tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18968665
Tiểu thuyết
04.04.2017
Bạch Diện Nguyễn Văn Cư
Hà Nội xưa và nay



Năm 1949, thực dân Pháp cho Phan Xuân Đài làm thị trưởng Hà Nội. Việc làm đầu tiên của tên Việt gian này là phá đài Kỷ niệm chiến sĩ Nam bộ. Đài này do nhân dân ta xây dựng trên khu đất trống cạnh đền Bà Kiệu, địa điểm ở ngay chỗ dựng cột sắt treo tranh tuyên truyền cổ động bây giờ. Đài xây lên để kỷ niệm các chiến sĩ của ta ở trong Nam đã chiến đấu chống thực dân Pháp gây hấn tại thành phố Sài Gòn. Các chiến sĩ đã chiến đấu anh dũng và hy sinh trên chiến trường, nhân dân ta đều kính mến nên lập đài kỷ niệm xây cao to và đẹp. Cụ Huỳnh Thúc Kháng, khi ấy làm Bộ trưởng Nội vụ làm lễ khánh thành, sau đó nhân dân Hà Nội làm lễ tưởng niệm. Trong thời tác chiến Thủ đô, thực dân Pháp không dám bắn vào đài và cả khi tạm chiếm Hà Nội, thực dân Pháp cũng không dám động chạm đến đài ấy, sợ dân Hà Nội công phẫn. Chúng liền sai Phan Xuân Đài phá đài, song tên này vừa làm xong thì nhân dân phản đối kịch liệt bằng cách chửi thẳng vào mặt hắn ầm ĩ khắp từ Bắc vào Nam. Tại Sài Gòn, báo Thời cuộc công kích kịch liệt, Phan Xuân Đài hoảng sợ vội vàng đăng các báo nói là sẽ xây dựng đài nơi khác to đẹp hơn, rồi hắn ra thông cáo mở cuộc thi vẽ mẫu đài Kỷ niệm chiến sĩ Nam bộ. Hắn phải bỏ tiền ra thuê các báo ở Hà Nội và ở Sài Gòn đăng thông cáo ấy. Nhưng đó chỉ là cách xoa dịu dư luận, rồi hắn lo sợ quá xin từ chức. Pháp lại cử Đỗ Quang Giai làm thị trưởng Hà Nội. Thực dân Pháp đặt chế độ kiểm duyệt các báo, không cho báo công kích những tên Việt gian do chúng dựng lên làm bù nhìn, nhưng các báo vẫn tìm cách để chửi xỏ. Đối với Đỗ Quang Giai, nhà báo nhắc lại chuyện viên kinh lược Bắc Kỳ xưa là Nguyễn Văn Giai xây chùa Liên Trì (tức chùa Báo Ân hay chùa Ông Thượng nay là Bưu điện cao 6 tầng ở phố Đinh Tiên Hoàng), nhân đó nhắc lại câu thơ cổ để chửi xỏ Đỗ Quang Giai:


Phúc đức gì mày bố đĩ Giai!


Làm cho tổn Bắc lại hao Đoài!


Đối với Bảo Đại, thực dân Pháp bắt nhân dân ta phải tôn kính, các nhà trong thành phố phải treo ảnh, các báo phải gọi là “Đức Quốc trưởng”. Nhưng tin Bảo Đại bị Chính phủ ta ở hậu phương thiết lập tòa án tại Phủ Lý xử tội hắn truyền ra Hà Nội vào Sài Gòn lan đi khắp các nước. Các Đảng Cộng sản và Xã hội Pháp đều phản đối chính phủ Pháp, cho rằng điều đình với Bảo Đại là thất sách. Họ yêu cầu Chính phủ Pháp phải điều đình với Cụ Hồ mới chấm dứt được chiến tranh. Tại Sài Gòn, 400 nhà trí thức ký kiến nghị không ủng hộ Bảo Đại. Các báo Việt Nam xuất bản tại Hà Nội tìm cách xỏ ngọt làm mất uy tín Bảo Đại. Một lần, bản tin của Pháp AFP đưa cho các báo có tin nói: “Đức Quốc trưởng Bảo Đại còn ở Cannes, chưa đi Paris đấu tranh cho nền độc lập nước nhà, vì Nam Phương hoàng hậu còn đau tay”. Một tờ báo hàng ngày đăng tin ấy, lấy cỡ chữ trên làm đầu đề in chữ to chạy suốt 4 cột báo. Đó là một cách chửi xỏ Bảo Đại. Tên tư sản mại bản Nguyễn Đệ, chủ hiệu xuất nhập cảng phố Hàng Buồm, được Pháp cho làm cố vấn cho Bảo Đại, đứng ra phản đối Pháp đã để báo Việt Nam làm mất uy tín của Bảo Đại. Anh em thợ in, có khi cũng tinh nghịch, năm chữ “Đức Quốc trưởng Bảo Đại” họ sắp thành “Đức Quốc trưởng Bảo Đái”. Báo in xong rồi, anh chủ báo mới phát hiện ra được, vội vàng thuê người chữa lại.


Khi Bảo Đại vào Sài Gòn họp trước ban công Nhà hát Lớn, Pháp bắt dân đi nghe, tụ tập cả dưới đường. Tên Việt gian Phan Văn Giáo khi ấy làm Tổng trấn Trung phần đứng sau Bảo Đại, cầm quạt lá quạt cho hắn. Các báo Sài Gòn nổi lên cuộc công kích Phan Văn Giáo kịch liệt. Báo xuất bản tại Hà Nội, vì kiểm duyệt ngặt, không thể công kích được, nhưng họ cũng tìm cách nói xỏ xiên bóng gió. Một tờ báo đăng bài nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương, tác giả nêu bài Vịnh cái quạt của nữ sĩ Xuân Hương và đổi mấy chữ trong hai câu thơ 5, 6. Nguyên văn hai câu ấy là:


Mát mặt anh hùng khi tắt gió


Che đầu quân tử lúc sa mưa


Tác giả đổi lại:


Mát mặt thằng gian khi đứng gió


Che đầu thằng nịnh lúc sa mưa


Học sinh và công nhân trong Sài Gòn luôn luôn biểu tình chống Pháp, phản đối Bảo Đại. Một lần mật thám Pháp đàn áp cuộc biểu tình của học sinh, dùng dùi cui đánh chết em Trần Văn Ơn, các em học sinh dùng gạch đánh trả. Ngày hôm sau, các học sinh và công nhân làm lễ an táng em Trần Văn Ơn, có đến một vạn năm ngàn người đi đưa ma. Thực dân Pháp huy động cảnh sát, mật thám, lính mã tà đi cản trở, người đưa ma trèo cả lên nóc các nhà hai bên đường để đi và lại xảy ra cuộc xung đột giữa người đưa đám ma với cảnh sát và binh lính Pháp.


Tại Hà Nội, học sinh định tổ chức lễ truy điệu em Trần Văn Ơn tại trước cửa Nhà hát Lớn, thực dân Pháp cản trở, tất cả học sinh đều bãi khóa, rồi công nhân bãi công, tiểu thương bãi thị. Thực dân Pháp phải điều đình cho học sinh và công nhân làm lễ cầu hồn cho em Trần Văn Ơn tại Nhà hát Lớn và làm chay cho em Ơn tại chùa Quán Sứ. Người đến dự các lễ này rất đông. Tại chùa Quán Sứ các sư phải rước cành phan, cành phướn và ảnh em Trần Văn Ơn đi vòng quanh sân chùa vừa đi vừa tụng kinh. Đây là hình thức đấu tranh chửi vào mặt thực dân Pháp và Bảo Đại.


Khi mới gây hấn tại Hà Nội năm 1946, thực dân Pháp huênh hoang chỉ trong ba tháng là chúng bình định được Đông Dương. Nhưng hơn ba năm rồi chúng vẫn bị lúng túng trong các vùng tạm chiếm, hễ hành quân ra hậu phương là bị quân và dân ta quật cho tan tác, thua thiệt cả về người lẫn về của. Nhân dân ta bảo là chúng bị hãm vào thế cưỡi hổ. Chúng rất bực dọc, luôn luôn thay đổi những tên tay sai: về chức “thủ tướng” Chính phủ ngụy quyền chúng thay đổi luôn: hết Nguyễn Văn Xuân, đến Lê Văn Hoạch rồi Trần Văn Hữu, rồi Nguyễn Phan Long, rồi Nguyễn Văn Tâm, lại quay lại Trần Văn Hữu là một tên dân Tây.


Khi Nguyễn Văn Tâm làm Thủ tướng, thực dân Pháp căn dặn hắn: “Dân Bắc Việt là dân có Nho học phải dùng lối “nhà Nho” mới lung lạc được họ”. Nguyễn Văn Tâm là con Nguyễn Văn Của, một tên đại địa chủ kiêm chủ nhà in và có Nho học, nên Nguyễn Văn Tâm cũng võ vẽ biết chút ít chữ Nho. Mỗi lần ra Hà Nội, tên Tâm đều mặc Quốc phục khăn đóng, áo dài, ra vẻ nhà Nho. Một lần Nguyễn Văn Tâm làm lễ tế Khổng Tử tại Văn Miếu vào ngày 27 tháng 8 âm lịch (ngày đản Khổng Tử), sau khi xì xụp lễ, Tâm sai người gọi Nguyễn Bỉnh Tuyên giám đốc thông tin ngụy quyền ra đọc văn tế, nhưng tìm mãi không thấy hắn đâu. Có người tò mò dòm vào gầm bàn thờ Khổng Tử thấy Nguyễn Bỉnh Tuyên đương ngủ say, tay còn cầm quả cam. Thì ra anh này đêm trước đi hát cô đầu và đánh bạc suốt đêm nên ban ngày mệt lại phải đi phục vụ đám tế, nên anh ta chui vào gầm bàn thờ nằm định bóc cam ăn nhưng mệt mỏi quá ngủ quên mất, khi bị gọi dậy anh ta hoảng hốt chui ra. Nguyễn Văn Tâm hỏi ngay: “Thầy ngủ đâu bây giờ mới dậy?”. Đinh Gia Thuyết đứng gần đó đáp thay: “Bẩm cụ lớn! Xưa Đức Khổng thường mộng thấy Chu Công, nay ông giám đốc cũng muốn mộng thấy Đức Khổng Tử đấy ạ!”. Tâm lại hỏi: “Thầy mộng thấy gì?”. Tuyên đáp: “Bẩm, tôi vừa nằm chợp đi một tí, cụ lớn cho gọi phải ra ngay, nên chưa mộng thấy gì!”. Tâm lại hỏi: “Người ta bảo thầy nằm ngủ tay còn cầm quả cam, cam đâu?”. Tuyên đỏ mặt lên, lúng túng chưa biết đáp sao, thì Đinh Gia Thuyết đáp thay: “Đấy là ông giám đốc thông tin muốn bắt chước tướng quân Trần Quốc Toản, không được dự Hội nghị Bình Than, tay cầm quả cam bóp nát lúc nào không biết!”.


Một lần khác Nguyễn Văn Tâm đi kinh lý tỉnh lỵ Thái Bình, tên tỉnh trưởng sai dân làm cổng chào, bắt các bô lão phải mặc áo thụng xanh đứng trước cổng chào để chờ đón. Các cụ căm lắm, lấy giấy đỏ viết chữ Nho to tướng dán trên cổng chào: “Hoan nghênh đại điểm”. Ô-tô tên Nguyễn Văn Tâm đến trước cổng chào thấy bốn chữ ấy, ngừng xe lại hỏi các bô lão: “Bốn chữ này là thế nào?”, các cụ đáp: “Bẩm cụ lớn, Đức Khổng Tử chia dân làm ba hạng lớn bé khác nhau. Người có đạo cao đức trọng như cụ lớn là đại điểm, các ngài làm việc dưới quyền cụ lớn là trung điểm, còn dân chúng tôi là tiểu điểm ạ!”. Tâm nghe thấy thế hài lòng lắm, khi về Hà Nội, hắn khoe với mọi người: dân Thái Bình phục hắn lắm. Nhưng rồi có người giải thích bốn chữ ấy cho nó biết: chữ đại thêm dấu chấm vai là chữ khuyển, là con chó; đại điểm nghĩa là chấm to, nói lái lại là chó tâm. Đến lúc này Nguyễn Văn Tâm tức nghẹn họng, không biết làm sao được, chạy đến phủ Thủ hiến bảo Nguyễn Hữu Trí: “Anh xui dân Thái Bình nói xỏ tôi à?”.


*


Năm 1950, trong chiến dịch Đông Khê, quân Giải phóng của ta tiến công quân đội Pháp tại Đông Khê, tiêu diệt một số lớn quân của chúng, giải phóng toàn bộ tỉnh Lạng Sơn. Thực dân Pháp đem đám tàn quân về Hà Nội và tuyên bố bỏ Bắc Việt, rút hết quân vào Nam, vì Pháp thua đậm trên khắp các mặt trận. Bọn nhà buôn Pháp và bọn nhà giàu Việt Nam rục rịch chạy theo quân Pháp vào Nam, cảnh chợ giời lại xuất hiện tại trước cửa chùa Vua và chợ Hôm. Nhưng rồi đế quốc Mỹ tuyên bố viện trợ cho thực dân Pháp, khuyên Pháp tăng cường hành quân tại Bắc Việt. Được Mỹ viện trợ, thực dân Pháp cử tên danh tướng Jean de Lattre de Tassigny làm tổng tư lệnh quân đội viễn chính Pháp tại Đông Dương kiêm chức Cao ủy Pháp tại Đông Dương thay cho Léon Marie Adolphe Pascal Pignon bị triệu hồi.


Đến đây cần phải nói về sự thiệt hại về quân sự và chính trị của Pháp tại Việt Nam trong thời gian Léon Pignon làm Cao ủy. Tên này đã dùng một người Việt Nam quê tại Sài Gòn, nguyên là công chức tại Phủ Thống đốc Nam kỳ. Ông này lấy hai đời vợ người Huế, bà vợ trước chết ông ta lấy bà em làm vợ kế. Bà vợ kế tập kết ra Hà Nội, có thời gian làm công nhân sắp chữ tại nhà in Minh Sang sau khi nhà in này được công tư hợp doanh. Ông chồng bà ta (xin giấu tên) là mật vụ của ta, lại được tên Pignon dùng làm thư ký riêng và rất tín nhiệm. Hắn đi Hà Nội, đi Đà Lạt, đi Paris, đi Hong Kong đều đem ông thư ký riêng này đi theo, do đó những bí mật về chính trị, về quân sự của Pháp ông ta đều nắm được cả. Đến khi xảy ra vụ nổ làm đắm một chiến hạm Pháp tại Đà Nẵng do du kích ta hoạt động, Pháp mở cuộc điều tra mới biết rõ có bàn tay của ông thư ký riêng của Pignon nhúng vào, chúng lùng bắt thì ông ta đã ra hậu phương rồi.


Tên tướng Jean de Lattre de Tassingy biết rõ việc này nên khi được cử làm Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh và Cao ủy Pháp tại Đông Dương, nó chẳng tin tên ngụy quyền nào cả. Nó là một thằng có tính hống hách đối với tụi võ quan dưới quyền và cả bọn ngụy quyền. Từ Bảo Đại trở xuống, trái ý nó, nó đều mắng cho tàn tệ. Con nó là thằng Berna de Lattre bị điều sang Việt Nam, chỉ là một tên lính trơn, tụi võ quan ở Hà Nội tống nó đến đóng ở Ninh Bình, khi được tin thằng bố được cử làm các chức vụ cao tại Đông Dương, tụi võ quan vội vàng gọi thằng Berna về Hà Nội và phong ngay thiếu úy. Thằng bố vừa đến Hà Nội, gọi con ra hỏi: “Có chiến công gì mà được phong thiếu úy?" rồi nó lột lon của thằng con ngay và tống đi đóng tại chùa Non Nước tỉnh Ninh Bình. Năm 1951, quân Giải phóng của ta tấn công giải phóng Ninh Bình, thằng Berna bị trúng đạn chết. Bố nó căm giận lắm, hạ lệnh cho bọn ngụy quyền động viên tất cả thanh niên Việt Nam từ 18 đến 50 tuổi phải đi lính làm bia đỡ đạn cho chúng nó. Các nhà giàu Việt Nam đem tiền ra đút lót nơi này, chạy chọt nơi khác để cho con mình khỏi phải đi lính: người thì xoay xở cho con sang Pháp để trốn quân dịch, còn những người không có mánh lới gì hoặc không có tiền đành phải để cho bọn ngụy quyền bắt con mình đi. Khi ra tòa thị chính Hà Nội tiễn con đi, họ khóc lóc và chửi ầm ĩ cả lên, họ chửi cả thằng de Lattre, thằng Bảo Đại, thằng thủ hiến và thằng thị trưởng. Quá đỗi thương xót con, họ chẳng sợ gì cả. Cũng có nhiều bà mẹ lại vui lòng cấp tiền cho con mình trốn ra hậu phương xin gia nhập quân Giải phóng của ta.


