảo vệ các quý bà?


Tiểu thư Izabela nhận gói tiền với nụ cười tươi cùng ánh nhìn tuyệt đẹp.


Đúng lúc ấy, có người chạm mạnh vào người Vôkulxki làm ông suýt ngã. Đó chính là nam tước Ksêsôvxki. Mặt tái ngắt vì tức giận, nam tước đến gần chiếc xe ngựa, đưa tay về phía tiểu thư Izabela và nói tiếng Pháp:


- Ta rất mừng, cô em họ ạ, những người ngưỡng mộ em đã chiến thắng. Ta chỉ lấy làm tiếc rằng họ chiến thắng trên xương máu của ta. Xin chào các quý bà! - ông ta nói thêm, cúi chào nữ bá tước và bà lớn.


Khuôn mặt nữ bá tước chuyển thành màu nâu xám, ngài Oenxki lúng túng, tiểu thư Izabela tái mặt. Nam tước, bằng động tác xấc xược, nâng cái kính gập mũi vừa sệ xuống của mình lên rồi nhìn thẳng vào tiểu thư Izabela, nói tiếp:


            - Thế đấy! Ta đặc biệt có duyên với những kẻ ngưỡng mộ cô em họ…


            - Nam tước… - bà lớn ngắt lời.


- Tôi có nói gì xấu xa đâu! Tôi chỉ nói rằng tôi có


duyên với…


Vôkulxki đứng ngay đằng sau, lấy tay vỗ vai nam


tước.


            - Một lời thôi, ngài nam tước, - ông nói.


            - A, thì ra ngài, - nam tước nói và nhìn ông chằm chằm.


            Họ cùng nhau đứng sang một bên.


            - Ngài đã động vào người tôi, thưa ngài nam tước…


            - Xin lỗi ông!


            - Điều đó đối với tôi chưa đủ.


            - Vậy ông muốn được hài lòng hơn? - nam tước hỏi.


- Chính thế.


- Vậy thì tôi xin phục vụ, - nam tước vừa nói vừa lục tìm danh thiếp. - Ồ, quỷ quái thật! Tôi không mang theo danh thiếp. Ông có cuốn sổ và bút chì không, ông Vôkulxki ?


Vôkulxki đưa cho nam tước tấm danh thiếp của mình và cuốn sổ để nam tước ghi vào đó địa chỉ, tên họ, sau khi  không quên tận dụng cơ hội để thể hiện thái độ coi thường của mình qua vài động tác.


- Tôi sẽ rất hân hạnh, - nam tước nói thêm khi cúi chào Vôkulxki  - được hoàn thành nốt những việc cần thiết liên quan đến khoản tiền bán con Sultanka của tôi…


- Tôi sẽ cố gắng để ngài nam tước được hài lòng.


Hai người chia tay nhau bằng những động tác cúi chào rất đẹp.


- Tất nhiên là sẽ có  ẩu đả rồi! - ngài Oenxki, khi chứng kiến hai người tỏ ra lịch sự với nhau, đã buồn rầu nói với mọi người. Nữ bá tước tức giận ra lệnh đánh xe đưa mọi người về nhà, không chờ đến lúc các cuộc đua kết thúc. Vôkulxki vừa kịp chạy lại xe tạm biệt các quý bà. Trước khi ngựa chạy, tiểu thư Izabela  nghiêng người chìa mấy ngón tay để Vôkulxki chạm vào và nói thầm bằng tiếng Pháp:


- Cảm ơn ông!


Vôkulxki đứng ngây người vì sung sướng. Ông ở lại xem thêm một cuộc đua nữa, nhưng chẳng nhìn thấy gì, chẳng biết điều gì đang diễn ra xung quanh và, tận dụng phút giải lao, ông lặng lẽ rút lui.


Từ trường đua, ông lên xe đến thẳng nhà bác sĩ Suman. Bác sĩ lúc đó đang ngồi bên cửa sổ, mặc chiếc áo vải bông mà bình thường người ta chỉ khoác ban đêm, sửa bản in tài liệu khảo cổ học dài ba mươi trang mà để viết ra ông phải sử dụng khoảng một ngàn kết quả quan sát của mình và bốn năm ròng. Đây là công trình nghiên cứu màu sắc và dạng tóc của cư dân sống tại vùng đất được gọi là Vương quốc Ba Lan. Vị bác sĩ bác học đã lớn tiếng khẳng định công trình này nhiều lắm cũng chỉ được in thành hơn một chục bản, nhưng lại ngấm ngầm nhân nó thành bốn ngàn bản và tin chắc nó sẽ được in lần thứ hai. Mặc dù hay mỉa mai cái chuyên môn hẹp mà mình yêu thích và hay kêu ca rằng chẳng mấy ai quan tâm đến nó, song trong sâu thẳm lòng mình, ông Suman vẫn tin rằng trong thế giới văn minh, không ai không quan tâm  tới màu tóc và mối quan hệ giữa độ dài và bán kính của sợi tóc. Chính trong lúc này ông đang cân nhắc xem có nên viết ngay trên đầu công trình câu châm ngôn: “Hãy cho tôi xem tóc bạn, tôi sẽ nói  bạn biết bạn là ai”.


Khi Vôkulxki bước vào phòng ông bác sĩ và mệt mỏi ngồi phịch xuống ghế, ông Suman mở lời:


- Sao lại có những người sửa bản in kém cỏi đến thế là cùng! Bài của tôi có vài trăm con số với dấu thập phân, cậu có hình dung được không, đến một nửa bị in sai. Họ nghĩ rằng một phần ngàn, thậm chí một phần trăm của một milimét chẳng có ý nghĩa gì, và họ, bọn người ngoại đạo ấy, không biết rằng chính cái đó mới chứa đựng ý nghĩa lớn lao nhất của vấn đề. Tôi thề rằng quỷ sẽ tha ma sẽ bắt tôi đi nếu ở đất nước Ba Lan này lại có điều kiện thuận lợi giúp phát minh ra một cái gì đó, thậm chí có thể in ấn một bảng lôgarit ra hồn. Một anh chàng thuộc loại khá nhìn con số thập phân thứ hai đã toát mồ hôi , đến số thứ năm là phát sốt phát rét lên, gặp con số thứ bảy thì như bị một đòn chí mạng… Sao, chỗ cậu có chuyện gì mới không?


- Tôi sẽ  đấu súng.


Ông bác sĩ bật dậy khỏi ghế, chạy nhanh đến chỗ Vôkulxki đang ngồi, nhanh đến nỗi hai vạt áo tung lên như đôi cánh dơi.


- Sao? Đấu súng à?! - ông kêu to, hai mắt long lên. - Hay  cậu nghĩ tôi sẽ tháp tùng cậu trong vai trò một ông bác sĩ? Hay tôi sẽ giương mắt nhìn xem con nào trong số hai con chim đầu rìu sẽ mổ vỡ đầu đối thủ để  còn nhảy vào băng bó? Không bao giờ tôi nghĩ đến chuyện tham dự vào cái trò hề ấy - ông gầm lên, đưa hai tay giữ chặt lấy đầu.


- Vả lại tôi có phải  bác sĩ phẫu thuật đâu. Chưa kể  tôi đã chia tay y học từ lâu rồi…


- Ông sẽ không tham gia với vai trò bác sĩ mà chỉ là người tháp tùng.


- À, như thế thì vấn đề hơi khác, - ông bác sĩ nói, giọng không rền rĩ nữa. - Cậu đấu súng với ai vậy?


- Với nam tước Ksêsôvxki.


- Lão bắn tốt đấy! - bác sĩ nói nhỏ, động đậy môi dưới. - Tranh chấp về cái gì thế?


- Lão xúc phạm tôi trong cuộc đua ngựa.


- Trong lúc đua… đua… ngựa sao? Vậy cậu làm gì trong cuộc đua ngựa ấy?


- Tôi cho ngựa của mình tham dự và được giải.


Ông Suman đưa tay lên đập đập vào gáy mình, bỗng nhiên ông lấy hai ngón tay vành mắt Vôkulxki ra như một bác sĩ nhãn khoa.


- Ông nghĩ là tôi điên hay sao? - Vôkulxki hỏi.


- Chưa điên. Nhưng, - ông nói sau một lát im lặng - điều cậu vừa nói là đùa hay thật đấy?


- Hoàn toàn nghiêm túc. Tôi hoàn toàn không muốn lươn lẹo nên tôi đề nghị những điều kiện khắt khe.


Ông bác sĩ quay về bàn  mình, ngồi xuống, chống tay lên cằm. Sau một hồi suy nghĩ, ông nói:


- Vì một con đàn bà chứ gì? Thậm chí hai gã gà trống đánh nhau chỉ vì một…


            - Ông Suman, ông ăn nói cho cẩn thận… - Vôkulxki  ngắt lời ông bác sĩ bằng một giọng cố kìm nén, rồi sửa lại tư thế ngồi trên ghế.


            Ông bác sĩ lại ngắm nghía Vôkulxki với thái độ dò xét.


            - Vậy là quyết định rồi hả? - ông nói lí nhí. - Thôi được. Tôi sẽ tháp tùng cậu. Cậu sẽ phải bắn lão vào đầu, bắn lão ngay khi cậu đứng bên cạnh tôi, tôi có thể giúp cậu điều gì đó.


            - Tôi sẽ cử lão Giexki đến gặp ông ngay tại đây, - Vôkulxki  nói, nắm chặt tay ông bác sĩ.


            Từ chỗ bác sĩ Suman, Vôkulxki về thẳng cửa hàng, nói với lão Giexki mấy câu rồi về nhà, sau đó ông đi nằm từ khi chưa đến mười giờ. Ông lại ngủ say như chết. Đối với Vôkulxki, một con người có tính cách hổ báo như thế, rất cần phải có những cảm giác mạnh. Chỉ khi chúng xuất hiện thì tâm hồn bị giằng xé của ông mới lấy lại  cân bằng.


            Ngày hôm sau, vào khoảng năm giờ chiều, lão Giexki cùng bác sĩ Suman đánh xe đến gặp vị bá tước có phong cách Ăng-lê, người được cử làm nhân chứng của nam tước Ksêsôvski. Hai người bạn thân của Vôkulxki yên lặng trong suốt thời gian đi đường, chỉ duy nhất một lần lão Giexki lên tiếng:


            - Bác sĩ nghĩ thế nào về chuyện này?


            - Thì tôi đã nói rồi đấy, - ông Suman trả lời. - Chúng ta đang đến gần màn kịch thứ năm. Hoặc là đoạn cáo chung của một con người dũng cảm hoặc là mở đầu của một chuỗi ngu ngốc…


            - Sự ngu ngốc tồi tệ, bởi mang tính chính trị, - lão Giexki bổ sung.


            Bác sĩ nhún vai, nhìn sang phía kia cỗ xe ngựa. Ông không chịu nổi lão Giexki khi lão nói đến những chuyện chính trị muôn thuở của lão.


            Vị bá tước học đòi phong cách người Anh đã chờ họ cùng với một vị quân tử khác lúc nào cũng mơ màng nhìn qua cửa sổ ngắm mây bay, cứ mấy phút lại động đậy thanh quản như muốn nuốt cái gì đó trong họng một cách khó khăn. Ông ta mang bộ mặt của một người thiếu tỉnh táo, nhưng trong thực tế lại là người chẳng tầm thường chút nào, vì ông ta là người săn hổ và chuyên gia rất uyên thâm về Ai Cập cổ đại.


            Trong phòng làm việc của ông bá tước học đòi, một cái bàn được đặt ở giữa, phủ tấm vải xanh và xung quanh có bốn chiếc ghế chân cao, trên bàn có bốn tờ giấy, bốn cái bút chì, hai ngòi bút, một lọ mực cỡ to đến mức dễ khiến người ta nghĩ nó là cái chậu tắm.


            Khi mọi người ngồi cả vào bàn, bá tước lên tiếng:


            - Thưa các quý vị, - ông nói - nam tước Ksêsôvski thừa nhận có thể ngài đã động vào người ông Vôkulxki  do ngài đãng trí, tếch! Và theo yêu cầu của chúng tôi


            Nói đến đây ông đưa mắt nhìn người cùng phía với mình, ông này khi ấy có bộ mặt nghiêm trang vì đang nuốt cái gì đó trong cổ họng.


            - Theo yêu cầu của phía chúng tôi, - bá tước nói tiếp - nam tước sẵn sàng… xin lỗi, thậm chí bằng giấy trắng mực đen, ông Vôkulxki, một con người mà chúng tôi vô cùng kính trọng, tếch…


            - Các quý vị nghĩ thế nào?


            - Chúng tôi không được ủy nhiệm quyết định bất cứ bước đi riêng rẽ nào, - lão Giexki nói, trong ông thức dậy phong cách một cựu sĩ quan quân đội Hungari.


            Nhà Ai Cập học mở to hai mắt và vẫn tiếp tục nuốt nuốt trong cổ họng, hết lần này đến lần khác.


            Trên khuôn mặt bá tước xuất hiện vẻ ngạc nhiên, song ông ta tự chủ ngay sau chốc lát và trả lời bằng giọng lịch sự đến khô khan:


            - Trong tình hình này xin được nghe các điều kiện…


            - Có lẽ xin mời phía các ông nêu trước, - lão Giexki nói.


            - Ồ, không, xin mời phía các quý ông đề xuất, - bá tước nói.


            Lão Giexki hắng giọng.


            - Vậy thì tôi xin mạnh dạn đề nghị, các đối thủ đứng cách nhau hai mươi nhăm bước chân, mỗi người tiến lên năm bước…


            - Tếch.


            - Súng ngắn nòng có rãnh, có đầu ruồi, đạn bắn xoáy. Ai chảy máu trước, người đó thua cuộc…  - lão Giexki nói nhỏ dần ở mấy từ cuối.


            - Tếch.


            - Thời gian, nếu có thể được, sẽ vào trước  trưa ngày mai.


            - Tếch.


            Lão Giexki cúi chào khi vẫn ngồi trên ghế. Bá tước cầm lấy một tờ giấy trong sự im lặng chung, ngài hý hoáy thảo biên bản, và bác sĩ Suman đã ký ngay sau khi nhận . Cả hai văn bản được xác nhận và không đầy bốn lăm phút sau, công việc đã hoàn tất. Các nhân chứng chia tay chủ nhà và người tháp tùng ông ta để ông này ngay lập tức đắm mình vào việc ngắm mây bay.


            Mãi đến khi ra đến ngoài đường lão Giexki mới lên tiếng với bác sĩ Suman:


            - Họ là những người thật dễ mến, mấy vị quý tộc ấy…


            - Quỷ tha ma bắt họ đi! Mà bắt luôn cả đám người đi cùng  niềm tin quỷ quái của các người nữa! - bác sĩ gào lên, khua khua cái gậy.


            Chiều tối hôm đó, sau khi kiểm tra lại mấy khẩu súng, lão Giexki ghé qua nhà Vôkulxki. Lão gặp ông đang một mình bên chén trà. Lão Giexki tự rót cho mình một chén rồi chủ động gợi chuyện:


            - Cậu phải chú ý đấy, Xtanhixlav ạ. Bọn họ là những người biết đề cao danh dự. Nam tước, như cậu biết, là người hay đãng trí, nên sẵn sàng xin lỗi cậu…


            - Không xin lỗi gì hết!


            Lão Giexki im lặng. Lão uống trà và đưa tay lau trán. Mãi sau mới cất lời:


            - Dĩ nhiên cậu cũng phải nghĩ đến chuyện làm ăn nữa, trong trường hợp…


            - Tôi sẽ không gặp phải bất cứ rủi ro nào, - Vôkulxki trả lời trong cơn  giận.


            Lão Giexki ngồi yên lặng thêm mười lăm phút nữa. Chén trà không làm lão tỉnh táo, thậm chí đầu lão bỗng nhiên đau như búa bổ. Lão cố uống hết trà,  sau khi nhìn đồng hồ, lão rời  phòng người bạn thân thiết của mình với câu tạm biệt:


            - Ngày mai chúng ta lên đường  lúc bảy giờ ba mươi sáng.


            - Được.


            Sau khi lão Giexki đi khỏi, Vôkulxki  ngồi vào bàn, trên một tờ giấy viết thư, ông viết mấy chục dòng , nhét vào phong bì, đề địa chỉ lão Giexki. Ông có cảm giác như bên tai mình vẫn vang lên giọng nói khó chịu của lão nam tước:


            “Ta thấy rất mừng, cô em họ ạ, là những người ngưỡng mộ em đã thắng… Ta chỉ tiếc một điều rằng họ chiến thắng trên xương máu của ta…”


            Nhìn vào bất cứ đâu ông cũng thấy khuôn mặt đẹp, hồng hào vì e thẹn của tiểu thư Izabela.


            Trong tim ông lại sôi lên một cơn giận khô khốc. Ông cảm thấy đôi tay mình cứng như hai thanh sắt, còn thân hình rắn chắc lại kỳ lạ đến mức không viên đạn nào bắn vào mà không nảy ra. Trong đầu ông chạy thoáng qua cái chết, và ông mỉm cười trong chốc lát. Ông biết rằng thần Chết không dám nhằm vào những người dũng cảm, nó chỉ có thể đối diện với họ giống như loài chó đối diện với con người, chỉ dám nhìn con người bằng đôi mắt xanh lè, cốt để xem trước cái chết con người có chợp mắt được không.


            Đêm ấy cũng như bất kỳ đêm nào khác, nam tước ngồi đánh bài. Marusevich, người cùng tham gia câu lạc bộ, vào lúc mười hai giờ đêm, sau đó  vào một và hai giờ sáng, đã nhắc nhở nam tước phải đi ngủ, vì tám giờ sáng hôm sau anh ta có trách nhiệm đánh thức ông ta dậy. Nam tước vốn đãng trí, sau mỗi lời nhắc nhở, đều đáp: “Lát nữa! Lát nữa!” rồi ngồi  đến ba giờ, khi một trong những người bạn chơi bài lên tiếng:


            - Thôi đủ rồi, nam tước. Ngài phải ngủ đi, dù chỉ vài tiếng đồng hồ, nếu không tay sẽ run và đạn vọt đi tìm cò trên ngọn cây đấy.


            Mấy lời này cộng với việc mấy người cùng chơi đồng loạt rời bàn đứng dậy làm nam tước tỉnh hẳn. Ông ra khỏi câu lạc bộ trở về nhà và lệnh cho anh hầu Konxtanty đánh thức mình  lúc tám giờ sáng.


            - Chắc hẳn ngài đang làm chuyện vớ vẩn nào đó thì phải! - anh ta làu bàu như bị xúc phạm.  - Lại có chuyện gì vậy, thưa ngài? - anh ta vừa cởi áo khoác cho ông chủ vừa hỏi với giọng giận dỗi.


            - A, mày thành thằng hề từ bao giờ thế, hả? - nam tước giận dữ - mày nghĩ  tao sẽ phải thanh minh với mày chắc? Tao sắp đấu súng, được chưa? Bởi vì tao thích thế. Chín giờ sáng mai tao sẽ bắn nhau với một gã thợ đóng giày hay một tên cắt tóc nào đó, được chưa? Hay mày đi bảo vệ tao?


            - Ông chủ có thể đấu súng với quỷ dữ cũng được! - anh hầu Konxtanty nói - Con chỉ muốn biết, ai là người sau này sẽ trả nợ hối phiếu cho ông chủ? Lại còn tiền nhà nữa. Ai sẽ trả tiền thuê để giữ lấy cái nhà này? Vì thế mỗi quý ông chủ lại có việc đến Poviaski và bên ấy họ cử người đến, con yên tâm không sợ chết đói, xin phục vụ ông hết lòng.


            Biến ngay cho khuất mắt, thằng vô ơn! - nam tước gầm lên, cầm lấy lọ mực ném theo anh  hầu đang lui bước. Lọ mực trúng vào tường, suýt nữa làm đổ pho tượng bán thân tạc vua Xobiexki.


            Sau khi xử lý xong anh hầu rất mực trung thành, nam tước nằm xuống giường và bắt đầu cân nhắc tình thế rất mực bi đát của mình.


            Cần phải có chút may mắn, - nam tước thở dài - mới có thể thắng được gã lái buôn trong cuộc đọ súng này. Nếu ta bắn trúng hắn, ta sẽ như anh thợ săn định đi săn gấu nhưng chỉ bắn trúng con bê non của người nông dân. Còn nếu hắn bắn trúng ta thì lại như gã đánh xe ngựa quật ngã ta bằng chiếc roi của mình. Nếu cả hai bên đều bắn trượt… Không, đã quy ước là bắn cho đến khi một bên đổ máu kia mà. Ta xin thề với mọi người rằng ta vẫn giữ ý xin lỗi đồ con lừa ấy. Nếu không đúng thế thì mọi người cứ giẫm đạp, giầy xéo lên ta,  dù ở phòng công chứng, trong buổi lễ đăng ký liên doanh, ta có mặc áo đại lễ màu trắng và thắt cà vạt trắng. Ôi, cái thời buổi tự do này mới đê tiện làm sao! Bố ta mà còn sống, ông sẽ lệnh cho mấy tay dạy chó bảo ban thằng liều này để hắn biết thế nào là lễ độ. Cứ cho cuộc cách mạng xã hội ngu ngốc này xảy ra một lần, hoặc  nó nghiền nát bọn ta, hoặc nghiền nát bọn người theo trường phái tự do…”


            Nam tước bắt đầu thiu thiu và mơ thấy Vôkulxki giết chết mình. Ông nhìn rõ cảnh hai người được cử đến khiêng xác ông về phòng vợ ông, cảnh bà ngất lên ngất xuống rồi lao đến ôm lấy bộ ngực máu me của ông. Rồi bà trả cho ông tất cả các khoản nợ nần từ trước đến nay, dành ra hẳn một ngàn rúp để lo đám tang ông và cảnh ông… phục sinh, đoạn lấy một ngàn rúp ấy chi vào các khoản lặt vặt khác…


            Nụ cười mãn nguyện xuất hiện trên bộ mặt tiều tụy của nam tước và - ông thiếp đi như  đứa trẻ.


            Vào lúc bảy giờ cả Konxtanty và Marusievich cùng đánh thức nam tước dậy. Ông chẳng muốn dậy một chút nào, trong miệng làu bàu rằng thà ông bị sỉ nhục hay bị động chạm đến danh dự còn hơn bị lôi ra khỏi giường sớm thế này. Mãi đến khi  thấy  chai nước lạnh ông mới chợt tỉnh. Ông nhảy ra khỏi giường, đấm cho Konxtanty một quả, quát mắng Marusievich, trong bụng thề sống thề chết sẽ giết bằng được thằng cha Vôkulxki.


            Nhưng khi đã ăn mặc nghiêm chỉnh, bước ra  phố, nhìn thấy trời đẹp và hình dung trong đầu rằng mình đang thấy mặt trời lên, nỗi căm thù Vôkulxki trong ông bỗng nhiên biến mất,  ông quyết định sẽ chỉ bắn sượt qua đùi đối phương.


            Mà phải rồi! - ông nói thêm sau một lát suy nghĩ. - Ta gây tổn thương cho ông ta và ông ta sẽ thành người tàn tật đến cuối đời, rồi ông ta sẽ kể với mọi người: vết thương chết người này do nam tước Ksêsôvski gây ra khi tôi đọ súng với ông ấy! Lão chơi khăm tôi đấy! Mà không biết mấy người tháp tùng tôi khi ấy  ở đâu?


            Rồi ông lại cân nhắc những điều liên quan đến mình: Nếu gã lái buôn nào đó muốn bắn ta vô cớ thì cứ việc bắn trong lúc ta đang đi dạo chơi chứ không phải trong một cuộc đấu súng… Thật là một tình thế kinh khủng! Ta đang hình dung ra cảnh tượng bà vợ yêu quý của ta sẽ nói với mọi người rằng ta đi bắn nhau với mấy gã lái buôn.”


            Mấy chiếc xe được phái đến. Nam tước cùng bá tước học đòi phong cách Ăng-lê ngồi vào một xe,  xe thứ hai chở nhà Ai Cập học trầm lặng mang súng và một nhà phẫu thuật. Họ đi về phía Bielan. Mấy phút sau, anh chàng Konxtanty - người hầu của nam tước hớt hải phóng xe đuổi theo. Người giúp việc trung thành hết mực này thề sống thề chết rằng sẽ tính chi phí gấp đôi cho chuyến đi hôm nay của ông chủ. Nhưng vẫn có điều gì đó khiến anh thấy lo lo.


            Trong khu rừng Bielan, nam tước và ba người tháp tùng ông đã tìm được một địa điểm, họ chia làm hai nhóm đi sâu vào bên trong, sát bờ sông Vitxoa. Bác sĩ Suman cảm thấy bực bội, lão Giexki thì cứng đờ người, Vôkulxki trông ảm đạm. Nam tước đưa tay sờ  bộ râu vốn thưa thớt của mình, chăm chú ngắm nghía Vôkulxki và nghĩ:


            Hẳn gã lái buôn rất chăm lo cho việc tự vỗ béo mình. Đứng cạnh gã, ta chẳng khác gì điếu xì gà  cạnh con bò mộng. Xin thề có quỷ thần chứng giám, nếu ta không bắn sượt qua đầu gã thì ta cũng… không bắn nổ phát đạn nào. Nhưng như thế lại tốt hơn cả…”


            Nhưng đúng lúc đó nam tước  chợt nhớ ra , theo quy ước, cuộc đấu súng phải có một người đổ máu. Vậy là nam tước lại cáu, đoạn đưa ra quyết định không gì thay đổi được rằng phải bắn chết Vôkulxki ngay tại chỗ.


            Phải để bọn tiểu tư sản kia đừng bao giờ dám động đến lông chân bọn ta nữa” - nam tước nhủ thầm.


            Cách chỗ nam tước mấy chục bước chân, Vôkulxki đang đi lại giữa hai cây thông, giống như quả lắc đồng hồ. Giờ ông không nghĩ đến tiểu thư Izabela nữa mà nghe tiếng chim hót làm sôi động cả cánh rừng, tiếng sóng nước bên bờ sông Vitxoa. Trên nền những âm thanh vui nhộn của thứ hạnh phúc bình yên của tự nhiên, tiếng lách cách của nòng súng khi lên đạn vang lên vừa kỳ dị vừa lạc lõng. Trong con người Vôkulxki bỗng nhiên thức dậy một con thú dữ, cả thế giới biến mất trước mắt ông, chỉ còn lại một con người, lão nam tước, mà thân hình sẽ phải gục ngã dưới chân nàng Izabela vừa bị lão xúc phạm.


            Mọi người hướng dẫn hai đối thủ vào vạch xuất phát. Nam tước luôn tỏ ra lúng túng trước  quyết định: Phải xử lý ra sao gã lái buôn này,  cuối cùng ông quyết định sẽ bắn vào tay gã. Trên khuôn mặt Vôkulxki bỗng hiện lên nét  hận thù đến hoang dại, khiến vị bá tước học đòi phong cách Ăng-lê chột dạ nghĩ thầm:


Có lẽ không đơn giản chỉ là chuyện mua bán con ngựa còm hay  chuyện  va vào nhau trong cuộc đua ngựa hôm vừa rồi!”


            Nhà Ai Cập học, người giữ yên lặng cho đến lúc này, đã ra hiệu cho hai địch thủ đưa súng lên ngắm và xuất phát. Nam tước nhằm vào cánh tay phải Vôkulxki và chúc nòng xuống phía dưới bóp cò. Vào phút cuối cùng, chiếc kính gập mũi bị sệ xuống, họng súng lệch sang một bên, đạn nổ và bay cách vai Vôkulxki đến vài phân.


            Nam tước lấy nòng súng che mặt, vừa nhìn địch thủ từ phía dưới nòng súng vừa nghĩ bụng:


            Con lừa kia không bắn trúng ta được vì hắn đang ngắm vào đầu ta…”


            Bỗng nhiên ông cảm thấy thái dương bị đập mạnh, tai ù cả lên, những cánh hoa màu đen bay qua trước cả hai con mắt. Nam tước buông súng và quỳ xuống.


            - Trúng đầu! - có tiếng ai đó kêu lên.


            Vôkulxki quẳng súng xuống đất, rời vạch. Mọi người đổ xô đến chỗ ông nam tước đang quỳ, nhưng ông ta, thay vì hấp hối, lại nói oang oang:


            - Một trường hợp vô cùng đặc biệt! Tôi bị một lỗ thủng ở mặt, răng gãy mà không thấy viên đạn đâu. Rõ ràng là tôi không nuốt viên đạn vào bụng mà…


            Khi đó nhà Ai Cập học mới nâng khẩu súng của nam tước lên,ngắm nó kỹ càng.


            - A!- ông ta reo lên - thì đã rõ rồi! Viên đạn nằm  trong súng, còn băng đạn văng vào hàm. Đây quả là một cú ngắm bắn hay!


            - Ngài Vôkulxki có thấy thỏa mãn không? - vị bá tước thích học đòi phong cách Ăng-lê hỏi.


            - Có.


            Bác sĩ phẫu thuật băng mặt cho nam tước. Anh hầu của nam tước hoảng hốt chạy đến:


            - Thế nào! - anh ta kêu lên - Con đã tiên đoán là ông chủ sẽ được một vố nên thân mà.


            - Câm ngay, thằng hề! nam tước rên rỉ. - Mày đi ngay về chỗ bà, bảo với con bé nấu bếp là ông bị thương rất nặng…


            - Bây giờ xin mời, - vị bá tước thích học đòi phong cách Ăng-lê nói với giọng trang nghiêm - hai đối thủ bắt tay nhau.


            Vôkulxki đến gần nam tước và nắm chặt lấy tay ông ta.


            - Phát đạn đẹp quá đấy, ông Vôkulxki,  - nam tước nói một cách khó khăn và lắc mạnh tay Vôkulxki. - Tôi cứ suy nghĩ mãi, một con người có trình độ cao như ông… Có thể điều này lại làm ông phật ý chăng?


            - Hoàn toàn không!


            - Thì đây, một con người tài giỏi như ông, rất đáng kính trọng, mà lại bắn súng thật cừ! À, cặp kính của tôi đâu rồi? À, đây rồi… Thưa ông Vôkulxki, xin được nói mấy lời riêng với nhau.


            Nam tước tựa đầu vào vai Vôkulxki,đoạn hai người cùng bước đi mươi bước vào sâu trong rừng.


            - Tôi xấu xa quá, - nam tước nói - trông tôi như một con khỉ già ốm đau ghẻ lở! Tôi không muốn gây gổ với ông lần thứ hai đâu, bởi tôi nhìn thấy rõ là ông có may mắn… Vậy ông hãy nói cho tôi biết, vì cớ gì mà tôi phải chịu cảnh thương tật này? Bởi chắc chắn không phải vì tôi đã chạm vào người ông- nam tước nói thêm, nhìn thẳng vào mắt Vôkulxki .


            - Vì ông xúc phạm một người phụ nữ… - Vôkulxki nói nhỏ.


            Nam tước lùi lại một bước.


            - À, ra thế! - ông nói  tiếng Pháp - Tôi hiểu rồi. Một lần nữa  xin lỗi ông. Còn điều kia… tôi biết cần phải làm gì.


            - Và ông cũng tha lỗi cho tôi, thưa nam tước, - Vôkulxki trả lời


            - Chuyện nhỏ. Xin mời… không sao cả, - nam tước nói, luồn tay mình vào tay Vôkulxki. - Tôi không nhất thiết phải xấu xa đến thế, nhưng còn chiếc răng gãy. Cái răng gãy của tôi đâu, hả bác sĩ? Đề nghị gói nó vào mảnh giấy! Còn chuyện cái răng, lẽ ra từ lâu tôi đã phải lắp  mới. Chắc ông chẳng tin đâu, thưa ông Vôkulxki, rằng tôi hỏng hết cả hàm răng rồi…


            Mọi người vui vẻ chia tay nhau . Nam tước vẫn chưa hết ngạc nhiên. Tại sao một con người có trình độ chuyên môn cao như vậy về một lĩnh vực hoàn toàn khác lại bắn súng rất cừ. Bá tước thích học đòi phong cách Ăng-lê trông càng giống con rối hơn bao giờ hết, còn nhà Ai Cập học lại bắt đầu quan sát những đám mây đang bay trên trời. Ở nhóm thứ hai - Vôkulxki suy tư, lão Giexki bị mê hoặc bởi lòng dũng cảm và tính lịch thiệp của vị nam tước, chỉ có bác sĩ Suman là vẫn tức tối. Mãi đến khi  xe ngựa của họ chạy từ trên gò đất gần tu viện dòng Camaldoli xuống, bác sĩ mới nhìn Vôkulxki làu bàu:


            - Đúng là một lũ súc sinh! Phải tay tớ, tớ đã dẫn cảnh sát đến cho bọn hề ấy được một phen nhớ đời.


            Ba ngày sau cuộc đọ súng kỳ lạ ấy, Vôkulxki ngồi trong phòng làm việc đóng kín với ông Wiliam Colins nào đó. Anh  hầu, thời gian gần đây rất tò mò trước những cuộc gặp vài lần một tuần ấy, đứng lau bụi ở phòng bên cạnh, thỉnh thoảng lại cố tình mở cửa sổ hoặc ghé tai vào lỗ khóa. Anh ta nhìn thấy trên bàn xếp những cuốn sách, và ông chủ hý hoáy viết gì đó vào vở. Anh cũng thấy khách đặt câu hỏi,  ông chủ anh trả lời lúc to lúc nhỏ, lúc trả lời ngay, lúc vò đầu suy nghĩ. Nhưng họ có thể nói chuyện gì bằng cách thức bất thường ấy? Anh hầu không sao lý giải nổi, bởi  họ trao đổi với nhau bằng một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ.


            Chắc chắn không phải tiếng Đức rồi, - anh hầu thầm thì - vì mình cũng đã nghe tiếng Đức. Tiếng Pháp cũng không phải, vì mình cũng có thể nhận ra dăm từ tiếng Pháp. Cũng không phải tiếng của dân Do thái… ”


            Đúng lúc đó có tiếng chuông kêu. Anh hầu rón rén đi ra tiền sảnh, cố tình gây tiếng động ở đó rồi mới quay lại gõ cửa phòng ông chủ.


            - Có chuyện gì? - Vôkulxki sốt ruột hỏi, ghé đầu nhìn ra bên ngoài.


            - Là cái ông đã đến đây mấy lần ạ, - anh hầu liếc mắt nhìn vào phòng làm việc của ông chủ. Nhưng ngoài quyển vở trên bàn và những sợi râu vàng trên mặt ông Colins ra, anh ta không quan sát được điều gì đặc biệt.


            - Tại sao không bảo là ta không có nhà? - Vôkulxki tức giận hỏi.


            - Con quên mất ạ, - anh hầu vừa nhíu mày vừa vẩy tay.


            - Mày đúng là đồ con lừa. Mời ông ấy vào phòng, - Vôkulxki nói rồi đóng sầm cửa lại.


            Một lát sau Marusievich đã xuất hiện trong phòng. Anh ta tỏ ra lúng túng và lại càng cảm thấy lúng túng hơn khi nhận ra Vôkulxki đón tiếp mình với thái độ lạnh lùng.


            - Xin lỗi ông, có thể tôi quấy rầy, hẳn ông đang có việc quan trọng…


            - Hiện tại tôi chẳng có việc gì quan trọng cả, - Vôkulxki trả lời, vẫn giữ nét mặt ảm đạm song lại pha chút ngượng ngùng. Marusievich nhận ra điều này. Anh ta tin chắc rằng trong nhà này hoặc đang có chuyện gì khuất tất hoặc đang có mặt một người đàn bà. Thế là anh ta mạnh dạn trở lại, điều mà anh ta lúc nào cũng có sẵn để xử sự với những người đang lúng túng.


            - Tôi chỉ làm mất thì giờ của ông một lát thôi, - chàng trai có vẻ bề ngoài tiều tụy bỗng chốc trở nên mạnh bạo, thoải mái xoay xoay chiếc mũ và cây gậy trên tay. - Chỉ một lát thôi.


            - Xin nghe, - Vôkulxki nói. Ông nhanh nhẹn ngồi xuống ghế, chỉ cho khách chiếc ghế thứ hai.


            - Tôi đến để xin lỗi ngài, - Marusievich nói rất hồ hởi - về chuyện tôi không thể phục vụ ngài trong vụ bán đấu giá ngôi nhà cũ của gia đình Oenxki.


            - Nhưng từ đâu anh biết về cuộc bán đấu giá ấy? - Vôkulxki ngạc nhiên thực sự.


            - Ngài không đoán được thật sao? - chàng trai hỏi lại với sự thoải mái hoàn toàn, mắt hơi chớp chớp vì chưa thật tin vào những gì đang nói - Ngài không đoán được sao? Chả là ông già Slangbaum…


            Bỗng nhiên anh ta yên lặng, như thể trong miệng bị mắc cứng một câu, không thể bật ra được. Cả tay trái cầm gậy và tay phải cầm mũ đều để thõng trên thành ghế bành. Vôkulxki thậm chí không động đậy chút nào, chỉ nhìn xoáy vào người đang tiếp chuyện. Ông quan sát những con sóng nhỏ chạy rần rật trên mặt Marusievich, giống như anh thợ săn theo dõi cánh đồng hoang nơi đó những con thỏ đang sợ sệt chạy qua. Ông ngắm nghía anh ta và nghĩ:


            Ôi, vậy cậu ta là  anh chàng theo đạo Thiên chúa nghiêm túc mà lão Slangbaum thuê mười lăm rúp để làm cò trong cuộc bán đấu giá đây ư? Ô hô… Bây giờ ta mới hiểu tại sao khi nhận khoản tiền bán ngựa tám trăm rúp của nam tước Ksêsôvski cậu ta lại có vẻ lúng túng. Đúng rồi! Chính cậu ta đã thông báo rộng rãi việc ta mua con ngựa. Cậu ta thờ hai vị thần một lúc: phục vụ nam tước và phục vụ phu nhân ông ta… Đúng rồi, cậu ta biết quá nhiều chuyện làm ăn của ta… Lão Slangbaum đã phạm sai lầm lớn.”


            Vôkulxki suy nghĩ kỹ lưỡng và  bình thản ngắm  anh chàng Marusievich. Con người trẻ tuổi với vẻ bề ngoài tiều tụy, lại thêm cái tính hay cuống, đang quằn quại dưới cái nhìn của Vôkulxki, hệt như chú bồ câu non bị cặp kính dày soi xét. Lúc đầu anh ta tái mặt ít nhiều, sau đó định nhìn chăm chăm vào một đồ vật bất kỳ nhưng tìm mãi trên trần nhà,trên tường chẳng thấy, nên cuối cùng toát mồ hôi hột, anh ta cảm thấy sẽ không có cách nào che giấu ánh mắt sợ sệt của mình dưới uy lực của Vôkulxki . Anh ta có cảm giác gã thương gia với bộ mặt âu sầu kia đã nắm lấy linh hồn mình bằng đôi tay chắc như những gọng kìm sắt khổng lồ, thật khó lòng đảo ngược. Vì vậy anh ta lắc đầu thêm mấy lần nữa để cuối cùng, với sự tin tưởng hoàn toàn, chìm trong cái nhìn của Vôkulxki.


            - Thưa ông, - anh ta nói bằng  giọng ngọt ngào. - Tôi biết tôi phải đánh bài ngửa với ông, cho nên tôi xin nói ngay…


            - Anh đừng tự gây khó dễ cho mình làm gì, Marusêvich ạ. Tôi  biết hiện tôi đang cần biết điều gì.


            - Nhưng ông, con người tử tế, lại dựa vào những lời đồn đại của thiên hạ mà nghĩ không tốt về tôi. Trong khi đó, tôi xin thề danh dự - đang có những thiện chí…


            - Anh Marusêvich này, anh hãy tin rằng ý kiến của tôi không dựa trên cơ sở những lời đồn đại.


            Vôkulxki rời ghế đứng dậy và nhìn về phía khác, cốt để Marusievich có cơ hội suy nghĩ tỉnh táo hơn. Nhưng anh chàng lại chia tay ông rất nhanh, ra khỏi phòng, chạy như ma đuổi trên các bậc cầu thang và nghĩ trong đầu:


            Nào ai ngờ được  gã buôn thúng bán mẹt này lại định lên mặt với ta! Đã có lúc, xin thề danh dự, ta muốn đập cho gã một gậy. Đồ thô lỗ ấy, thề danh dự, hẳn nghĩ mình sợ gã, thề danh dự. Lạy chúa, người sẽ khó ra lệnh trừng phạt con về tội nhẹ dạ cả tin ! Bọn cho vay nặng lãi đê tiện đang cho người đến đòi tiền ta, chỉ mấy ngày nữa ta sẽ phải thanh toán bao nhiêu là khoản nợ liên quan đến danh dự, vậy mà gã lái buôn này… gã đểu giả này… Ta chỉ tự hỏi: người như gã có khả năng gì, gã hình dung  thế nào về ta? Không gì hơn, chỉ vậy thôi. Nhưng xin thề danh dự, chắc gã vừa giết người, bởi cái nhìn ấy không thể là cái nhìn của một người lòng dạ bình thường. Cũng dễ hiểu thôi, chả gì thì gã đã giết chết nam tước Ksêvôvxki. Ôi, gã liều mạng khốn khổ! Gã dám nhìn ta bằng con mắt đó… nhìn ta… Lạy Chúa!”


            Mặc dù vậy, ngày hôm sau Marusievich lại đến thăm Vôkulxki, nhưng không gặp ông ở nhà. Cậu ta đến cửa hàng và bảo người đánh xe  chờ ở cửa.


            Trong cửa hàng, người ra chào cậu ta là lão Giexki, hai tay giang rộng, với một thái độ chứng tỏ toàn bộ cái cửa hàng đó được đặt dưới sự quản lý của một mình lão. Nhưng tiếng nói cất lên trong đầu đã mách với lão rằng vị khách này sẽ chẳng mua bán thứ gì có giá trị quá năm rúp và ai mà biết được là anh ta lại không ghi sổ nợ.


- Ông Vôkulxki có đây không? - Marusievich hỏi, không cần  hạ mũ xuống.


- Lúc này ông ta đang trên đường,- lão Giexki nói, hơi cúi người.


- Trong lúc này nghĩa là thế nào?


- Chậm nhất là mười lăm phút nữa, - lão Giexki


giải thích.


- Tôi chờ ở đây. Ông hãy lệnh cho nhân viên mang một rúp trả cho anh đánh xe, - anh ta vừa nói vừa ngồi phịch xuống ghế, nhưng hai chân đã cứng đờ ra khi chợt nghĩ  biết đâu lão không sai người mang tiền trả anh đánh xe. Song lão Giexki đã đáp ứng yêu cầu đó, dù lúc sau không cúi chào ông khách như trước nữa.


Mấy phút sau Vôkulxki bước vào.


Marusievich, sau khi thấy bộ mặt ảm đạm của người mà anh ta gọi là gã lái buôn, bỗng nảy sinh những tình cảm khác nhau, đến nỗi không chỉ không biết nên nói gì, mà còn không biết phải nghĩ gì. Anh ta chỉ nhớ mang máng rằng Vôkulxki dẫn anh ta vào phòng làm việc phía sau cửa hàng, nơi có  két sắt, và anh ta tự nhủ tình cảm xuất hiện trong anh khi thấy Vôkulxki là hỗn hợp giữa  thái độ coi thường và khinh bỉ. Sau đó anh nhớ lại rằng anh đã cố gắng ngụy trang nỗi bực bội của mình bằng một phép lịch sự giả tạo mà thậm chí trong mắt anh là phép nhún nhường.


- Anh có điều gì dạy bảo chăng? - Vôkulxki hỏi khi hai người đã ngồi xuống ghế. (Marusievich không thể xác định rõ thời điểm mình ngồi vào ghế cũng như vị trí của nó). Mặc dù vậy anh vẫn mở đầu cuộc nói chuyện, đôi khi hơi ngắc ngứ:


- Tôi muốn chứng minh với quý ông về thiện chí của mình. Nam tước phu nhân, như quý ông đã biết, muốn mua ngôi nhà cũ của gia đình Oenxki. Nhưng phu quân của bà, tức ngài nam tước, lại phản đối sử dụng một phần nhất định của vợ, mà đã không có khoản tiền đó thì không thể nói đến chuyện mua nhà … Chính vì thế mà … hôm nay … nam tước đang trong giai đoạn khó khăn nhất thời … Ngài bị thiếu… thiếu một ngàn rúp và muốn vay, vì không vay… không vay, thì ông cũng hiểu là ngài không thể hoàn toàn trông chờ vào thiện chí của vợ.


Marusievich lau mồ hôi trán, nhận ra  Vôkulxki lại nhìn anh ta chăm chú, với vẻ thăm dò.


- Vậy ngài nam tước cần tiền?


- Vâng, - chàng trai đáp nhanh.


- Một ngàn thì tôi không cho vay được, nhưng khoảng ba,bốn trăm… Nhưng phải có giấy biên nhận và chữ ký của ngài nam tước.


- Bốn trăm rúp, - anh thanh niên nhắc lại như cái máy và bỗng nhiên nói thêm - Một giờ sau tôi sẽ mang giấy biên nhận của ngài nam tước đến. Quý ông vẫn ở đây chứ ạ?


- Có…


Marusievich rời phòng làm việc của Vôkulxki và quả thật một tiếng sau anh ta quay lại, mang theo  giấy biên nhận có chữ ký của nam tước Ksêsôvski. Vôkulxki, sau khi đọc xong văn bản, đã cất nó vào két và lấy ra bốn trăm rúp đưa cho Marusievich.


- Ngài nam tước nói sẽ cố gắng gửi lại ông số tiền này trong thời gian ngắn nhất, - Marusievich nói lí nhí trong miệng.


- Không việc gì phải vội vàng, - Vôkulxki trả lời. - Nghe nói ngài nam tước đang  ốm?


- Vâng, nhưng cũng nhẹ thôi. Ngày mai, ngày kia ngài có một chuyến đi ngắn, mấy ngày sau lại về.


Vôkulxki chia tay anh ta chỉ bằng một cái gật đầu thờ ơ.


            Chàng thanh niên nhanh chóng ra khỏi cửa hàng, thậm chí quên trả lại lão Giexki một rúp tiền ứng trước để trả người đánh xe ngựa. Khi ra đến ngoài đường, anh ta thở phào  nghĩ:


            Ôi, gã lái buôn đê tiện! Gã dám đưa cho ta bốn trăm rúp thay vì một ngàn. Lạy Chúa, người trừng phạt con nghiêm khắc biết bao vì nhẹ dạ cả tin… Bất kể con đóng kịch thế nào, thề danh dự, con nhót ngay được của gã bốn trăm rúp, cộng với hai trăm rúp lần trước. Lạy chúa, nhưng ta đã hạ thấp mình quá rồi…”


            Trong đầu anh ta bỗng hiện lên hình ảnh những người hầu bàn tại các nhà hàng, những người giữ gìn trật tự cuộc chơi và những người gác cửa khách sạn, những người cũng dùng muôn phương ngàn cách để kiếm được đồng tiền. Nhưng chẳng ai trong số đó gây cho anh cảm giác ghê tởm, đáng khinh như đối với Vôkulxki.


            Thề danh dự, - anh ta nghĩ - mình tự nguyện lần mò đến đôi bàn tay bẩn thỉu này của gã. Lạy chúa, nếu người trừng phạt con vì nhẹ dạ cả tin thì…”


            Nhưng Vôkulxki lại cảm thấy hài lòng sau khi Marusievich ra khỏi phòng mình.


            Ta có cảm tưởng, - ông nghĩ - rằng đây là kẻ xấu xa nhưng ma mãnh. Hắn muốn ta cho hắn một vị trí nhưng rồi lại tự tìm cho mình vị trí đó. Hắn theo dõi ta rồi đi mách lẻo với người khác. Hắn có thể gây cho ta những khó khăn khi ta không đưa hắn bốn trăm rúp, và ta tin chắc rằng chữ ký trên giấy biên nhận là giả. Ksêsôvxki, bất chấp tất cả cái điên khùng và vô tích sự, vẫn là con người trung thực (liệu một kẻ vô tích sự có thể trung thực được không?) Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào ông ta cũng không dành cho công việc làm ăn hay sự đỏng đảnh của vợ mình khoản tiền đã vay ta”


            Ông bỗng thấy khó chịu nên tựa đầu lên hai tay, nhắm mắt lại và tiếp tục mơ màng:


            Mình đang làm gì thế nhỉ? Mình chủ định giúp đỡ kẻ xấu xa để hắn làm một việc xấu xa. Nếu hôm nay mình chết, Ksêsôvxki sẽ phải nộp số tiền đó vào khoản thừa kế. Mà không, chính Marusievich sẽ phải chịu trách nhiệm. Hắn không thể thoát được…”


            Lát sau, một ý nghĩ bi quan hơn xâm chiếm lòng ông.


            Cách đây bốn ngày, suýt nữa ta giết chết một con người, còn hôm nay ta lại mở lối cho người thứ hai vào nhà lao, và - tất cả chỉ vì từ cảm ơn” của nàng. Rồi cũng vì nàng mà ta lo xây dựng cơ ngơi, có được tài sản lớn, tạo công ăn việc làm cho mấy trăm con người, lo làm giàu cho đất nước. Ta sẽ là ai khi thiếu nàng? Vẫn nhỏ bé, vẫn là anh chủ cửa hàng tạp hóa. Còn hôm nay, mọi người đang nhắc đến ta khắp cả Varsava. Chà! Một ít than làm chuyển động cả con tàu, thay đổi thân phận hàng trăm con người; còn tình yêu thì lay động ta. Nếu mọi người đốt thân ta đến mức ta chỉ còn là một nắm tro tàn? Ôi, lạy Chúa,  thế giới này mới khốn nạn làm sao… Ôkhôxki  có lý. Phụ nữ là loài  đê tiện: họ biến thành đồ chơi ngay cái thứ chính họ không hiểu đó là cái gì… ”


            Ông đắm chìm trong suy tư đau đớn đến mức không nghe thấy tiếng mở cửa vào phòng và tiếng những bước chân ngay sau lưng mình. Mãi sau ông mới bừng tỉnh khi có bàn tay ai đó đặt lên vai. Ông quay đầu lại, nhìn thấy ngài luật sư với chiếc cặp căng phồng dưới nách, nét mặt không vui.


            Vôkulxki đứng bật dậy, lúng túng mời khách ngồi. Tay luật sư nổi tiếng tài giỏi cẩn thận đặt tay lên mặt bàn, một ngón của bàn tay kia gãi gáy, giọng thầm thì:


            - Ngài… ngài… ngài Vôkulxki! Ông Xtanixlav thân mến ơi! Ông đang… đang làm gì thế này? Tôi phản đối. Tôi sẽ trả miếng. Tôi sẽ kiện lên trên. Thay cho những lời ngợi ca ông mấy hôm trước, nào là ông từ chàng trai làm thuê trở thành ông lớn, có kiến thức, sẽ giúp cải cách nền ngoại thương nước nhà, giờ những lá đơn như trên tới tấp xuất hiện. Thưa ông Xtanixlav, không thể như vậy được.


            Nói những lời này, ông luật sư đưa tay xoa gáy rồi nhăn mặt lại như trong miệng toàn những thứ đắng ngắt.


            Vôkulxki hướng cái nhìn xuống đất và giữ yên lặng, còn tay luật sư  tiếp tục:


            - Ông bạn thân mến, - nói tóm lại - toàn những chuyện chẳng hay ho gì. Bá tước Xanôxki, chắc ông vẫn nhớ, người có quan điểm tiết kiệm từng xu ấy, muốn rút lui hoàn toàn khỏi liên doanh… Mà ông biết tại sao không? Vì hai lý do: Thứ nhất, ông chơi đua ngựa, và thứ hai, ông chơi ông ta một vố trong cuộc đua. Con ngựa của ông ta  thua ngựa của ông. Ngài bá tước rất buồn và phàn nàn: Tôi góp vốn làm đếch gì? Chẳng lẽ để tạo điều kiện cho lũ lái buôn mua ngựa đua rồi lĩnh thưởng ngay trước mũi tôi chăng?


            - Tôi đã thuyết phục bá tước, - luật sư nói tiếp - rằng đua ngựa cũng là hướng làm ăn tốt, giống như những hướng làm ăn khác, thậm chí còn tốt hơn, khi mà  trong vòng mấy ngày, chỉ phải bỏ vốn tám trăm rúp đã được lãi ba trăm ngon lành, nhưng vị bá tước này  lập tức chặn họng tôi:


            Vôkulxki ấy à, - ông ta nói - ông ta đã tặng toàn bộ phần thưởng và giá trị con ngựa cho các bà lập qũy bảo vệ phụ nữ, ngoài ra có trời mà biết ông ta đã trả cho anh nài ngựa Yung cùng lão trưởng trại Miller bao nhiêu tiền… ”


            - Thậm chí tôi cũng không được phép làm điều đó hay sao? - Vôkulxki ngắt lời.


             - Được phép, thưa ông, được, - vị luật sư tài ba gật đầu, nói giọng ngọt ngào. - Nhưng khi làm vậy ông đã lặp lại những sai lầm cũ, mà  là sai lầm do những người khác phạm phải. Còn cả tôi, cả ngài công tước, cả các bá tước đều không xích lại gần ông để ông hâm nóng món ăn cũ, mà  nhờ ông chỉ cho chúng tôi con đường mới.


            - Vậy cứ để các vị ấy rút lui khỏi liên doanh, - Vôkulxki nói, không cần đến phép lịch sự. - Tôi có định lôi kéo các vị đâu…


            - Họ sẽ rút lui, - luật sư nói, bàn tay run run - và ông lại phạm thêm một sai lầm nữa…


- Hay  tôi đã làm cho các vị ấy quá nhiều!


- Ông kiêu căng quá đấy, - luật sư nổi nóng, đập tay lên đầu gối. -Vậy ông  biết bá tước Lichinxki, cái ông thích bắt chước phong cách người Anh, gì cũng tếch” ấy nói gì không? Ông ấy bảo: Vôkulxki là tên quân tử hết thời, giỏi như thiện xạ nhưng chẳng có tài năng lãnh đạo hội thương gia. Bởi hôm nay hắn bỏ ra bạc triệu kinh doanh, ngày mai  lại thách ai đấu súng và tất cả đổ xuống sông xuống biển”


Vôkulxki kéo cả chiếc ghế đang ngồi lùi lại phía sau. Chưa bao giờ ông nghĩ rằng mình phải chịu lời buộc tội kiểu này. Tay luật sư nhận ra cảm giác đó trong ông nên quyết định rèn tiếp thanh sắt khi nó còn đang nóng.


- Nếu không muốn, ông Xtanixlav thân mến ạ, phá hỏng  công việc mà ông đã khởi đầu một cách tuyệt vời, thì không có con đường nào khác là đừng bì bõm trong vũng lầy này nữa. Trước hết nên từ bỏ ý định mua ngôi nhà cũ của gia đình Oenxki. Bởi nếu ông bỏ vào đó chín mươi ngàn rúp, xin ông thứ lỗi, liên doanh sẽ tan thành mây khói. Mọi người, khi chứng kiến ông bỏ một khoản vốn lớn ra để thu lãi sáu, bảy phần trăm, sẽ mất niềm tin vào tỷ lệ phần trăm  ông đã hứa, thậm chí ông cũng hiểu đấy… Họ sẵn sàng nghi ngờ…


Vôkulxki đứng phắt dậy khỏi bàn.


- Tôi chẳng cần liên doanh liên diếc gì hết! ông gầm lên. - Tôi không cần bất cứ kẻ nào phải tử tế với tôi, đúng hơn là tôi đã chứng tỏ tôi tử tế với mọi người. Ai không tin tôi, hãy kiểm tra lại toàn bộ công việc làm ăn. Kẻ đó sẽ tin rằng tôi chẳng mê hoặc ai, nhưng kẻ đó cũng sẽ không phải là đồng sự của tôi. Các vị bá tước, công tước không phải  những người độc quyền về óc tưởng tượng… Tôi cũng có óc tưởng tượng riêng của tôi và  không thích bất cứ ai can thiệp vào chuyện cá nhân…


- Khoan, khoan, ông hãy bình tĩnh lại , ông Vôkulxki  thân mến, - luật sư xoa dịu bằng cách kéo Vôkulxki ngồi xuống ghế. - Vậy ông không rút khỏi vụ mua nhà phải không nào?


- Không, ngôi nhà cũ đó đối với tôi còn giá trị hơn liên doanh với các quý ông trên toàn thế giới này cộng lại.


- Được rồi! Được rồi! Vậy ông có thể cử ai đó đứng ra thay mặt mình trong một thời gian. Trong trường hợp cần thiết, thậm chí tôi có thể cho ông mượn danh nghĩa công ty tôi, còn việc bảo đảm an toàn cho sở hữu thì không có gì phải lo. Điều quan trọng nhất - đừng làm cho những người đã đứng trong liên doanh chán nản. Giai cấp quý tộc chỉ cần một lần được nếm vị ngọt trong các công vụ làm ăn mang tính công cộng, sẽ lao vào như thiêu thân lao đầu vào lửa, và sau một năm, sau nửa năm thôi, ông sẽ trở thành người chủ hữu danh của ngôi nhà cũ đó. Thế nào, đồng ý chứ hả?


- Cứ cho là  vậy đi, - Vôkulxki trả lời.


- Phải - luật sư nói - như vậy sẽ tốt hơn cả. Nếu  mua ngôi nhà này một mình, ông bạn sẽ rơi vào vị trí chủ nhân giả ngay đối với gia đình Oenxki.  Thứ nhất, bình thường chúng ta chẳng ưa gì những người sẽ  tiếp quản tài sản của chúng ta. Thứ hai, ai dám bảo đảm rằng trong đầu mình không mang toan tính? Khi mua xong một thứ gì đó, thế nào cũng có tiếng xì xào: Hắn mua đắt quá hay rẻ quá? Nếu đắt, người bán mỉa mai: sao dám thương hại ta bằng cách đó, nếu rẻ - sao đang tâm bóc lột bọn ta?


Vôkulxki hầu như không nghe thấy những lời cuối của ngài luật sư vì  còn bận bịu với những ý nghĩ mà sau khi khách ra khỏi nhà, chúng tác động lên đầu óc ông mạnh mẽ hơn nhiều.


- Phải rồi, - ông tự nhủ - ông luật sư nói đúng. Người ta đang phán xét ta, thậm chí tuyên án ta, chỉ có điều họ làm việc này sau lưng nên ta không hề hay biết. Hôm nay ta mới nghĩ đến. Đã từ một tuần nay các thương gia làm ăn với ta mặt nhăn mày nhó, còn các đối thủ thì đắc thắng. Trong cửa hàng cũng có điều gì đó bất ổn… Lão Giexki đi lại với bộ mặt ủ rũ, Slangbaum lúc nào cũng tư lự, Lixiêxki ăn nói nhấm nhẳn, khác hẳn trước đây, cứ như ta sắp bay khỏi cửa hàng ấy đến nơi, Clâyin mặt như đưa đám (đảng viên đảng xã hội có khác! Rất tức tối về chuyện ta tham gia đua ngựa và đấu súng ), còn anh chàng Zenba ranh ma thì bắt đâu xun xoe bên cạnh lão Slangbaum… Hay hắn đã đánh hơi thấy ông già ấy nay mai sẽ là chủ nhân của cửa hàng này rồi? Ôi, những người mà ta đã một thời yêu quý!


Vôkulxki đứng ngay trước cửa phòng làm việc, gật đầu ra hiệu cho lão Giexki bước đến. Người nhân viên kỳ cựu đang có những bất ổn trong lòng nên  tỏ ra né tránh, không muốn nhìn thẳng vào mắt Vôkulxki.


 Vôkulxki chỉ tay về chiếc ghế ra hiệu cho lão và sau khi bước mấy bước trong căn phòng chật hẹp, ông nói:


- Này lão! Hãy nói thật cho tôi biết: Mọi người đang nói gì về tôi?


Lão Giexki chìa hai tay ra.


- Ôi, lạy Chúa, lại còn nói gì nữa?


- Lão hãy nói thẳng tắp đường tàu xem, - Vôkulxki động viên ông lão.


- Thẳng tắp đường tàu à? Được thôi. Một số người bảo cậu bắt đầu phát điên.


- Hoan hô!


- Người khác lại…  người khác lại bảo cậu muốn chơi trò lừa đảo…


- Sao nữa?


- Nhưng tất cả nhất trí rằng - cậu sẽ phá sản và thời điểm đó sẽ đến sớm thôi.


- Cứ cho là  vậy đi, - Vôkulxki ngắt lời - nhưng riêng lão, lão Ignaxư, lão nghĩ gì?


- Tôi nghĩ, - lão Giexki không do dự - rằng cậu đã sa vào một cuộc ẩu đả trầm trọng  khó bề thoát ra … Trừ khi rút lui đúng thời điểm, điều này chắc cậu vẫn còn đủ trí khôn để quyết định.


Vôkulxki bật cười.


- Tôi sẽ không rút lui! - ông nói to. - Một người đang khát  sẽ không lùi ra xa dòng suối mát. Nếu phải chết, ta sẽ chết trong khi uống… Các người muốn gì ở ta? Từ bé ta đã phải sống như một con chim bị xua đuổi: phục vụ quân đội, ngồi tù, rồi ngay trong cuộc hôn nhân bất hạnh mà ta phải bán rẻ bản thân mình ấy nữa… Còn hôm nay, khi ta đủ lông đủ cánh, các người lại bắt đầu quát mắng ta, giống như con ngỗng mắng vịt trời khi con này cất mình khỏi mặt đất để bay cao. Cái cửa hàng ngu ngốc kia,cái liên doanh kì quặc kia, với ta có ý nghĩa gì? Ta muốn sống, ta muốn…


Đúng lúc đó có tiếng gõ cửa phòng. Người hầu của gia đình Oenxki xuất hiện, mang đến một lá thư. Vôkulxki hấp tấp cầm lấy chiếc phong bì, mở vội ra  đọc:


Kính gửi ông Vôkulxki. Con gái tôi rất muốn được làm quen với ông trực tiếp hơn. Mong muốn của phụ nữ là điều thiêng liêng, vì vậy tôi mời ông đến dùng bữa tại gia đình tôi vào ngày mai (khoảng sáu giờ), và xin đừng tìm cách từ chối. Xin gửi ông lời chào kính trọng.


                                                             T. Oenxki”


Vôkulxki xỉu đi một lát, đến mức ông phải ngồi xuống ghế. Sau đó ông đọc lại bức thư lần thứ hai, thứ ba, thứ tư. Cuối cùng ông chợt nhớ ra và viết thư trả lời ngài Oenxki. Khi trao thư, ông không quên đưa cho người hầu nhà Oenxki năm rúp.


Trong lúc đó, lão Giexki tranh thủ chạy ra cửa hàng mấy phút, đợi khi người hầu nhà Oenxki ra tận ngoài đường, lão mới quay lại phòng Vôkulxki, nói chuyện với ông, như thể mọi thứ bây giờ mới bắt đầu:


- Nhưng  Xtanixlav thân mến này, cậu hãy xem xét kỹ tình hình và lúc nào cũng có thể tự  rút lui…


Vôkulxki huýt sáo thầm, đội mũ vào rồi đặt một tay lên vai ông bạn già và nói:


- Lão hãy nghe cho rõ nhé. Chỉ khi nào đất sụt dưới chân chúng ta, lão hiểu không? Chỉ khi nào trời sắp sập xuống đầu chúng ta, lão hiểu không? Nếu chưa như vậy thì tôi chưa rút lui, lão hiểu không? Vì hạnh phúc này tôi sẵn sàng hiến dâng cả cuộc đời tôi…


- Vì  hạnh phúc này ư? - lão Giexki hỏi.


Nhưng Vôkulxki đã đi cửa sau ra ngoài.


(còn tiếp)


Nguồn: Búp bê. Tiểu thuyết của nhà văn Balan: Boleslaw Prus. Nguyễn Chí Thuật dịch từ nguyên bản tiếng Balan. NXB Phụ nữ, quý I-2017.


Dịch giả gửi www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »