tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23640385
Tiểu thuyết
13.08.2018
TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz
Thầy lang


Mọi sự phải tiến hành hoàn toàn bí mật. Lão Prokop Mielnik không muốn chuyện loang ra để khỏi phải làm sống lại trong vùng những lời đồn đại về người em trai bị đuổi và về sự trừng phạt của Đức Chúa giáng xuống đầu con trai ông. Bởi lẽ, mặc dù đã có lời thề của ông Antoni, mặc dù lão tin tưởng ông một cách khác thường, lão vẫn dự tính đến khả năng con bị chết. Vì vậy, ngay cả đối với những người gần gũi nhất lão cũng không báo điều gì tỉ mỉ.


Ngày hôm sau, theo kế hoạch của ông Antoni, đám đàn bà phải dọn thật sạch cái nhà ngang. Ở đó lò sưởi được nhóm lên, một xô nước được mang vào, hai chiếc sanh lớn nhất, cùng chăn nệm của cả Wasił lẫn ông Antoni.


Ông lão Prokop chỉ bảo với đám phụ nữ và người làm công kia rằng:


- Antoni có cách chữa, ông ta sẽ chữa cho thằng Wasił ở trong đó.


Trong khi đó, ông Antoni chọn trong số đồ nghề một chiếc búa, một chiếc cưa nhỏ, mài nó thật sạch bong bằng bột gạch và làm thêm cán. Rồi ông tìm cái đục và hai con dao. Cả hai thứ đó ông mài rất lâu, nhưng vì ông mài trong kho xép nên không ai có thể nhòm được gì. Cũng không ai biết rằng ông đã bào sẵn những tấm gỗ.


Ông lão Prokop ngay từ sáng sớm đã đi lên thị trấn, khi trở về, ông mang vào nhà ngang cho Antoni những cái gói đó. Đó là bông và cồn iốt. Băng thì Antoni tự lấy bằng hai tấm vải trải giường.


Đến tối, người ta chuyển chỗ cho Wasił và đêm đó cả hai ngủ cùng nhau trong nhà ngang. Trong nhà ngang có hai buồng với ba cửa sổ và một hõm tường kín. Người ta bố trí giường cho Wasił trong một buồng. Hõm tường thì ông Antoni chiếm. Cũng giống như bếp ở nhà trên, trong nhà ngang cũng có những chiếc ghế dài đặt dọc tường và một chiếc bàn lớn đặt trong góc. Wasił không tài nào ngủ được. Cậu cứ hỏi mãi ông Antoni về các chi tiết.


- Cậu ngủ đi - rốt cuộc Antoni phải mắng cậu - Sao, thế ra cậu sợ đau như một mụ đàn bà phải không?


- Tôi không sợ đau. Làm gì có chuyện đó. Rồi ông xem. Không rên một tiếng. Chính tôi muốn xin ông đừng ngại tôi đau. Tôi chịu được. Cốt sao cho tốt thôi.


- Sẽ tốt.


Tảng sáng, cối xay vẫn hoạt động bình thường. Chỉ có một điều khác thường là hai người đàn bà trẻ phải làm giúp, thay cho ông Antoni.


- Sao thế, ông Prokop - đám nông dân đùa cợt - ông bắt đàn bà đẩy cối xay đấy hẳn?


Nhưng Prokop không đáp lại câu đùa. Ông không còn tâm trí mà đùa cợt nữa. Ông làm việc của ông, nhưng vẫn thầm cầu nguyện trong lòng. Trong khi ấy mặt trời đã ló khỏi làn sương mù treo trên chân trời và soi chiếu thế gian bằng ánh sáng ấm áp. Trong nhà ngang đã hoàn toàn sáng sủa.


Antoni đã dọn dẹp từ nãy đến giờ, miệng lầm bầm điều gì đó. Wasił đưa mắt nhìn theo ông và không hề nói một lời. Cậu ngỡ như người khổng lồ rậm râu này là một người đáng sợ, đầy bí ẩn và nguy hiểm. Trong cách cư xử của ông, trong sự vội vã, trong những phút trầm ngâm bất thần và ngắn ngủi, trong nụ cười nửa miệng và cách nhíu mày, có gì đấy gây nên một nỗi sợ sệt đầy mê tín. Wasił hiểu rằng giờ này sẽ không có ai vào đây, cậu đành phó thác số mạng vào tay ông ta. Cậu cũng hiểu rằng không một lời khẩn cầu nào giúp được cậu, rằng ông Antoni sẽ không chịu từ bỏ kế hoạch một ly nào hết. Cậu có thể kêu cứu, nhưng không sao thốt lên nổi. Cậu chỉ nhìn chằm chằm như thôi miên vào những động tác mà cậu không hiểu chút gì của ông Antoni, nhìn ông bỏ các loại dụng cụ khác nhau vào nước đun sôi, nhìn ông lấy một tấm vải trải giường quấn quanh mình, nhìn ông bày những cuộn băng lên ghế đẩu… Nhìn ông lấy đâu đó những đoạn dây thừng…Wasił nghĩ chắc một tên đao phủ đang chuẩn bị tra tấn người ta cũng giống như ông lúc này. Vì vậy, cậu ngạc nhiên khi đột nhiên nghe trên đầu mình một giọng nói ấm áp và chân thành, khác hẳn giọng ngày thường của ông Antoni. Ông Antoni cúi xuống phía cậu và thân mật:


- Nào, anh bạn can đảm lên, theo kiểu đàn ông nhé! Phải chịu đựng một chút, nếu anh muốn lại được trở thành một thanh niên can trường, tráng kiện. Tất cả sẽ rất tốt đẹp. Nào, hãy tựa vào người tôi.


Ông bế cậu đặt lên bàn.


- Cháu thấy không - ông bảo - chú biết cháu rất dũng cảm, cháu sẽ nghiến chặt răng, không kêu một lời nào. Nhưng vô tình cháu cũng có thể rùng mình, vì vậy chú buộc cháu lại. Bởi lẽ những cái rùng mình ấy sẽ làm hỏng việc của chú. Được không?


- Trói đi - Wasił thì thào.


- Đừng nhìn vào đây nhé, cháu cứ nhìn lên trần nhà hoặc nhìn qua cửa sổ, ngắm những đám mây trên trời kia kìa.


Chính cái giọng nói bình thản ấy khiến thần kinh Wasił dịu lại. Cậu cảm thấy những sợi dây thừng trói chặt người cậu, rằng giờ đây cậu gắn chặt vào bàn, không thể nhúc nhích một chút nào nữa. Cậu liếc sang một bên, thấy ông Antoni đang xắn cao tay áo và rửa tay rất lâu trong nước đang bốc hơi.


Sau đó có tiếng dụng cụ kêu loảng xoảng, một giây sau, và cậu cảm thấy ở chân phải dường như bị một sợi dây nóng bỏng chạm vào hai lần. Rồi hai lần nữa! Nỗi đau tăng lên mỗi lúc một dữ dội hơn. Wasił lấy hết sức nghiến chặt răng, nước mắt cậu ứa ra. Cậu ngỡ như hàng giờ ròng đã trôi qua, mà cái đau vẫn tăng lên mãi… Cuối cùng, qua hai hàm răng đang nghiến chặt vẫn lọt ra một tiếng hú dài bị nén lại:


- Aaaaa…


Đột nhiên một cú đập mạnh giáng xuống chiếc chân đang đau đớn. Cái đau bây giờ khủng khiếp đến nỗi giống như lửa đã luồn vào tận xương và khiến các bắp thịt co rúm lại như trong cơn giãy chết. Những đốm sáng màu bạc quay cuồng trong mắt cậu. Mình chết mất, cậu thoáng nghĩ rồi ngất đi.


Khi tỉnh lại, ấn tượng đầu tiên của cậu là vị vốtca trong miệng. Cậu cảm thấy người yếu đến tột độ. Cậu không thể nhấc nổi mi mắt lên, không thể hiểu mình đang ở đâu và chuyện gì đang xảy ra với mình. Rồi sau, cậu cảm thấy mùi thuốc lá, tiếp đó cậu phân biệt được những giọng thì thầm. Hai người đang nói chuyện. Phải, cậu nhận ra được giọng của cha và ông Antoni.


Khó nhọc lắm cậu mới mở được mắt ra. Lát sau cậu đã quen dần với ánh sáng. Trên chiếc ghế dài, đối diện với cậu và đang chăm chăm nhìn cậu là người cha. Bên cạnh là ông Antoni.


- Nó mở mắt rồi - cha cậu thốt lên - Wasiłku, con trai ta! Chúa đã rủ lòng thương những kẻ tội lỗi chúng ta! Cầu cho tên tuổi Người sáng láng đời đời! Con trai ta, con sống chứ con? Sống chứ?


- Sao lại không sống - ông Antoni bước lại gần giường - Cậu ấy sẽ sống và chắc chắn sẽ khỏi.


- Chú xếp lại xương cho cháu rồi ư?! - Wasił thì thào hỏi.


- Chứ sao nữa. Mọi chuyện đều tốt cả. Cháu bị gẫy kinh khủng quá, mà cái ông bác sĩ kia lại còn làm cho nó xấu thêm. Giờ thì cháu phải nằm thật yên. Rồi xương chắc chắn sẽ liền.


- Và cháu sẽ lại… sẽ lại đi được chứ?


- Sẽ đi được.


- Hệt như thế - Mi mắt Wasił cụp xuống.


- Nó ngủ đấy - ông Antoni giải thích. Để cho nó ngủ. Giấc ngủ sẽ cho thêm sức.


 


VII.


Chỉ một tuần sau Wasił đã khỏi sốt và ăn ngon miệng trở lại. Cùng với niềm hi vọng, cậu vui vẻ hẳn lên. Những khi thay băng cậu nhăn nhó vì đau, nhưng vẫn cười đùa. Một mình ông Antoni đích thân chăm nom cậu, còn khi ở cối xay công việc nhiều quá thì đám phụ nữ chăm nom người bệnh.


Không có cách gì giữ bí mật đối với họ và có lẽ chính vì vậy mà tin về cuộc giải phẫu lan đi khắp vùng. Bạn bè hay người quen của Wasił ghé thăm cậu nhân tiện đường, trao đổi với cậu dăm ba câu. Các ả tò mò hơn thì tìm mọi cách điều tra để có chuyện mà kháo nhau. Có điều họ tránh mặt ông Antoni, mỗi khi thấy ông trong nhà là họ liền tháo lui. Cứ thế đi qua tháng mười, tháng mười một, tháng chạp. Vào dịp lễ Thiên Chúa Giáng Sinh, Wasił bắt đầu van nài ông Antoni cho phép cậu thử sức. Song ông Antoni chỉ đe một cách dữ tợn.


- Nằm yên đấy, đừng có mà động đậy gì hết! Tôi sẽ bảo khi nào được phép!


Mãi đến cuối tháng giêng ông mới bảo rằng đã đến lúc có thể bỏ băng. Cả nhà đều muốn có mặt để chứng kiến chuyện ấy. Nhưng ông không cho một ai vào cả. Chính ông cũng rất hồi hộp, tay ông run rẩy trong khi tháo băng. Hai chân Wasił còn gầy hơn trước, các cơ chân teo lại nhiều hơn. Nhưng sẹo lên da non rất tốt, và quan trọng hơn, các cục bướu cùng những chỗ cong queo đã mất hẳn.


Ông Antoni thận trọng đưa tay dò từng phần một, sờ nắn xương chân qua làn da mỏng. Khi ấy, ông nhắm nghiền mắt lại, dường như sợ nhìn sẽ bị cản trở hơn. Cuối cùng ông thở phào và lẩm bẩm:


- Thử động đậy ngón chân xem nào… Còn bây giờ hãy thử động đậy ngón chân xem… Có đau không?


- Không, không đau - Wasił đáp bằng giọng hổn hển vì quá xúc động.


- Giờ cháu hãy thử gập đầu gối vào…


- Cháu sợ.


- Dũng cảm lên, nào!


Wasił thi hành mệnh lệnh, rồi lệ long lanh trong mắt, cậu nhìn ông Antoni.


- Cháu co được! Cháu co được rồi!


- Khoan, đừng gập nhiều quá. Bây giờ cháu khẽ nhấc cái chân này lên… thế, bây giờ đến chân này…


Cố sức, run rẩy cả thân mình vì xúc động, Wasił thực hiện những động tác được ra lệnh.


- Giờ thì đắp chăn vào, nằm yên. Cháu phải nằm thêm một tuần nữa. Sau đó cháu sẽ dậy.


- Chú Antoni!


- Cái gì?


- Nghĩa là… thế nghĩa là cháu sẽ… sẽ có thể đi lại được ư?


- Cũng như chú thôi. Dĩ nhiên không phải ngay lập tức. Cháu sẽ phải tập dần dần. Thoạt tiên cháu sẽ không đứng nổi trên hai chân cháu đâu, cũng như một đứa trẻ thôi.


Điều đó là sự thật. Mãi hai tuần sau khi tháo băng, Wasił mới có thể bỏ gậy đi vòng quanh phòng. Khi ấy, ông Antoni gọi cả gia đình vào nhà ngang. Ông Prokop, bà Agata, cả hai người phụ nữ trẻ và cô bé Natanka.


Wasił ăn mặc chỉnh tề ngồi sẵn trên giường đợi. Khi mọi người đã đông đủ, cậu đứng dậy, đi một vòng quanh bằng những bước chân chậm rãi và hãy còn yếu nhưng rất đều. Rồi cậu đứng giữa phòng nở một nụ cười.


Khi ấy đám phụ nữ liền khóc òa lên, kêu la ầm ỹ hệt như nhà gặp phải chuyện gì không may vậy. Mẹ Agata ôm chặt con trai vào lòng, run cả người vì thổn thức. Chỉ một mình lão Prokop là đứng lặng yên, nhưng lệ chảy từng giọt xuống hàng ria và bộ râu cằm của ông.


Khi thấy các bà vẫn vừa khóc vừa cười, ông Prokop gật đầu ra hiệu cho ông Antoni.


- Đi theo tôi.


Họ đi ra khỏi nhà ngang, đi vòng lên nhà trên và bước vào hiên.


- Đưa mũ của ông đây - lão Prokop ra lệnh. Lão cầm lấy mũ rồi biến mất vào sau cánh của phòng chừng mười phút, rồi đột nhiên mở ra. Hai tay lão nâng chiếc mũ, chìa cho Antoni.


- Của ông đấy, cầm lấy! Toàn những đồng rúp vàng Sa Hoàng cả đấy. Đủ cho ông sống đến hết đời. Điều tốt lành mà ông đã làm cho tôi không tiền nào trả xiết, nhưng có đến đâu, tôi trả đến đấy. Ông cầm lấy!


Ông Antoni nhìn lão, rồi nhìn chiếc mũ đựng gần như đầy tràn những đồng tiền vàng nhỏ bé.


- Sao thế, ông Prokop?! - Antoni lùi lại một bước - Sao thế, ông? Ông mất trí rồi chắc?


- Cầm lấy - lão Prokop nhắc lại.


- Tôi biết làm gì với thứ này?! Tôi không cần. Thôi đi, ông Prokop. Tôi làm có phải vì tiền đâu cơ chứ? Vì tình thân, để đền đáp lòng tốt của ông thôi! Tôi cũng thương cho thằng bé nữa.


- Cầm lấy.


- Tôi không cầm đâu - ông Antoni cương quyết chối từ.


- Sao thế?


- Tiền của chẳng mang lại gì cho tôi cả. Tôi không lấy đâu!


- Tôi thành tâm đưa cho ông, có Chúa chứng giám rằng tôi thành tâm mà. Tôi chẳng hối tiếc đâu.


- Tôi cũng thành tâm cảm ơn. Cảm ơn ông, Prokop, vì thiện ý của ông, nhưng tôi không cần đến tiền. Tôi có bánh ăn, tôi kiếm đủ tiền để hút thuốc và may sắm áo quần, tôi cần gì tiền cơ chứ?


Lão Mielnik suy nghĩ giây lâu.


- Tôi đưa mà ông không lấy - sau cùng lão bảo - đó là việc của ông. Tôi không thể dùng vũ lực để ấn vào tay ông. Nhưng ông không có quyền làm như thế! Sao, Antoni, ông từ chối lòng biết ơn của tôi sao? Ông muốn để người ta xỉa xói vào mặt tôi rằng tôi không trả ơn ông lấy một đồng một chữ nào về việc ấy hay sao? Ông không có quyền làm trái với đạo, làm trái với tình đời như thế. Nếu không nhận vàng, ông hãy nhận thứ khác. Ông hãy là khách ở nhà tôi. Ông hãy sống cùng gia đình tôi như thể ruột thịt. Nếu thỉnh thoảng ông muốn giúp việc gì ở cối xay hay ở nhà thì giúp, ông không muốn thì thôi. Ông hãy sống như ở nhà cha đẻ vậy.


Ông Antoni gật đầu.


- Ở nhà ông rất dễ chịu, ông Prokop ạ, và tôi sẽ ở lại đây. Nhưng ăn bánh mì mà chẳng làm gì thì tôi không ăn nổi. Cho đến khi nào còn sức, còn khỏe mạnh, tôi sẽ không chối việc gì, bởi cuộc đời còn nghĩa lý gì nếu không làm việc? Còn tấm lòng ông thì tôi xin cảm ơn.


Họ không bao giờ nói thêm gì với nhau về những chuyện kia nữa. Tất cả vẫn nguyên như cũ. Có điều, bây giờ lúc ngồi ăn, bao giờ mẹ Agata cũng đặt cho ông Antoni một cái đĩa riêng và đích thân bà chọn lấy cho ông những miếng ngon lành nhất.


Vào ngày thứ sáu gần đấy, khi xe cộ chở hạt đến cối xay đông nhất, Wasił bước ra sân trong một chiếc áo lông thú ngắn mới tinh, một chiếc mũ cao ngất nghểu làm bằng lông cừu non, một đôi giày cao cổ ống bóng nhoáng. Cậu đi lại như không hề có chuyện gì xảy ra ngay trước mặt mọi người. Đám nông dân há hốc mồm, huých cùi chỏ vào hông nhau, bởi không một ai tin những điều mà các mụ đàn bà đồn đại, rằng một người làm công của ông Prokop Mielnik tên là Antoni Kosiba, một kẻ lang thang từ xa đến, đã dùng phép màu chữa cho Wasił khỏi tật.


Nếu trước kia bất hạnh của Wasił gây nên dư luận ồn ào bao nhiêu thì bây giờ người ta cũng bàn tán ồn ào bấy nhiêu về việc cậu khỏi tật. Người ta bàn tán ở Biernaty và Radoliszki, ở Wiskuny và Nieckupa, ở Poberedie và Gumniski. Rồi từ đó tin tức lan đi xa hơn nữa, đến tận những làng nhỏ nằm rải rác ở dọc sông Ruczejnica và xa hơn nữa. Ở những nơi ấy người ta ít để ý đến chuyện này, vì quá xa xôi, nhưng ở đây, ngay một bên, tất cả đều ghi nhớ đến sự kiện chữa khỏi tật một cách phi thường diễn ra tại cái cối xay kia.


Vì vậy, vào cuối tháng hai, lúc một cây bạch dương bị đổ trong khi chặt hạ ở khu rừng Trumski đè phải một nông dân ở làng Nieskupa, ông Fiodorczuk, hàng xóm láng giềng bèn khuyên chở ngay ông ta đến cối xay, đến chỗ Antoni Kosiba. Khi họ đưa được đến nơi, ông đã gần như bất tỉnh. Máu ứa ra mồm ông, thậm chí ông đã ngừng không rên rỉ nữa.


Khi cỗ xe tơi tả do một con nghẽo bụng ỏng dừng lại trước cối xay, ông Antoni đang mang một túi cám đến lẫm thóc.


- Hãy cứu lấy, người anh em - một cựu giáo nói với ông - Cây gỗ đè phải láng giềng chúng tôi. Bốn đứa trẻ nhỏ phải mồ côi mồ cút cả cha lẫn mẹ, vì năm ngoái chúng tôi vừa mới chôn cất mẹ chúng xong.


Ông lão Prokop bước ra, họ bèn nói với lão để lão ủng hộ cho.


- Ông ấy đã chữa cho con ông lành, xin để ông ấy chữa cho Fiodorczuk.


- Đó không phải việc của tôi, hỡi những con người tốt bụng - ông lão Prokop trang trọng đáp lời - tôi không thể cấm, cũng không thể ra lệnh cho ông ấy. Đó là việc của ông ấy.


Trong khi ấy ông Antoni đã vỗ tay cho bột bay hết và đang quỳ xuống bên chiếc xe trượt, ngay trên mặt tuyết.


- Các bác hãy khiêng ông ấy thật cẩn thận và theo tôi - lát sau ông bảo.


Sau khi chữa khỏi chân cho Wasił, ông đã ở lại luôn dưới nhà ngang. Ở đó tiện cho ông ấy hơn, vả chăng cho đến nay vẫn để trống. Lúc này người ta mang ông Fiodorczuk vào đấy.


Ông Antoni chữa chạy người bị nạn đến tận tối, rồi ông vào nhà trên, nơi những người nông dân làng Nieskupa đang đợi.


- Ơn Chúa - ông nói - người láng giềng của các ông là một người đàn ông khỏe mạnh, xương sống còn nguyên vẹn. Chỉ có sáu xương sườn và một xương quai xanh bị gẫy. Các bác hãy chở ông ấy về nhà, để ông ấy yên cho đến khi nào thôi thổ huyết. Nếu ông ấy ho nhiều thì cho nuốt nước đá. Đừng cho ông ấy ăn uống gì nóng. Tay trái cũng đừng động đậy. Rồi nó sẽ liền. Mười hôm nữa cử ai đến gặp tôi, tôi sẽ xem xem thế nào.


- Nhưng ông ấy không chết chứ?


- Tôi không phải nhà tiên tri - ông Antoni nhún vai - nhưng tôi nghĩ rằng nếu các bác làm tất cả những gì tôi nói thì ông ấy sẽ sống.


Họ mang ông Fiodorczuk ra xe và chở đi. Chưa được mười ngày thì người ta lại chở một người bệnh mới từ chính cái làng Nieskupa ấy đến. Người làm công ở một nhà nọ đang phá băng trên sông thì trượt chân khi đang vung cao rìu, lưỡi rìu chặt mạnh vào chân, sâu đến sát xương. Không biết rìu bị rỉ sẵn, hay một thứ bẩn thỉu gì đó từ giày cỏ dây vào vết thương, mà cả cái chân đen thẫm lại trông thấy. Chính người bị thương cũng hiểu rằng đó là bệnh hoại thư.


Ông Antoni chỉ lắc đầu và lẩm bẩm.


- Tôi chẳng giúp được gì nữa. Cái chân bỏ đi rồi.


- Thì cứu lấy mạng vậy! - Người bị nạn khẩn khoản.


- Cần phải cắt chân chỗ này, đúng chỗ này - Antoni chỉ tay vào phía trên đầu gối - Anh sẽ phải chịu tàn tật suốt đời và sẽ còn nguyền rủa tôi nữa. Anh sẽ bảo là còn có cách để cứu.


- Tôi xin thề, người anh em ạ, xin hãy cứu mạng tôi. Tự tôi đã trông thấy những vết đen, hoại thư thật rồi.


- Tùy anh - sau một lúc suy nghĩ Antoni đồng ý.


Cuộc giải phẫu hết sức đau đớn đã khiến cho người bệnh kiệt sức đến nỗi suốt mấy ngày liền không thể nào nói đến chuyện mang anh ta về nhà. Song tính mạng anh không bị đe dọa nữa.


Sau những ca đó, uy tín của Antoni càng tăng lên hơn nữa. Gần như ngày nào cũng xuất hiện những người bệnh với đủ mọi chứng bệnh khác nhau. Kẻ thì mắt đùn rử toét nhèm đến độ không được trông thấy ánh sáng của Chúa, người thứ hai xương cốt đau như dần, người thứ ba phàn nàn về cơn đau bụng, kẻ khác lại bị ho đến nghẹt thở. Cũng có cả những người không biết mình bị bệnh gì, chỉ thấy người yếu đi mà thôi.


Ông Antoni không giúp đỡ tất cả. Một số người ông từ chối ngay, bảo rằng không có thuốc nào chữa được bệnh của họ. Còn những kẻ khác thì ông khuyên nhiều điều khác nhau, nào đặt túi cát nóng chườm lên bụng, nào đừng cho muối vào thức ăn và đừng ăn thịt, nào uống thuốc sắc bằng các loại cây cỏ. Và không hiểu sao hễ ai làm theo lời khuyên của ông thì bao giờ cũng khỏi bệnh, nếu không khỏi hoàn toàn thì chí ít cũng đỡ phần đau đớn.


Trong vùng có tới mấy thầy lang. Ở chỗ công tước Zantoft tại Pietrki có một người chăn cừu biết yểm trừ bệnh đóng dấu cũng như chứng đau răng, chữa các bệnh tật khác ông cũng biết. Một bà lang Bielakowa ở trại Nowe Osiedle, biết cách chữa hắc lào và đỡ đẻ; người giữ kho đồ thánh ở Radoliszki biết tẩy giun sán và cấp cứu cầm máu. Nhưng tất cả những người ấy đều bắt người ta phải nguyện những câu kinh hoặc những lời thần chú bí ẩn nào đó, rồi họ còn làm những động tác kỳ quặc trên cơ thể người bệnh hoặc đưa cho người bệnh các tấm bùa phép.


Ngược lại, vị thầy lang mới này, cái ông Antoni ở cối xay ấy, không hề làm một việc nào như thế cả. Ông hỏi, nhìn, sờ nắn rồi sau đó ông đi đi lại lại như hóa rồ trong phòng, xoa xoa trán một cách nóng nảy, trong mắt đảo lia lịa, rốt cuộc nói ngay cần phải chữa bệnh theo cách nào.


Trong vùng người ta cãi cọ nhau khá nhiều về chuyện thầy lang nào có cách chữa bệnh tốt hơn. Nhưng có một điều ông Antoni trội hơn hẳn so với đám còn lại, là ông chữa không lấy tiền. Nếu như người bệnh mang đến một miếng bơ hay một con gà, một túi đậu, một tấm vải thô tự dệt hay một ít vải len thô, thì ông nhận, khẽ lầu bầu một câu cảm ơn ngắn gọn, nhưng nếu người ta chẳng mang gì theo, ông cũng vẫn chữa bệnh cho họ y như vậy mà thôi, thỉnh thoảng, ông còn đem cho những người nghèo khổ nhất thứ này thứ khác, phần còn lại đưa vào kho thực phẩm của bà vợ ông lão Mielnik. Bản thân ông Antoni cũng chẳng có nhu cầu riêng gì nhiều nhặn, chỉ cốt đủ thuốc lá hút, đôi giầy da bóng lộn để đi, một ít áo quần gì đó đủ mặc. Mà công việc của ông ở cối xay cũng chỉ đủ cho ông những nhu cầu đó, bởi lẽ ông không hề bỏ việc, mặc dù ông lão Prokop nài ông nghỉ vì hàm ơn ông đã chữa khỏi cho đứa con trai cùng tất cả những gì ông Antoni đã mang lại cho gia đình lão.


Trong khi ấy lượng người ốm mỗi ngày một tăng lên, thậm chí có những ngày ông Antoni không thể có một phút nào rỗi tham gia công việc tại cối xay nữa. Trước cửa nhà ông thường có mươi mười lăm xe ngựa đỗ chờ, với những người ốm nặng. Còn những ai đủ sức thì đi bộ, nếu không phải từ quá xa, mà những người từ xa cũng đến khá đông.


Trong phòng xép, trong cái hành lang nhỏ và cả trong nhà, ở các góc, cao dần lên những đống quà biếu, bởi lẽ mẹ Agata chỉ đồng ý nhận những thứ gì ăn được, còn vải, len gai, da cừu và da bê, các thứ lông vũ, và trước hết là các loại cây thuốc   thứ duy nhất mà ông Antoni ham chuộng   thì nằm chất đống.


- Chỗ ở của ông bừa bộn quá thôi - cô Zonia hông rộng chống nạnh thốt lên - mà lại đủ thứ của cải như trong kho lão Do Thái giấu đằng sau lò sưởi ấy. Ông cứ bảo, em sẽ dọn dẹp tinh tươm sạch sẽ cho ông ngay… Sàn nhà cũng phải đánh chứ…


- Cứ để thế cũng được - ông phẩy tay - tôi thấy thế cũng tốt rồi.


- Cửa sổ cũng nên rửa nữa này - cô nói thêm.


- Chẳng sao đâu.


- Đàn ông không có người săn sóc cứ như vườn không có rào ấy.


Ông Antoni không hé môi, hi vọng rằng nếu ông không nói gì, thì cũng như mọi khi, Zonia đứng một lúc rồi cũng bỏ đi thôi. Thậm chí ông cũng mên mến cô, ông rất trọng lòng tốt của cô, nhưng ông chỉ thích sống một mình.


Nhưng lần này cô Zonia lại không lùi bước.


- Antoni ạ, ông thật là một người đàn ông giỏi giang khéo léo. Có điều ông không biết kiếm lợi cho thân ông. Hô hô, ông có thể kiếm ra biết bao nhiêu của cải nếu ông  muốn. Bao nhiêu người phải cần đến ông kia thôi. Giúp đỡ kẻ đau ốm dĩ nhiên là việc phải đạo Chúa rồi. Ai nghèo, thì giúp không, nhưng ruột gan em cứ lộn cả lên khi thấy ông chỉ lấy, nói ví dụ, của một thằng cha giầu sụ như lão Dulejko ở Bierwiaty kia - có nửa tấm lông thú. Lão ấy sẵn sàng trả cho ông cả một con bò sữa ấy chứ, nếu ông đòi. Ông có thể kiếm khối tiền đấy, ông ạ.


- Tôi cần gì đến tiền cơ chứ - ông nhún vai - Thế này cũng không phải chịu đói kia mà, tôi biết dành dụm cho ai bây giờ?


- Đó là lỗi của ông đấy.


- Lỗi gì kia?


- Lỗi ở chỗ ông không biết kiếm tiền cho ai. Ông phải có vợ. Và có cả con nữa.


- Tôi già rồi - ông lẩm bẩm cho qua chuyện.


Zonia cười phô cả hàm răng:


- Ông mà già. Khối cô muốn theo ông đấy.


- Làm gì ra có.


- Như em đây chẳng hạn. Em nói thật đấy. Theo ngay.


Antoni quay vội mặt đi, lầu bầu.


- Đừng nói vớ vẩn nữa đi.


- Sao lại vớ vẩn? Ông đừng lo. Không có tháng nào không có kẻ đến ướm hỏi em đâu. Dù là gái góa, em cũng không phải hạng bỏ đi. Chủ nhật vừa rồi, chính ông cũng thấy đấy, ông lão Baran và người làm vườn Siwek ở Wickuny đến đây hỏi em cho anh chàng Misczonek. Em chẳng thèm. Em chẳng muốn một anh chồng như thế. Em chẳng thèm. Mặc dù anh ta sẽ được thừa kế của cha một thửa  đất. Nhưng em sẽ lấy ông, chỉ cần ông nói một lời thôi. Ông không biết chứ, bố Prokop sẽ vui biết mấy…


- Zonia, tôi lấy vợ mà làm gì…


- Ông không thích em à?


- Đâu phải chuyện không thích. Không ai làm tôi thích cả, tôi đâu phải người để lấy vợ.


- Thế thì làm sao?


- Thế đấy.


- Ông không cần đàn bà, hả, thật không?


- Không cần thật mà.


- Thế thì ma quỷ bắt ông đi cho rảnh! - Zonia đột nhiên nổi cáu - Cầu cho ông đứng trên gò mà không thấy mặt trời! Cho thiên lôi giết ông đi! Cầu cho ông ngâm chân trong nước mà chịu chết khát! Trông hắn kìa! Đồ vô dụng chưa kìa?… Cương quyết thế à?… Được, được! Tôi sẽ cạch cái mặt ông! Phù!


(còn tiếp)


Nguồn: Thầy lang. Tiểu thuyết của Tadeusz Dołęga-Mostowicz . Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên tác tiếng Ba Lan. NXB Hội Nhà văn. Bản in lần thứ 19, tháng 7-2017.


www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 20.08.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 20.08.2018
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 18.08.2018
Những người mở đất - Triệu Xuân 14.08.2018
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 14.08.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 14.08.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 13.08.2018
Khảo luận về tác phẩm Tầng đầu địa ngục - Hoàng Hải Thủy 13.08.2018
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 09.08.2018
Hòn đất - Anh Đức 05.08.2018
xem thêm »