Nhận được viện trợ của Mỹ, thực dân Pháp trợ cấp cho các nhà buôn Pháp để họ ở lại Hà Nội buôn bán: một mặt chúng làm một vài việc để tỏ cho Mỹ thấy rằng Pháp vẫn ở lại Hà Nội, không bỏ Bắc Việt nữa. Chúng sai thị trưởng Hà Nội mở chợ phiên ở Bờ Hồ, từ nhà Thủy Tạ đến mạn ven hồ phố Hàng Khay để lấy tiền chi dụng vào việc mở mang sửa chữa vài nơi trong thành phố. Chợ phiên khai mạc ngày mùng 2 Tết năm Tân Mão (1951) mở trong một tháng thu được khá tiền. Sau đó, bọn ngụy quyền theo lệnh Pháp sửa sang Bờ Hồ: phá nhà ga xe điện, xây bể phun nước trên có đồng hồ, lấp bớt hồ Hoàn Kiếm phía trước cửa hàng mậu dịch thiếu nhi, mở rộng đường, thêm đường xe điện Hà Đông và Cầu Giấy từ phố Cầu Gỗ đến nơi đỗ hiện nay; những nhà cổ ở phố trước xây de ra quá vỉa hè đều phải xén cho thụt vào đều hàng với các nhà khác (nhiều nhất là ở các phố Cầu Gỗ và Hàng Gai). Việc xén nhà này do công nhân và nguyên vật liệu của thành phố đưa đến làm, chủ nhà không mất phí tổn gì và cũng không được đòi bồi thường.


Mỗi lần đi hành quân về, de Lattre ngồi bịa ra bản thông cáo quân sự nào đánh nơi này, nào phá nơi nọ toàn một giọng huênh hoang, khoác lác. Nó đưa đánh máy thành nhiều bản giao cho Nguyễn Hữu Trí, thủ hiến Bắc Việt ngụy quyền để phân phát cho các báo chữ Việt bắt phải đăng. Do việc này xảy ra một chuyện buồn cười:


Tại Phủ Thủ hiến có một anh tên Nguyễn Kim Hoàn, em rể Nguyễn Tường Tam. Anh chàng này nghiện thuốc phiện nặng. Nguyễn Hữu Trí nể Nguyễn Tường Tam nên xếp cho Hoàn một công việc nhẹ nhàng là hàng ngày ngồi nhận công văn các nơi gửi đến, thứ nào gửi đi đâu, hắn chuyển cho tùy phái đưa đi, thứ nào cấp trên hắn bảo không gửi đi thì lưu lại trong hồ sơ. Hắn lại có thói thích làm phách, những thứ không gửi đi, hắn lấy bút chì xanh viết chữ “censuré” (nghĩa là kiểm duyệt) rồi mới xếp vào cặp hồ sơ. Một hôm thằng de Lattre đi hành quân về viết một bản thông cáo quân sự khoe khoang khoác lác, lấy làm thích thú, sai đánh máy chuyển sang phủ Thủ hiến để phân phát cho các báo. Nguyễn Kim Hoàn vốn nghiện nặng, hôm nào no thuốc tỉnh như con sáo, làm việc cần mẫn, hôm nào đói thuốc, người mụ đi, đến sở làm chỉ ngủ gật, ngáp dài và lầm lẫn. Giữa hôm thằng de Lattre đương cao hứng về bản thông cáo của nó, thì Nguyễn Kim Hoàn bị đói thuốc ngồi ngủ gật trước bàn giấy. Cấp trên giao một tập công văn dặn cẩn thận về thứ gửi đi, thứ lưu lại hồ sơ. Hắn nhận xong còn uể oải, ngủ thêm một lúc nữa, khi mở choàng mắt dậy thấy tập công văn trước mặt, hắn cầm bút chì xanh viết những chữ “censuré” vào tất cả rồi xếp vào hồ sơ, chuẩn bị ra về, vì gần hết giờ. Sáng hôm sau, de Lattre hỏi nhân viên Việt Nam giúp việc hắn có thấy các báo chữ Việt đăng bản thông cáo của nó không. Họ trả lời không, nó sai gọi dây nói hỏi phòng báo chí Phủ Thủ hiến, thì được trả lời là bản thông cáo ấy bị Phủ Thủ hiến kiểm duyệt. Nó tức giận không nói năng gì, gọi lái xe đánh ô-tô đưa nó đến Phủ Thủ hiến. Nó sầm sầm chạy ngay vào bàn giấy của Nguyễn Hữu Trí, mắng cho Trí một trận kịch liệt, rồi sầm sầm ra về. Sau khi de Lattre về, Nguyễn Hữu Trí gọi Hoàn sang bàn giấy của mình trút hết cả những cái tức giận của de Lattre sang đầu Hoàn rồi mời anh ta ra khỏi cửa với ba tháng lương[1].


*


Một lần de Lattre đi hành quân về, sai đánh điện gọi Bảo Đại ra Hà Nội có việc. Bảo Đại vốn gờm thằng này vì nó vẫn nhìn Bảo Đại bằng con mắt gườm gườm và bộ mặt khinh bỉ. Bảo Đại lần chần không ra, nó sai thúc bằng tin điện thứ hai, Bảo Đại trả lời máy bay hỏng không ra được, nó liền sai đưa máy bay của nó vào, bắt Bảo Đại phải ra ngay. Bảo Đại ra đến nơi nó mắng cho một chặp rồi bắt dựng lễ đài ở vườn hoa Chí Linh để ngày hôm sau Bảo Đại gắn cho nó cái Nam Long bội tinh, tỏ lòng biết ơn nó.


Năm 1951, vào ngày 14-7, ngày Quốc khánh của Mỹ, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn đưa thiếp mời Trần Văn Hữu và bọn ngụy quyền đến dự tiệc chiêu đãi. Thằng de Lattre ở Hà Nội, biết tin liền đánh điện vào Sài Gòn gọi Trần Văn Hữu và tất cả bọn ngụy quyền phải ra ngay Hà Nội ngày 13-7, để sáng hôm sau đến Nhà thờ Lớn dự lễ cầu hồn cho con nó là thằng Berna. Thế là bữa tiệc chiêu đãi tụi ngụy quyền này của Mỹ bị ế.


Mỹ viện trợ cho Pháp muốn biến Pháp thành bọn lính đánh thuê cho Mỹ, nếu sau này Pháp chiếm lại được thuộc địa cũ thì Mỹ nghiễm nhiên làm anh chủ, gạt Pháp ra rìa. Pháp nhận viện trợ Mỹ, không muốn cho Mỹ can thiệp vào Việt Nam, chỉ cho Mỹ làm anh tài chủ, sau này Pháp sẽ nạo vét tài nguyên của Việt Nam và Đông Dương trả dần cho Mỹ. Ngoài việc viện trợ về quân sự cho Pháp, Mỹ viện trợ về hành chính cho bọn ngụy quyền Việt Nam, không muốn cho Pháp can thiệp vào. Khoản viện trợ ấy, Pháp không động chạm đến nhưng kiểm soát và điều khiển việc sử dụng tiền viện trợ. Pháp cho mua một trăm cái cuốc chim của Pháp phát cho nông dân Việt Nam; Pháp sai ngụy quyền giao cho bọn kỳ hào một số làng ở ngoại thành xây mấy cái nhà vệ sinh công cộng, gọi là “nhà vệ sinh viện trợ Mỹ”. Đó là cách xỏ lá Mỹ. Tại Hà Nội, thực dân Pháp cho đóng mấy chục cái xe xích lô, vật liệu toàn mua của Pháp rồi cấp cho một số anh em chuyên nghề đạp xích lô bằng cách cho thuê - bán (location - vente). Các anh em này phải có người bảo lãnh mới được hưởng xe. Người bảo lãnh chỉ là hình thức, thực chất lại là những anh cai xe hồi xưa.


Mỹ với Pháp tuy vẫn cấu kết với nhau nhưng vẫn chửi nhau, xỏ ngọt nhau. Mỹ chửi Pháp là gây chiến tranh bẩn thỉu (la guerre sale) tại Đông Dương; Pháp thì nói xấu Mỹ, người Việt Nam nào ra vẻ thân Mỹ thì Pháp trừng trị ngầm. Trần Trung Dung, chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Thời sự thường viết bài tán tụng Mỹ, thỉnh thoảng lại công kích Pháp. Pháp cho tay sai đón đường đánh cho Trần Trung Dung một trận ở vườn hoa Hàng Đậu vào một buổi tối.


Mỹ muốn dùng Trần Trọng Kim để sẽ lập một chính phủ bù nhìn thân Mỹ, đánh đổ Bảo Đại, gạt Pháp ra, Pháp dò biết liền cho tay sai ám sát Trần Trọng Kim. Đấy là theo dư luận của người Hà Nội hồi bấy giờ. Còn Pháp thì nói là Pháp không can dự và không biết gì về cái chết của Trần Trọng Kim.


Đầu năm 1952, de Lattre de Tassiny đang chỉ huy mặt trận Hòa Bình, thì đáp máy bay thẳng về Pháp không qua Hà Nội nữa. Hai tháng sau thì hắn chết ở Paris. Người Pháp ở Hà Nội nói de Lattre bị bệnh bàng quang phải mổ rồi chết nhưng nhiều người Việt nghi ngờ về cái chết ấy, còn Pháp thì giấu kín. Sau khi de Lattre chết, Pháp phái Raoul Salan làm Tổng tư lệnh, chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương và làm Cao ủy Pháp tại Đông Dương, Letourneau làm ủy viên Bắc Việt. Tình hình Pháp đến lúc này đã suy nhược nhiều rồi, tinh thần quân lính Pháp đều sa sút, chúng chán nản chiến tranh và rất sợ ra trận. Mỗi lần phải đi hành quân, chúng chỉ càn quét các vùng nông thôn ngoại thành và gần ngoại thành là nơi Pháp tạm chiếm ban ngày; còn ban đêm vẫn do những cán bộ và du kích ta kiểm soát. Những người bị Pháp bắt ra làm lý trưởng vẫn che giấu cán bộ và du kích của ta và còn tạo điều kiện cho họ hoạt động chống phá Pháp. Mỗi khi xảy ra vụ nổ mìn phá đoàn xe lửa chở khí giới của Pháp hoặc xảy ra vụ ám sát những tên tay sai của Pháp, tụi mật thám Pháp về mở cuộc điều tra, các ông lý trưởng này đều trả lời nước đôi, không gãy gọn, nên chúng gọi là “ấm ớ hội tề” (hội tề tức là hội đồng hương chính trong làng do thực dân Pháp bắt thành lập trong các vùng tạm chiếm).


Tại hậu phương, bộ đội của ta đánh Pháp càng ngày càng thắng lợi, du kích hoạt động càng hăng hái, những đoàn xe lửa của giặc Pháp tải khí giới từ Hải Phòng lên Hà Nội luôn luôn bị trúng mìn. Ngay trong thành phố Hà Nội, giữa ban ngày một số trạm biến thế cũng bị nổ mìn, những kho tàng của giặc thỉnh thoảng lại bị đốt. Cả trường bay Gia Lâm cũng bị du kích ta tiến vào phá hủy mấy chục máy bay. Binh lính Pháp nhiều tên có thái độ phản chiến. Để nâng đỡ Pháp, bọn đế quốc Mỹ tăng thêm viện trợ và bỏ ra nhiều tiền cho Pháp xây dựng cứ điểm Điện Biên Phủ rất kiên cố. Chúng cho rằng quân và dân ta không thể nào tấn công nổi, vì cứ điểm này ở giữa vùng lòng chảo, chung quanh núi cao và ở xa nên ta không thể nào đem súng lên núi mà bắn phá chúng được. Với cứ điểm này, chúng sẽ chặn đứng quân đội ta ở miền ngược, để chúng “bình định” miền xuôi rồi tiêu diệt dần quân đội ta. Nhưng không ngờ rằng Điện Biên Phủ lại là mồ chôn chúng. Đầu năm 1954, ta mở trận tấn công vào Điện Biên Phủ. Bộ đội ta kéo pháo lên đỉnh núi nã tới tấp vào các hầm hào của chúng, phá vỡ từng mảng. Dưới mặt đất, bộ đội ta vừa đánh vừa đào hầm tiến sát vào cứ điểm của chúng. Súng cao xạ đặt như chăng lưới bắn rơi máy bay của chúng như sung rụng. Tên de Castries, chỉ huy cứ điểm này và quân đội chúng rất đông bị bao vây luôn đánh điện cầu cứu. Nhưng không sao cứu nổi, vì ô-tô của chúng không thể tiến vào được nữa, còn máy bay của chúng tiếp tế quân và khí giới lương thực bị ta bắn rơi, những tên lính nhảy dù xuống đều bị ta bắt sống. Trong khi ta mở trận tiến công vào Điện Biên Phủ, thì các mặt trận khắp nơi từ Nam ra Bắc cũng đánh Pháp dồn dập. Pháp bị thua đậm, chúng giận cá chém thớt, nã đại bác bắn vào làng Xuân Cầu thuộc huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên là quê hương ông Tô Hiệu (một chiến sĩ Cộng sản bị hy sinh từ năm 1930) và của các ông đương tham gia kháng chiến như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Công Hiếu, Tô Gi, Tô Quang Đẩu và nhiều ông khác nữa. Ngôi đình cổ, ngôi miếu cổ và cả tòa nhà của ông bác ruột ông Nguyễn Công Hoan bị phá rụi.


Trận chiến Điện Biên Phủ là trận chiến quyết liệt và rực rỡ trong lịch sử nước ta. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, ta hoàn toàn thắng lợi, chiếm cứ điểm của chúng, cắm lá Quốc kỳ lên nóc hầm tên tướng chỉ huy Pháp de Castries. Toàn bộ tướng, tá, binh lính Pháp đều bị bắt làm tù binh. Chính phủ Pháp phải nhờ Chính phủ Ba Lan nói với ta xin điều đình để rút quân về nước. Từ Hội nghị Trung Giã (tại Thái Nguyên) đến hội nghị Genève do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu phái đoàn trong cuộc điều đình ta đều thắng lợi. Đế quốc Mỹ rất căm về trận đại bại này của Pháp, nên sau hội nghị Genève, Mỹ bắt de Castries phải sang Mỹ tường trình về việc bị ta tiến công và Pháp bị đại bại.


 


HÀ NỘI ĐƯỢC GIẢI PHÓNG VÀ XÂY DỰNG LẠI


Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, lực lượng vũ trang và nhân dân Thủ đô đã tiêu diệt 3.463 tên địch, làm bị thương 2.820 tên, làm tan rã 13.000 binh lính; phá hủy 47 máy bay, 11 đầu xe lửa, 3 ca-nô, 5 khẩu đại bác 105 li và 75 ly, đốt cháy 637.500 lít xăng và thu nhiều vũ khí trang bị khác của địch. Ta giải thoát được hơn 100 cán bộ bị giam trong các nhà tù (ghi theo tài liệu đã đăng trong báo Hà Nội mới).


Tại Hội nghị Genève, Mỹ làm thầy dùi cho Pháp đòi chia nước ta ra làm hai: từ vĩ tuyến 17 vào Nam do Pháp tạm chiếm trong hai năm, sau đó sẽ có cuộc phổ thông đầu phiếu để thống nhất toàn quốc; từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc thuộc về ta. Sau khi ký hiệp định Genève, Pháp phải rút hết quân ra khỏi Bắc Việt và bàn giao các cơ sở cho Chính phủ ta. Đến lúc này Mỹ nhảy vào định phá đám: chúng đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam, lật đổ Bảo Đại và gạt Pháp ra ngoài. Nó cho tay sai dụ dỗ đồng bào ta ở Bắc di cư vào Nam. Dụ được một người đi Nam, tên lưu manh được thưởng vài đồng bạc. Một số nông dân phần nhiều là người theo đạo Gia-tô bị dụ về Hà Nội, được bọn tay sai của Mỹ thu xếp cho vào ở các trường học để chờ xe lửa xuống Hải Phòng. Bọn lưu manh còn gây nhiều việc làm cho nhân dân Hà Nội hoang mang dao động. Chiều 11-7-1954, một tên lưu manh ngầm phóng hỏa đốt chợ Bắc Qua, khi ấy các tiểu thương tự lợp quán bằng phên, nứa, cót, tre. Lửa bốc cháy ngùn ngụt, đứng ngoài trông như một biển lửa, hàng hóa của các tiểu thương bị cháy rụi, cả gà, lợn cũng bị thiêu, mùi khét đưa ra nồng nặc. Một số người bị bỏng, các bà tiểu thương mất hết hàng hóa vốn liếng khóc lóc, nguyền rủa. Hồi 3 giờ chiều ngày 10-9-1954, một tên lưu manh gài mìn chất dẻo phá tan chùa Một Cột, một di tích lịch sử ngót nghìn năm của Hà Nội. Trong thành phố lúc bấy giờ trật tự rất rối loạn vì bọn tay sai của Pháp nhiều đứa bỏ chạy vào Nam: Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí chạy vào Sài Gòn, mấy hôm sau có tin hắn chết trong đó vì bệnh xung huyết lên óc. Thị trưởng Hà Nội Đỗ Quang Giai chuồn đi mất. Mỹ thúc Pháp lập Hoàng Cơ Bình, bác sĩ nha khoa và chủ nhiệm báo Giang sơn, một tay thân Mỹ, làm Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Bắc Việt; Lê Quang Luật, nguyên là học trò trường thầy dòng được cử làm thị trưởng Hà Nội. Hôm quân đội Pháp sắp rút khỏi Hà Nội, có mười tên lính Pháp đem kèn trống đưa tên Lê Quang Luật đến vườn hoa Chí Linh, thổi một bài kèn rồi tên này lấy cái xẻng con xúc một ít đất trên nóc hầm trú ẩn giữa vườn hoa đặt lên cái đĩa, rồi đem đi. Chúng gọi là lễ lấy đất Hà Nội đem vào Sài Gòn.


Càng gần đến ngày Pháp phải rút xuống Hải Phòng để vào Nam, trong thành phố Hà Nội càng xảy ra nhiều việc nhốn nháo: những tên lưu manh đi phát truyền đơn dụ dỗ người đi Nam bị nhân dân đón đánh; buổi tối và đêm thường có tiếng kêu cứu, nhân dân các phố phải tự động tổ chức lấy việc giữ gìn an ninh. Tối đến các nhà đều thắp đèn ra cửa, nhà nào cũng chuẩn bị sẵn mâm đồng, chậu đồng, thùng sắt tây, hễ nghe có tiếng kêu cứu, mọi nhà khua gõ inh ỏi và chạy đi ứng cứu lẫn cho nhau. Trong thành phố có xảy ra mấy vụ đánh nhau, đâm chém nhau vì công nợ, vì tiền tài, vì ghen tuông. Một thiếu nữ ăn mặc nửa tỉnh nửa quê bị đâm chết trong vườn khu Văn Miếu, theo dư luận bấy giờ thì cô này bị nhân tình dụ vào đấy rồi đâm chết vì ghen tuông; một anh tên Đỗ Đình Đạo, đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng bị đầu độc chết trong một ngôi nhà ở phố Ngõ Huyện, đến khi có mùi hôi thối xông ra, hàng phố phá cửa vào xem thấy xác anh này đã chết trương lên.


Những việc nhộn nhạo trong thành phố chỉ xảy ra trong ít ngày rồi chấm dứt, nhân dân Hà Nội đều phấn khởi chuẩn bị đón tiếp Chính phủ và bộ đội ta về giải phóng Thủ đô. Một cuộc họp tổ chức tại trụ sở hội Hợp thiện phố Phùng Hưng có đông đủ nhân dân các phố và các tầng lớp, bàn bạc việc tổ chức đón tiếp cho được trọng thể. Sau đó mọi nhà mọi người chuẩn bị sẵn cờ đỏ sao vàng và khẩu hiệu. Ngày 8 và 9 tháng 10-1954, binh lính Pháp thiết quân luật tại Hà Nội, bắt mọi nhà phải đóng cửa, không ai được ra đường để thực dân Pháp bàn giao các công sở các phố xá cho đại biểu chính phủ ta. Chiều ngày 9-10-1954, sau cuộc bàn giao quân đội Pháp rút đi đến đâu, các nhà mở tung cửa treo cờ đỏ sao vàng và chăng biểu ngữ ngang đường. Suốt đêm mùng 9, nhà nào cũng thắp đèn ra cửa, người đi lại nhộn nhịp, nhiều phố anh em thanh niên dựng cổng chào, họ làm việc suốt đêm.


Sáng sớm ngày 10-10-1954, cả thành phố Hà Nội đỏ rực cờ đỏ sao vàng và biểu ngữ, khẩu hiệu. Tiết trời sáng hôm ấy lại rét lạnh nên tất cả mọi người đều mặc quần áo mới và đẹp như ngày Tết. Họ tràn ra các ngả của bốn phía Hà Nội chờ đón quân đội ta: phụ nữ cầm những bó hoa tươi thắm tiến ra giữa đường tặng đại biểu quân đội đi dẫn đầu, trẻ em, thanh niên, các ông bà già cầm cờ giấy phất lên và vẫy chào, nhiều người đốt pháo đón mừng. Một cảnh vui mừng đón tiếp bộ đội ta không từng có trong lịch sử. Sự vui mừng ấy làm cho những người bị dụ dỗ đi Nam đều vui mừng lây và thôi không đi nữa.


Sau ngày bộ đội ta vào giải phóng Thủ đô, trật tự trong thành phố được ổn định ngay. Những tên lưu manh côn đồ do địch cài lại để mưu phá hoại ta đều chùn tay không dám hoạt động. Trẻ em từ mười tuổi trở lên được tập trung vào trong các trường học do các anh bộ đội dạy múa hát những bài ca cách mạng. Nhân dân các phố được mời đến họp tại một địa điểm của phố nào riêng phố ấy để nghe cán bộ giải thích về chính sách của Chính phủ ta. Các nhà văn được mời đến họp tại một ngôi nhà ở phố Tông Đản để nghe nói về đường lối chính sách của Chính phủ ta đối với văn nghệ sĩ. Sau đó, các nhà báo được mời đến họp tại trụ sở cũ hội Khai trí Tiến Đức phố Lê Thái Tổ (một thời gian là Câu lạc bộ Thống Nhất, nay là nơi lấy vé máy bay đi Nam), để họp mặt với anh em nhà báo kháng chiến. Cách vài hôm lại có cuộc họp chung các văn nghệ sĩ gồm văn sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, kịch sĩ và các diễn viên sân khấu trong vùng tạm chiếm với các văn nghệ sĩ hậu phương.


Nhà hát Nhân dân được xây dựng cấp tốc ngay trên nền nhà đấu xảo cũ đường Trần Hưng Đạo, rồi đoàn văn công hậu phương ra mắt nhân dân Hà Nội với nhiều tiết mục đặc sắc, mọi người đều hoan nghênh.


Ngày mùng 1 tháng Giêng năm 1955, một cuộc mít tinh toàn thành tại Hội trường Ba Đình để chào mừng Chính phủ ra mắt nhân dân thủ đô. Lễ đài được xây dựng tạm thời nhưng không kém vẻ tôn nghiêm. Toàn thể nhân dân nội ngoại thành Hà Nội và đại biểu nhân dân các tỉnh về dự mít tinh rất đông. Mọi người đều mặc quần áo mới, đẹp, vui vẻ như ngày Tết. Sau cuộc mít tinh diễu qua lễ đài, đoàn người tuần hành qua các phố rất nhộn nhịp.


Việc đổi tiền lần thứ nhất sau ngày giải phóng Hà Nội được tổ chức để ổn định tiền tệ: một đồng bạc Đông Dương do thực dân Pháp phát hành, được lấy 30 đồng tiền ngân hàng Quốc gia Việt Nam; năm 1958, lại có việc đổi tiền lần thứ hai để giữ vững giá cả hàng hóa: một nghìn đồng ngân hàng cũ được đổi lấy một đồng ngân hàng mới.


Bắt đầu từ năm 1955, tất cả các tầng lớp nhân dân Hà Nội và các tỉnh thị xã trong vùng bị tạm chiếm cũ đều được đi tham quan cải cách ruộng đất tại các vùng nông thôn để được hiểu biết rõ về chính sách thực hiện người cày có ruộng. Cuộc cải cách ruộng đất có mục đích chia ruộng cho bần cố nông, những người có sức cày cấy gặt hái tự làm lấy ăn không phải đi làm thuê cho địa chủ nữa. Sau đó, nông dân lập thành nông hội và vào hợp tác xã nông nghiệp, làm chủ nông thôn. Những cái đình có ông Thành hoàng, một ông vua vô hình, do chính sách ngu dân dưới chế độ phong kiến được biến thành trụ sở của nông hội. Đây là một cuộc cách mạng lớn ở nông thôn, giải phóng cho nông dân để họ được ngẩng đầu làm một công dân của nước Việt Nam độc lập.


Tại Hà Nội, ngay từ 1955, Chính phủ bắt đầu sửa sang dần: trước hết chùa Một Cột bị địch phá năm 1954, được xây dựng lại như nếp cũ, rồi chợ Bắc Qua bị địch đốt năm 1954 cũng được Chính phủ xây lại để chị em tiểu thương có chỗ buôn bán. Những chợ Đồng Xuân, chợ Hôm, chợ Cửa Nam, chợ Mơ là các chợ lớn của Hà Nội đều được xây dựng lại, mở mang thêm và sửa chữa cho được khang trang. Các cửa hàng mậu dịch được mở khắp nơi cung cấp hàng hóa cho nhân dân. Nhiều đường phố được sửa sang lại, mở rộng thêm, như phố Bạch Mai, hồi Pháp thuộc và hồi bị tạm chiếm là một phố bẩn nhất, nhiều nhà tranh lụp xụp, đường tàu điện đi sát vỉa hè bên số chẵn, đường xe đi thì khấp khểnh, nhiều ổ gà, trời nắng thì bụi mù, trời mưa thì lầy lội, chính phủ ta về sửa sang lại, mở rộng thêm đường cái, rải nhựa bằng phẳng, tàu điện đi giữa đường, các cống rãnh đều khai thông, các ngõ hẹp đều được sửa sang sạch sẽ, nhà hai bên phố được phong quang. Phố Khâm Thiên xưa kia cũng chật hẹp bẩn thỉu, được mở rộng và sửa sang lại. Hồ Bảy Mẫu được lấp bớt đi mở thành công viên Thống Nhất, một công viên đẹp nhất của Hà Nội. Trên đây là những công việc sửa chữa mở mang đầu tiên của chính phủ ta.


Bắt đầu từ năm 1958 đến năm 1960, cuộc cải tạo công thương nghiệp tư doanh được tiến hành để giải phóng cho công nhân trong thành phố và ổn định giá cả thị trường. Các nhà công thương đều hoan nghênh việc công tư hợp doanh, vì họ không bị cạnh tranh lẫn nhau và không lo bị lỗ vốn, công nhân các xí nghiệp được làm chủ, không còn là những người đi làm thuê cho các ông chủ xí nghiệp nữa. Các nhà buôn bán nhỏ, các nhà thủ công nghiệp đều được thành lập các hợp tác xã chung lưng đấu cật làm cho ngành thủ công nghiệp nước nhà được phát triển.


Từ việc cải cách ruộng đất ở nông thôn đến việc đổi tiền, cải tạo công thương nghiệp tư doanh và mở rộng mạng lưới mậu dịch, nền kinh tế miền Bắc nước ta đã được ổn định. Chính phủ vẫn tiến hành công việc sửa sang thành phố và mở rộng Hà Nội. Phía đông lan đến Cổ Bi, cách trung tâm Hà Nội cũ 10 cây số, phía bắc lan đến Đông Anh, cách trung tâm Hà Nội cũ 22 cây số, phía tây đến Ngã Tư Sở, phía nam đến Văn Điển. Những nhà cao bốn năm tầng mọc lên san sát; các nhà máy, các xí nghiệp được xây dựng theo quy mô hiện đại. Suốt từ Đống Đa vào sát thị xã Hà Đông, các nhà máy như cao su, xà phòng, thuốc lá và bóng đèn phích nước… ngày đêm sản xuất các mặt hàng tiêu dùng cho nhân dân. Đàn Nam Giao đời Lê, hồi Pháp thuộc là Nhà máy Diêm, nay là Xí nghiệp Cơ khí Trần Hưng Đạo. Một nhà máy lớn của Hà Nội, Nhà máy Dệt 8-3 được thành lập tại Quỳnh Lôi thu hút hàng nghìn công nhân với những máy dệt tối tân sản xuất nhiều thứ vải, lụa bằng sợi bông, sợi hóa học và sợi nylon. Ngũ long lâu đời Lê - Trịnh, sang đời Nguyễn là Liêu Trì (còn có tên là chùa Quan Thượng) thời Pháp là sở binh hương rồi là nhà kho bưu điện, vườn để ô-tô, dưới chế độ ta là nhà Bưu điện trung ương, bắt đầu xây dựng từ đầu năm 1972 đến cuối năm 1976 hoàn thành. Nhà cao 6 tầng (kể cả tầng mái bằng trên nóc), các cột đều ốp bằng các thứ đá hoa cương. Các bậc thềm cũng xây bằng đá. Đây là nhà bưu điện hiện đại nhất của Hà Nội và của cả nước.


 


HÀ NỘI CHỐNG MỸ


VÀ “TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”


 


Trong khi nhân dân và công nhân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Hồ Chủ tịch và Chính phủ mở mang và xây dựng Hà Nội và cả miền Bắc xã hội chủ nghĩa, thì tại miền Nam, anh em Ngô Đình Diệm được Mỹ dựng lên làm tay sai, càn quét, phá hoại các vùng nông thôn ở miền Nam và điên cuồng mưu tiến công ra Bắc, chúng nêu những khẩu hiệu “Bắc tiến”, “Lấp sông Bến Hải”. Nhưng đồng bào miền Nam thành đồng của Tổ quốc vẫn chống lại rất dữ dội, bằng đủ mọi mưu lược chống lại bằng chiến tranh, chống bằng chính trị làm cho Mỹ và Ngụy luống cuống và thiệt hại nhiều. Chúng cho rằng do miền Bắc ta chi viện để chống lại chúng, Ngô Đình Diệm đẩy ba người là Lưu Văn Lang, một kỹ sư nguyên quán Sài Gòn, đại biểu cho “Nam kỳ”, Phạm Văn Huyến, bác sĩ thú y, nguyên quán Hà Nội chạy theo giặc Pháp vào Sài Gòn đại biểu “Bắc kỳ” và một người nữa nguyên quán ở Huế, đại biểu “Trung kỳ”, đi bộ qua cầu Hiền Lương, vượt sông Bến Hải sang giới tuyến ta, xin ra Hà Nội để yêu cầu ta không chi viện cho đồng bào miền Nam nữa. Đó là một hành động bỉ ổi của Mỹ ngụy để lấy cớ tiến công ra Bắc. Chúng còn phái bọn biệt kích và gián điệp ra Bắc bằng cách thả dù xuống khu rừng núi để rồi lẻn vào Hà Nội, và cho bọn người nhái lội qua biển ra Bắc, nhưng tất cả bọn này đều bị ta bắt gọn. Sau đó, Mỹ do Jhonson làm Tổng thống bịa ra “Sự kiện vịnh Bắc bộ”, nói là quân và dân ta đã bắn vào chiến hạm của chúng ở vịnh Bắc bộ, để lấy cớ tiến công ra Bắc bằng không quân. Mỹ dùng các loại máy bay từ F4 đến B52 và F111 ném các thứ bom cháy, bom sát thương, bom lân tinh, bom bi, bom nổ chậm, xuống miền Bắc nước ta từ Vĩnh Linh ra Nghệ Tĩnh, leo thang dần đến Nam Định, Hà Nội, Hải Phòng và các vùng thượng du của ta. Nhưng máy bay của chúng đã bị súng cao xạ của ta bắn rơi như sung rụng. Ta mở con đường Hồ Chí Minh xuyên qua dãy Trường Sơn suốt từ Bắc vào Nam để chi viện cho chiến sĩ và đồng bào ta đánh chúng ngày càng mạnh. Ta còn đặt cả ống dẫn dầu suốt từ Bắc vào Nam để chiến sĩ và đồng bào ta có đủ dầu chạy các loại xe tiến công Mỹ. Mỹ đổ vào Sài Gòn nửa triệu quân và còn mộ thêm lính Philippines, lính Nam Triều Tiên, lính Đài Loan để chống đồng bào ta. Tại các vùng nông thôn trong Nam, giặc Mỹ còn thả các chất độc hóa học để phá hoại mùa màng làm tuyệt lương quân và dân ta, nhưng ngoài Bắc ta tải lương thực vào tiếp tế qua đường Trường Sơn nên chiến sĩ và đồng bào ta vẫn no đủ đánh chúng ngày càng mạnh. Giặc Mỹ còn dùng máy bay không người lái dò xét miền Bắc ta để ném bom, chúng lại thả cả mìn sát thương xuống Trường Sơn lẫn với lá và cỏ để quân ta đi vướng mìn bị hại, nhưng ta có máy dò mìn phá được hết. Mỹ còn thả cả những cây tín hiệu xuống khu rừng Trường Sơn để hễ nghe có tiếng động là những “cây” báo tin về căn cứ máy bay của chúng, lập tức máy bay xông đến ném bom, nhưng ta đều phát hiện ra cả. Trong cuộc xâm lược nước ta, đế quốc Mỹ dùng rất nhiều thứ khí giới tối tân vừa tấn công đồng bào ta trong Nam vừa ném bom ra Bắc, từ Vĩnh Linh ra đến Nghệ An, nhiều làng mạc thành thị bị phá hủy, cả thành phố Vinh đều bị tàn phá tan nát. Đồng bào ta ở các khu vực này suốt hơn chục năm trời đều sống dưới hầm đào sâu dưới đất. Nghe tin báo động đồng bào xuống hầm, máy bay đi khỏi lại lên mặt đất sản xuất. Mọi người đều bám đất, vừa chiến đấu vừa sản xuất: tay cấy tay cày, vai đeo súng. Các ụ súng cao xạ đặt khắp nơi từ Vĩnh Linh đến vùng rừng núi Việt Bắc như lưới bủa vây để bắn máy bay giặc Mỹ.


Tại Hà Nội, từ năm 1965, khi giặc Mỹ leo thang ném bom ra Bắc, những người già, trẻ em đều đi sơ tán, chỉ còn lại những công nhân và thanh niên vừa tham gia sản xuất vừa chiến đấu. Các xí nghiệp, các khu phố đều có các đội tự vệ, mỗi khi có còi báo động các đội tự vệ đều vào ngay vị trí chiến đấu. Nhiều nơi, với súng trường bộ binh cũng bắn rụng được máy bay “Thần sấm” hoặc “Con ma” của không lực Mỹ. Để bảo vệ cho những người ở lại Hà Nội sản xuất và chiến đấu, các hầm trú ẩn nửa nổi nửa chìm được xây dựng khắp nơi: chung quanh bờ hồ Hoàn Kiếm, các ngõ ngách ít xe cộ đi lại đều có hầm trú ẩn kiên cố, ngoài ra trước cửa mọi nhà lại có hầm cá nhân bằng xi măng đào sâu dưới đất, người đi đường khi nghe còi báo động không kịp chạy vào hầm trú ẩn công cộng đều nhảy xuống hầm cá nhân.


Các xí nghiệp cơ khí tại Hà Nội, suốt ngày đêm sản xuất các mặt hàng phục vụ chiến đấu, nhiều nhất là những thùng tôn to và thuyền tôn để làm cầu phao. Máy bay giặc Mỹ đánh phá cầu nào, công nhân và dân công lập tức bắc ngay cầu phao để đảm bảo giao thông. Các quãng đường từ Bắc vào Vĩnh Linh bị bom Mỹ khoét thành những hố sâu, các thanh niên xung phong dân công lập tức lấp ngay để ô-tô chở hàng chi viện cho đồng bào miền Nam không bị gián đoạn. Máy bay Mỹ lẻn ra ném bom xuống miền Bắc nước ta đều bị bắn rơi như sung rụng. Bộ đội và nhân dân cả nước ta đã phải đương đầu với bọn giặc xâm lăng là đế quốc Mỹ, giàu nhất, mạnh nhất, nhiều khí giới tối tân nhất thế giới. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng là cuộc chiến tranh kéo dài nhất thế giới (suốt 20 năm) nhưng ta đã làm cho giặc Mỹ hao tài, tốn của và hại người của chúng rất nhiều, nhất là cuộc nổi dậy của chiến sĩ và đồng bào ta trong Nam tiến công vào hang ổ của chúng giữa thành phố Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế và các tỉnh trong dịp Tết Mậu Thân (1968) khiến giặc Mỹ phải chùn tay không dám ném bom rải thảm xuống miền Bắc nước ta. Từ tháng Tư năm 1972, Hà Nội bị bom Mỹ tàn phá nhiều nhất, nhiều phố bị trúng bom. Trong khoảng các năm 1966 – 1967, một số nhà ở phố Quán Thánh, một số nhà ở phố Huế, một số nhà ở bãi Phúc Tân,  Phúc Xá bị bom Mỹ phá hỏng. Ta phải bắc mấy cầu phao ở mạn nhà bảo tàng và Chương Dương Độ để thông xe cho công nhân ta sửa chữa ngay cầu Long Biên. Năm 1972, Nixon lại cho máy bay đánh phá rất ác liệt Hà Nội: mấy nhà ở phố Lý Quốc Sư bị trúng bom, chùa Quán Sứ bị sạt mất một mái nhà cạnh tam quan chùa, phố Bà Triệu, Tòa Đại sứ Pháp bị trúng bom (viên đại sứ bị thương nặng, Pháp đưa về nước chữa rồi chết ở bên ấy), mấy nhà gần Tòa Đại sứ Pháp bị hư hỏng. Đêm 21-12-1972, nhà ga chính Hà Nội bị bom Mỹ phá sập. Nhà ga này do thực dân Pháp xây dựng rất kiên cố từ năm 1910, ta quen gọi là ga hạng nhất, vì là nơi dành riêng cho những người lấy vé xe lửa các hạng nhất, nhì, ba trong thời Pháp thuộc. Nhà ga này bị phá hủy, Chính phủ ta phải xây một nhà ga mới về mạn phố Trần Quý Cáp.


Theo nhật ký của một sĩ quan tác chiến Bộ Tư lệnh phòng không không quân thì trong 12 ngày đêm (từ 18-12 đến 29-12 năm 1972), quân và dân ta đã đánh trả máy bay Mỹ rất kịch liệt, ta đã nêu tên trận không chiến này là “Trận Điện Biên Phủ trên không”.


Hồi 20giờ 05 phút đêm 18-12-1972, trận địa tên lửa Cổ Loa báo tin về Hà Nội đã bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên, 2 tên giặc lái bị bắt sống, 4 tên khác bị thiêu cháy trong máy bay. Rồi từ ngày 19-12-1972 trở đi, ngày nào đêm nào, quân và dân ta cũng bắn rơi nhiều máy bay B52, bắt sống nhiều giặc lái Mỹ đem giam tại nhà pha Hỏa Lò Hà Nội (gọi là khách sạn Hilton, Hà Nội). Suốt đêm 19- 12 -1972, giặc Mỹ tập trung 95 chiếc B52 và tăng gấp rưỡi máy bay chiến thuật đánh phá các nơi trên miền Bắc nước ta, riêng Hà Nội bắn rơi 2 chiếc B52, bắt sống giặc lái.


Đêm 26-12-1972, máy bay B52 tập trung đánh phá các nơi đông dân trong thành phố Hà Nội trong đó có Khâm Thiên. Hà Nội bắn rơi 5 chiếc, Hải Phòng 2 chiếc, Bắc Thái 1 chiếc. Trong những cuộc đánh phá Hà Nội rất ác liệt bằng B52 của giặc Mỹ, Bệnh viện Bạch Mai bị phá hại một phần.


Ngày 27-12-1972, giặc Mỹ lại tập trung 54 chiếc B52 vào đánh phá Hà Nội, ta bắn rơi 5 chiếc (1 chiếc rơi xuống phố Hoàng Hoa Thám).


Ngày 29-12-1972, Mỹ gửi công hàm chấp nhận các điều kiện phía ta nêu lên tại Hội nghị Paris và hẹn ngày họp lại hội nghị này. Cùng đêm 29-12, tên lửa ta bắn rơi một B52, không quân ta bắn rơi một chiếc F4.


Ngày 30-12-1972, hồi 12 giờ đêm (tức là 12 giờ đêm ngày 29 rạng sáng ngày 30), Nixon phải ra lệnh bãi bỏ cuộc tập kích chiến lược do 193 máy bay B52, hơn 700 máy bay chiến thuật tiến hành. Địch mất 81 máy bay (34 B52, 5 F111, 27 máy bay chiến thuật không quân, 11 máy bay chiến thuật hải quân, 3 trinh sát và 1 lên thẳng). Ý đồ đàm phán trên thế mạnh với ta tại hội Paris của Nixon bị đè bẹp. Hàng trăm giặc lái Mỹ bị bắt sống giam chật nhà pha Hỏa Lò, những tên này đều khiếp phục lưới lửa phòng không của ta.


Trong chiến tranh chống Mỹ, riêng tại Hà Nội có mười vạn thanh niên lên đường ra trận , 384 đơn vị dân quân tự vệ đạt danh hiệu đơn vị “Quyết thắng”.


Dân quân tự vệ có 1.218 trận địa trực chiến, 450 đài và trạm quan sát máy bay địch, đào 63.000 hố cá nhân, 569 cây số hầm tập thể, tháo gỡ và phá hủy 10.396 quả bom nổ chậm và bom chưa nổ của địch.


Trong 8 năm (từ 1965 đến 1972), chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của giặc Mỹ, quân và dân Hà Nội bắn rơi 358 máy bay các loại của Mỹ, trong đó có 23 máy bay B52 và hai máy bay F111 (ta gọi là máy bay cánh cụp cánh xòe).


Hơn 20 năm (kể từ ngày 19-3-1950 đến 27-12-1973) đế quốc Mỹ hết giúp Pháp xâm lược nước ta lại trực tiếp can thiệp định biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới của chúng, nhưng chúng đã thất bại nặng nề, dù đã đổ xuống miền Nam hơn nửa triệu quân và các thứ khí giới tối tân nhất, hiện đại nhất. Ngày 27-1-1973, đế quốc Mỹ phải ký hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh xâm lược của chúng, lập lại hòa bình tại Việt Nam. Sau đó quân đội Mỹ ở miền Nam cuốn cờ rút hết về nước dưới sự kiểm soát của đại biểu quân đội ta tại sân bay Tân Sơn Nhất. “Cà cuống chết đến đít còn cay”, đế quốc Mỹ vẫn ngầm giúp bọn tay sai của chúng ở Sài Gòn là tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu hành quân lấn chiếm những nơi quân giải phóng ta chiếm đóng tại miền Nam. Bọn cố vấn quân sự Mỹ, trút bỏ quần áo lính, mặc thường phục, ngấm ngầm vạch kế hoạch cho bọn ngụy binh của tên Nguyễn Văn Thiệu hành quân lấn chiếm. Không thể để cho bọn Mỹ ngụy làm trái hiệp định Paris mà phía ta vẫn tôn trọng, nên đầu năm 1975, quân và dân ta mở chiến dịch Hồ Chí Minh, giáng cho bọn lính ngụy những đòn trừng phạt đích đáng.


Từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 3 năm 1975, quân và dân ta giải phóng Buôn Ma Thuột với thế tiến công như chẻ tre, ngụy quân của tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu tan rã, ngày 26-3 ta giải phóng Huế, ngày 29-3 ta giải phóng thành phố Đà Nẵng, đến 11giờ 30 trưa ngày 30-4-1972, quân ta giải phóng thành phố Sài Gòn, Tổng thống Dương Văn Minh của chính quyền Sài Gòn xin đầu hàng không điều kiện, toàn bộ “Chính phủ” ngụy đều ra trình diện quân đội ta. Tên Nguyễn Văn Thiệu bỏ trốn ra nước ngoài từ mấy ngày trước, khi thấy quân giải phóng của ta tiến gần đến Sài Gòn. Tin Sài Gòn được giải phóng đưa ra Hà Nội, toàn thể nhân dân Hà Nội vui mừng, mọi người tụ tập lại đầu phố Tràng Tiền, trước cửa phòng bán báo, chờ mua báo, chờ nghe tin tức. Họ vui sướng đến nhảy múa, nhiều người chạy vào tổng hợp bách hóa mua pháo ra đốt. Ngày hôm ấy, cả Hà Nội rộn rã, nhà nào cũng treo cờ mừng chiến thắng. Quân và dân cả nước ta đã thực hiện đúng lời dạy của Hồ Chủ tịch trong bài thơ chúc Tết của Người năm Kỷ Dậu (1969):


Vì độc lập, vì tự do,


Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào


Tiến lên! chiến sĩ, đồng bào!


Bắc Nam xum họp xuân nào vui hơn.


Thế là sau hơn một trăm năm, kể từ năm 1862, thực dân Pháp chiếm ba tỉnh miền đông Nam bộ là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường làm bàn đạp để rồi lấn chiếm dần cả miền Nam lan ra đến miền Bắc, nước ta ngày nay lại được thống nhất độc lập tự do. Ngày nay toàn dân ta đương ra sức lao động sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng nước nhà thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh đúng như lời Hồ Chủ tịch đã dạy:


Còn non, còn nước, còn người


 Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay


Trong thời chống Mỹ, Hà Nội tuy bị máy bay Mỹ đến ném bom liên tục nhưng công nhân và nhân dân ta vẫn ra sức xây dựng. Những nhà cao năm, sáu tầng được mọc lên san sát. Những vùng Giảng Võ, Ngã Tư Sở, Trương Định, Láng, Trung Chính, Văn Chương, Kim Liên, Trung Tự... xưa là những nơi bùn lầy nước đọng, tha ma mộ địa, nay đã là những khu tập thể cao ráo khang trang, dân cư đông đúc. Chính phủ vẫn đương cho thi công nhiều nơi khác nữa, theo kế hoạch đã dự trù sẵn từ sau ngày giải phóng Thủ đô.


                                                         Ngày 25- 9- 1977


Nguồn: Hà Nội xưa và nay. Tập Ký của Bạch Diện Nguyễn Văn Cư. NXB Hội Nhà văn, 10-2015.


www.trieuxuan.info







[1] Tôi đồ rằng vụ việc này chính là đề tài để Nguyễn Công Hoan dựa vào đấy viết nên thiên truyện ngắn: Tôi chủ báo, anh chủ báo, nó chủ báo(TTĐP).




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »