tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20562237
Tiểu thuyết
14.03.2017
Anh Đức
Một chuyện chép ở bệnh viện



Sau đó hai tháng tôi lại vào Hiệp Mỹ, không kể những lần vào liên tiếp. ở Hiệp Mỹ bấy giờ anh Trương đã chuyển sang phụ trách ba ấp từ Cầu Sắt trở vô. Anh Dũng phụ trách ba ấp từ Cầu Sắt trở ra. Tôi vào Hiệp Mỹ lần đó để gặp tổ công tác anh Dũng bàn một việc đặc biệt, đồng thời thẩm tra lại các cơ sở: Công việc thẩm tra chính là do cán bộ ở cơ sở đó, nhưng tôi thì phải nắm được tình hình cụ thể. Vì tình hình thay đổi của cơ sở rất quan hệ cho những chuyến đưa tới.


 


Nhớ lại lần ấy tôi ra tới nhà anh Mười trời đã sụp tối. Giông mưa sắp kéo đến. Dạo đó còn giữa mùa mưa. Đêm đêm trời cứ đổ mưa từ đầu hôm tới suốt sáng. Anh Mười đi họp tổ du kích bí mật vừa về tới nhà. Tôi tưởng anh Dũng ở dưới hầm, định đến gõ nắp hầm, nhưng anh Mười khoát tay ra hiệu bảo không có. Tôi hỏi:


 


- Anh Dũng đi đâu rồi?


 


- Hồi nãy ảnh họp với chúng tôi. Nhưng tối nay ảnh không có ngủ nhà đâu.


 


- Ngủ chỗ khác à?


 


Anh Mười đến bên, khẽ nói vào vai tôi:


 


- Ngủ ngoài bờ. Mấy bữa nay không ngủ nhà được đâu. ở dưới hầm cũng ngủ không được. Mưa cứ làm sụp vách hầm luôn. Nằm trên nhà thì không đặng thím à. Tụi Cầu Sắt, Long Hưng cứ rõn vô luôn. Vì anh Dũng anh Trương đã tổ chức vận động phá kế hoạch bắt cu ly của nó. Bà con xé giấy cu ly tới tám phần, bắt đầu trốn không chịu đi xây cốt nữa. Bốn lượt tụi nó vào bắt, chỉ bắt được mấy thằng cha hương chủ với mấy ông già. Sự bắt cu ly của tụi nó bỗng nhiên hết linh nghiệm. Do đó tụi nó mới sanh nghi có cán bộ về nằm vùng. Ba bốn đêm nay, giữa khuya tụi nó cứ sục vào gõ cửa xét nhà.


 


- Có xét nhà mình và những nhà anh em ở không?


 


- Không... Choạng vạng là anh Dũng phải ra bờ rồi. Mà dạo này ông trời ổng cứ mưa đêm. Anh Dũng đâu có ngủ nghê được mấy. Tội quá. Tôi bảo, anh thôi cứ ở nhà ngủ, bất quá tôi với vợ tôi thay nhau gác cho mà ngủ. Nói hết sức mà anh không chịu là không chịu.


 


Đang nói chuyện, chợt nghe tiếng mưa lắc rắc rớt trên mái nhà. Chị Mười bước ra quơ tay ngoài trời, lo lắng kêu:


 


- Mưa rớt hột rồi. Thím coi, khổ chưa?


 


Tôi nói: - Không còn trú ở đâu được à?


 


Anh Mười đáp: Tôi định đưa ảnh ra ngủ ngoài chòi dưa. Nhưng không ổn thím à. Tụi "ba trui" nó chú ý mấy cái chòi dưa lắm. Đêm qua nó đi rõn vô chòi dưa của ông Tư Nhân...


 


Tôi nói: - Thôi được, để tìm cách sau. Bây giờ anh Mười làm thế nào đưa tôi ra gặp anh Dũng. Có công chuyện cần bàn gấp với ảnh.


 


- Thôi, mưa rồi. Thím ở đây, tôi ra đồng kêu ảnh vô.


 


- Không nên đâu. Anh Mười cứ đưa tôi ra ngoài đi.


 


- Vậy cũng được!


 


Chị Mười chạy vào nhà lấy một cái nón lá, đội lên đầu tôi. Tôi với anh Mười ra cửa hậu. Qua khỏi vườn cau thì tới một vùng lau rậm. Anh Mười vạch lau đi trước, tôi theo sau. Mưa bắt đầu trút xuống dữ dội. Trên trời, thỉnh thoảng một làn chớp lóe lên. Giữa lau sậy, thấy rải rác có những cây giá trụi cành. Đi đến cây giá cuối cùng, anh Mười rẽ sang tay phải mấy bước. Anh tắc lưỡi giả như có tiếng tắc kè kêu. Kế đó bóng lau động đậy. Một cái đầu nhô lên. Cái đầu người ấy là Dũng khẽ cất tiếng:


 


- Mười đó hả?


 


- ờ Mười đây.


 


Anh Mười kéo tôi chui tọt vào bụi. Tôi hỏi nhỏ:


 


- Anh Dũng đó à?


 


- Ai, chị Hậu hả? - Giọng Dũng như kêu lên.


 


- Phải, tôi đây.


 


- Có chuyện gì vậy chị?


 


- Có công việc cần bàn với anh. Thư trên Huyện gởi cho anh đây.


 


Tôi móc túi lấy bức thư trao cho Dũng. Anh cầm lấy. Bàn tay tôi chợt chạm phải bàn tay ướt át, lành lạnh của Dũng. Tôi ngồi bên. Dũng lấy đèn pin trong túi ra, chắn che trước mặt đèn rồi bấm đèn, coi thư. Trong lúc Dũng chăm chú xem thư, tôi nhìn thấy khắp người anh đều ướt cả. Chiếc nốp của anh ngủ cũng ướt sũng. Một tấm vải nhựa che giữa kẽ lau bị gió thổi rung phần phật. Mưa đổ xuống ngày một to. Dũng đọc thư xong, với tay kéo lại tấm vải nhựa che cho tôi và anh Mười. Nhưng tấm vải không đủ sức ngăn được cơn mưa to nặng hạt. Chúng tôi đều ướt hết. Song lúc đó tôi không thấy lạnh lẽo, mà thấy hai mí mắt cứ nóng lên. Gần suốt một tuần lễ rồi, Dũng và nhiều đồng chí khác của tôi phải chịu qua suốt những đêm mưa như thế.


 


Dũng bảo tôi:


 


- Được rồi. Chị Hậu về báo cáo với Huyện ủy rằng tình hình gần đây có khó khăn. Địch hình như đánh hơi được tụi tôi rồi. Nhưng điều đó không quan trọng. Khi chúng nó bắt đầu sục cơ sở thì chúng tôi và bà con đã lên tiếng với nó. Bà con hầu hết đã xé bỏ thẻ cu ly. Hai tổ du kích đầu tiên đã thành lập hồi đêm... Còn vấn đề đón vũ khí, thuốc đạp lôi, chị nhớ nói với các đồng chí cứ cho đưa vào, đúng mồng chín tới.


 


- Đi công khai hay bí mật.


 


- Nên đi bí mật. Chỉ cần đưa số thuốc đó tới đầu Hiệp Lộ. Tôi sẽ cho anh em ra đón. Đúng 12 giờ đêm mồng chín, chị Hậu nhớ rõ nghe!


 


- Nhớ rồi!


 


Dũng quay sang anh Mười:


 


- Nhân tiện tôi phân công luôn. Đồng chí Mười ngày kia chuẩn bị bố trí hai anh em đi.


 


- Tôi đi nữa chứ?


 


- Đồng chí sẽ đi với anh em.


 


ánh chớp nhoáng lên, sáng xanh. Gương mặt Dũng đẫm nước, vẻ trầm tĩnh và vui. Vừa nói anh vừa luôn tay vuốt nước mưa chảy ròng ròng trên mặt. Anh hỏi tôi:


 


- Còn gì cần bàn nữa không?


 


- Thế thôi!


 


- Vậy thì hai đồng chí về đi. Mưa to quá.


 


Anh nói và ngước nhìn mưa rơi. Có vẻ như tự nãy giờ anh không để ý đến mưa gió gì hết. Tôi với anh Mười đứng dậy. Dũng còn hỏi:


 


- Bé Thủy mạnh không chị?


 


- Cháu vẫn khỏe lắm anh à.


 


Tôi theo anh Mười rời khỏi bụi lau. Đi mấy bước, tôi lại thấy mí mắt nóng lên. Mưa vẫn tuôn xối xả. Từ phía Long Hưng, đèn bót rọi thành hình dẻ quạt. Qua màn mưa giăng, ánh đèn trở nên đục và sáng trắng.


 


... Rạng ngày tôi đến những cơ sở khác. Tình hình đều ổn. Nhiều cơ sở đã tỏa rộng ra được nhiều nơi khác. Có hai nơi bị chúng sục vào, nhưng không bắt được ai, vì tình cờ thôi chứ không phải là chúng đã biết.


 


Chiều hôm sau, tôi vững dạ trở về. Cùng đi có chú Tư Bường. Trên đường Hiệp Mỹ về bãi Sao, chú Tư Bường ái ngại nhìn tôi nói:


 


- Thím Tư đi chuyến này về nghỉ sanh là vừa?


 


- Tôi cũng định vậy.


 


Thời gian trôi qua thật là nhanh. Trong tám tháng kể từ khi nhà tôi về rồi đi, đã có bao nhiêu việc xảy đến làm thay đổi đời tôi. Tính cả chuyến đi này là vừa đúng sáu lần tôi chịu trách nhiệm đưa anh em cán bộ vào các cơ sở mà tôi xây dựng lên. ở Hiệp Mỹ cũng như ở Hiệp Lộ, nói chung những cơ sở của chúng tôi đều là tốt. Sáu chuyến qua chưa có chuyến nào bị vỡ lở, tuy cũng có nơi phải chuyển. Kết quả của công việc ấy khiến tôi càng tin nơi tôi, tin nơi bà con. Cái công việc mà trước kia chị Ba Dương bàn với tôi, tôi cảm thấy khó khăn hầu như không gánh vác nổi, giờ đã quen dần với tôi. Chính công việc ấy đã mang đến cho tôi niềm vui và nỗi sung sướng mới. Đến hôm nay, tôi sắp tạm nghỉ việc để làm nhiệm vụ sinh con.


 


Trên đường về bãi, nắng chiều vàng như mật. ở miền biển chúng tôi, giữa mùa mưa bất chợt có những ngày nắng rất đẹp, rất nồng nhiệt. Là là trên mặt biển, chim nhạn liệng từng đàn. Và những lớp sóng đẫm nắng vỗ rối rít. Ngoài khơi, hòn Con Nghê hiện lên rất rõ. Mỗi lần nhìn cái hòn cù lao nhỏ ấy, tôi không sao quên được kỷ niệm cũ, không sao tránh được mủi lòng. Cái đêm tôi tiễn nhà tôi, lúc xuồng chưa tới, chúng tôi ngồi bên nhau âu yếm, cùng ngắm hòn đảo đắm lặng trong sương đêm. Nhà tôi đã mất, nhưng hòn Con Nghê này vẫn còn đó. Dưới nền trời xôn xao ánh nắng, nó hiện ra với màu tím ngắt. Tôi không ngờ rằng cái đêm ấy lại là đêm vĩnh biệt. Thực sự thì nhà tôi đã mất, nhưng hình ảnh của nhà tôi vẫn ở lại với tôi. Và giòng máu sau cùng của anh ấy để lại trong tôi giờ đã hình thành. Ngày mai đứa bé sẽ ra đời...


 


Bụng tôi đã to nhiều hơn trước. Cái thai mấy ngày rày đã bắt đầu cựa quậy mạnh. Tôi thầm mơ ước có một đứa con trai. Tôi tin là đứa con tôi sẽ khỏe đẹp, cứng cát, nghĩ ngợi mong ước như vậy rồi, lòng tôi lại bùi ngùi đau xót. Sao nhà tôi mất đi sớm quá, không còn kịp ở lại trông thấy mặt con.


 


Đi quá đoạn đường sỏi, ra tới bãi cát chúng tôi đi chậm lại. Chúng tôi yên trí là đã qua khỏi chặng đường nguy hiểm. Không ngờ một tai họa đã tới sau lưng chúng tôi. Lúc chúng tôi ở Hiệp Lộ vượt qua đường thì bọn địch ở lô-cốt Cây Sao đã trông thấy. Bọn chúng đâm nghi và tức tốc phái bốn tên đuổi theo. Lúc chúng tôi nghe tiếng giầy đinh dẫm lạo sạo sau lưng, quay lại thấy chúng chỉ còn cách non trăm thước. Chú Tư Bường biến sắc bảo tôi:


 


- Thím Tư, tụi nó theo mình!


 


Tôi nói:


 


- Cứ bình tĩnh!


 


Từ đằng sau, bốn tên địch giơ súng quát:


 


- Con Hậu với thằng kia đứng lại.


 


Tôi lấy làm lo quá, không hiểu vì sao bọn nó lại gọi đúng tên tôi. Tôi bảo chú Tư:


 


- Chạy!


 


Rồi chúng tôi cùng chạy về xóm nhà đầu vạn lưới. Bọn địch liền nổ súng theo. Tôi vừa chạy vừa nói:


 


- Ráng chú Tư, một bước cũng chạy, hai bước cũng chạy!


 


Chúng tôi lên đến đầu xóm, liền vào một nhà nọ. Người chủ nhà biết chúng tôi. Không nói dài dòng anh chủ nhà liền dắt chúng tôi vào một cái hầm đứng, gần ngõ hậu. Chúng tôi đứng khom lưng trong hầm. Lát sau nghe bốn tên ngụy xộc vào hỏi anh chủ nhà:


 


- Có hai đứa vô đây phải không?


 


- Không có ai vô đây hết. à, có hai người chạy ngang qua đây thôi.


 


- Chạy đường nào?


 


- Ngõ kia kìa!


 


Anh chủ nhà chạy một hướng khác. Hình như sau đó một tên ngụy thúc nhẹ súng vào ngực anh:


 


- Nói láo. Rõ ràng tao thấy nó chạy vô đây!


 


- Dạ thưa ông có thiệt mà, không tin mấy ông cứ xét, nếu có tôi xin chịu tội liền!


 


- Chịu tội gì? - Tiếng tên ngụy hỏi gằn. Và nó nói tiếp:


 


- Nếu có tao tử hình mày nghe?


 


Tiếng anh chủ nhà đáp lại:


 


- Xét mà có mấy ông làm gì tôi cũng xin chịu.


 


Tên cầm đầu gọi bọn lính vào. Lục soát khắp nhà không thấy, nó dằn mặt anh chủ nhà:


 


- Chắc mày giấu nó ở dưới hầm.


 


- Dạ, thiệt là không có. - Tiếng nói anh chủ nhà vẫn không thay đổi. Tên ngụy bỗng cười lên khanh khách:


 


- Coi bản mặt của mầy tao đủ biết rồi. Đáng lẽ tao đem bắn mầy vì mầy không chịu khai ra. Nhưng chưa có cớ, tao chưa bắn mầy. Tánh tao làm việc gì cũng có bằng cớ, không làm oan ức ai... Thôi, vậy thì bây giờ mầy đi ra khỏi nhà, cho phép mầy dọn đồ đạc ra trong mười phút. Mau lên!


 


Tôi đứng trong hầm, nghe chúng nó nói rõ cả, nhưng không biết chúng nó định làm gì. Chỉ nghe sau đó trong nhà có tiếng dọn đồ, tiếng chì lưới kéo lết nghe lách cách. Chú Tư Bường và tôi đều không dám thở mạnh. Chốc sau tên ngụy quát hỏi:


 


- Dọn rồi chưa?


 


- Dạ, nhơn cho tôi một chút để tôi kéo bộ vạt ra đã.


 


Kế đó có tiếng "xạch xạch", rõ ràng là tiếng đánh bật lửa. Bấy giờ tôi đã đoán ra. Giọng anh chủ nhà kêu van:


 


- Mấy ông, thương cho tôi, tôi không có tội gì, xin mấy ông đừng đốt nhà tôi!


 


- Chính mắt tao trông thấy hai đứa vô đây mà mầy còn chối, giờ mầy chịu khai ra không? Khai ra thì tao không đốt.


 


ắng im một giây, anh chủ nhà lại kêu:


 


- Quả thật là không có, xin mấy ông...


 


Tôi đứng trong hầm, tim đập mạnh. Tôi không ngờ bọn địch lại khôn xảo đến như thế. Chúng nó định đốt nhà thiêu chết chúng tôi, hoặc bắt chúng tôi phải bò ra. Lúc đó tôi nghĩ: "Ra hàng thì tôi nhất định không ra, còn đứng chịu chết thì cũng không dại gì mà đứng chịu chết. Mà lẽ nào lại chết hôm nay..." Tôi nghĩ đến con Thủy tôi.


 


Bên ngoài, mồi lửa bén mái lá cháy rào rạo. Bỗng như có ai đứng tựa lưng vào vách hầm. Hai chúng tôi nín thở. Rất lâu, vẫn không thấy tiếng chân người đó rời tường đi. Gian nhà hình như đã cháy lan rộng. Lửa đốt kèo tre nổ lốp bốp. Sờ bàn tay vào vách hầm đã thấy nóng.


 


Có tiếng tên ngụy la lên:


 


- Thằng kia bộ muốn chết cháy sao còn đứng đó!


 


Tôi nghe thế đoán chừng người dựa tường hầm nãy giờ chắc là anh chủ nhà. Nước mắt tôi tự dưng ứa ra. Kế nghe tiếng cùi thúc cồm cộp vô vách hầm mấy cái, và tiếng chân người bước ra sau. Anh chủ nhà xổ chuồng vịt, thét vịt:


 


- Ra mau!


 


Vịt bị lùa khỏi chuồng kêu cạp cạp. Tôi hiểu ý anh chủ nhà nói lóng bảo chúng tôi chạy. Tôi bấm chú Tư. Đất hầm nóng ran như sắp bị nung tới. Mồ hôi trong người tôi vã ra như tắm. Khói theo lỗ thông hơi từ ngoài luồn vào. Tôi ngột ngạt khó chịu quá, suýt muốn nhảy mũi. Tôi bịt lấy mũi cố dằn. Đám cháy đã đến lúc dữ dội. Hầm đất nóng như lò nung gạch. Tôi lắc mạnh tay chú Tư, rồi xô cửa hầm chạy lao ra. Chúng tôi chạy trong lửa. Lửa nhuốm lên người, táp vào mặt. Nhưng lúc đó, tôi còn biết nóng là gì, chỉ biết là phải thoát ngay khỏi nơi này. Ra khỏi cửa sau, chúng tôi chạy miết lên hàng dương. Bọn giặc trông thấy, bỏ đám cháy rượt theo. Chúng nó nổ súng. Tôi và chú Tư Bường chạy lẫn qua những gốc dương to. Bọn giặc chạy một quãng đứng lại ngắm bắn. Súng nổ, đạn bay véo ở hai bên hông chúng tôi là thế, mà không có viên nào trúng chúng tôi cả.


 


Chạy gần tới miễu Voi thì trời đã choạng vạng tối. Tôi mệt quá, cổ họng khô khản không còn một tí nước bọt. Tôi vừa chạy vừa thấy cái thai trong bụng như là đang trụt xuống, bắp chân cứng và nặng khiến chân nhấc không muốn lên. May mà lúc tới đầu bãi Sao, trời tối sẫm, bọn giặc không đuổi nữa. Chú Tư dìu tôi đi. Tôi nói:


 


- Chú để tôi nghỉ một chốc, tôi mệt quá!


 


Rồi tôi ngồi xuống bãi cát, ôm bụng thở dốc. Mồ hôi khắp người tôi cứ tuôn ra. Mấy cơn gió lùa qua mới sợ chứ, y như là bắt mình phải rùng mình. Gắng gượng lắm tôi mới không lả đi. Ngồi một chốc thấy hơi khỏe lại, tôi đứng lên. Chú Tư dìu tôi đi chầm chậm về vạn lưới.


 


... Khi tôi chuyển bụng sanh, cha tôi lo lắm. - Chị Tư Hậu kể tiếp với tôi, vừa nói chị vừa cười. - Đêm hôm ấy cha tôi châm dầu vào đèn rồi chạy cho lối xóm hay. Mấy chị đàn bà sang. Họ ngồi nói chuyện với tôi một hồi rồi lăn ra ngủ, dặn tôi gần đẻ thì gọi họ dậy. Tôi tức cười quá. Họ sang thực ra chỉ để có bạn và giúp việc vặt thôi, chớ có người nào biết đỡ đẻ đâu. Anh coi, như tôi, cứ đi đỡ đẻ cho mọi người từ ngày này sang tháng khác, vậy mà tới lúc bản thân mình đẻ thì không có ai đỡ cho. Cái chuyện đó không có gì lạ đâu. Cho nên tôi định nếu chị Ba Dương không đến kịp thì tôi tự sanh lấy. Chị Ba Dương không rành đỡ lắm nhưng có biết qua. Tôi sửa soạn những vật liệu cần thiết để sẵn bên giường. May sao một lúc thì chị Ba Dương đến. Chị Ba đến khiến tôi rất vui và vững tâm.


 


Chị ngồi xuống bên tôi nói:


 


- Tối nay chị có hai cái mừng.


 


- Chị Ba nói cho em nghe với!


 


Chị Ba Dương sẽ vuốt tóc cho tôi:


 


- Cái mừng thứ nhất là em sanh. Em sanh nghĩa là có thêm một người đàn ông ra đời. Chị tin chắc chắn con em nó sẽ là con trai.


 


Tôi nắm tay chị Ba cười nói:


 


- Sao chị biết được. Có thể em sanh con gái chớ. Con trai hay con gái em cũng đều nuôi hết. Chỉ lo là...


 


- Lo sao?


 


- Sau cái bữa chạy đó em thấy đau nhói bên hông. Chẳng biết cái thai nó có hề gì không?


 


- Giờ chỗ ấy còn đau không?


 


- Giờ thì đỡ rồi, chỉ đau mấy bữa đó.


 


Chị Ba Dương vẫn vuốt tóc tôi.


 


- Không sao, em đừng lo. Em cứ đinh ninh là em sẽ sanh một đứa nhỏ tốt đẹp. Em sanh đủ tháng, điều ấy có thể làm cho em tin được.


 


Tôi im lặng. Chị Ba hỏi:


 


- Con Thủy ngủ rồi à?


 


- Ba em dỗ nó ngủ sớm rồi.


 


Tôi ngước hỏi:


 


- Nãy giờ chị mới nói có một cái mừng. Còn cái mừng thứ hai?


 


Chị Ba Dương chưa trả lời ngay, lấy trong túi áo ra một cái đồng hồ quả quít. Xem giờ xong, chị siết chặt tay tôi khẽ bảo:


 


- Tối nay đúng mười giờ có một cuộc võ trang tuyên truyền của ta ở dọc hệ thống lô cốt Hiệp Mỹ, Hiệp Lộ.


 


- Thật à?


 


- Chị mới hay hồi sáng. Ban Chấp hành tỉnh ủy lại gởi giấy khen phụ nữ huyện mình.


 


Tôi hỏi:


 


- Khen về việc gì?


 


Chị Ba Dương ngừng một chập, đoạn nhìn thẳng vào tôi, trang trọng nói:


 


- Đáng lẽ thì khen riêng em.


 


- Chị nói chơi, em có gì mà khen.


 


- Chị nói thiệt. Tỉnh uy khen thế nào em biết không? Nội dung là đề cao Ban chấp hành phụ nữ huyện ta đã lãnh đạo các xã xung yếu tích cực hoạt động xã hội kết hợp với công tác trung tâm gây cơ sở ngụy địch vận. Và đề nghị Ban Chấp hành khen cá nhân chị em nào đã tỏ ra xuất sắc nhất.


 


Tôi lặng thinh không nói gì. Chị Ba đang nắm tay tôi bỗng buông ra:


 


- ở mấy xã khác như Hiệp Vĩnh, Hiệp Trường có nhiều chị em xuất sắc, Ban Chấp hành đã quyết định khen rồi. Còn lại Hiệp Mỹ, Hiệp Lộ...


 


- Nói đến đấy, chị Ba Dương lại cầm cả hai tay tôi:


 


- Em, khen em, em biết không? Không phải chị khen riêng em mà là cả Ban Chấp hành... Em xứng đáng Hậu à. Chị đã tin em và em đã đáp được lòng tin của chị. Những nơi em đưa các đồng chí về thật là tốt. Cán bộ nào cũng phản ảnh như thế. Từ những cơ sở đó, các đồng chí ấy đã mở rộng ra rất nhanh... Nay mai người ta gởi giấy khen tới cho em. Riêng chị, chị cám ơn em...


 


Tôi nói:


 


- Sao lại không khen chị, chính chị mới đáng cho em phải cám ơn.


 


Chị Ba Dương lắc đầu:


 


- Tiếc là chị còn nhiều thiếu sót.


 


- Thiếu sót gì?


 


- Ví dụ như chuyến rồi, đáng lẽ lúc anh Tư Bường đi về chung với em, chị biết chị phải ngăn lại. Anh Bường đi thư từ không dính dấp gì đến chuyện của em. Chị muốn để anh ấy đi có gì thì giúp em. Quên phứt là tụi địch nó biết mặt anh ta. Cho nên nó mới rượt theo, may mà em với ảnh thoát được. Nhưng như thế là em bị lộ rồi.


 


Tôi nói:


 


- Không phải vì chú Tư mà em bị lộ đâu chị Ba à? Hình như tụi nó biết em từ trước rồi. Chính hôm đó nó kêu: "Con Hậu đứng lại!"


 


- Chị biết. Đúng như em nói. Nó để ý em từ chuyến thứ ba.


 


- Bót nào?


 


- Không phải bót nào hết, cái quán Cầu Sắt.


 


- Quán mụ Tư Bửu à?


 


Chị Ba Dương gật đầu:


 


- Đồng chí Trương, Dũng vừa nắm được một anh chuyên chở rượu trong quán nó. Anh nầy cho biết thế. Chưa kịp cho em hay.


 


Tôi bực tức xoắn hai bàn tay vào nhau:


 


- Em biết lắm, con mụ đó ghê lắm!


 


- Tiếc quá... Em mà không lộ, còn lợi biết bao nhiêu.


 


Tôi vội nói:


 


- Không đi công khai được thì em đi bí mật.


 


- Hoạt động công khai được vẫn là tốt hơn.


 


- Chuyến đưa thuốc nổ vào trót lọt không chị?


 


- ổn rồi!


 


Tôi nói chuyện với chị Ba đến đấy thì bụng đau oặn. Chị Ba vội vàng đỡ tôi xuống và bảo:


 


- Thôi, Hậu đi nằm. Đừng nói chuyện nữa.


 


Chị Ba lấy một chai dầu "Nhị thiên" còn mới, bóc vỏ đưa cho tôi xoa. Rồi chị đi xuống bếp nấu nước. Cha tôi lính quýnh chạy ra chạy vào. Tôi nằm yên. Cơn đau nhấm nhẩm trong bụng tôi. Tôi đã qua một lần sinh, tôi hiểu được. Với lại ở cương vị của tôi, một người hộ sinh, tôi càng biết rõ cái đau đớn mà người đàn bà phải vượt qua lúc này. Tôi đã từng lặn lội đi đỡ đẻ cho mọi người, thế mà chính lúc mình sắp đe thì không có một bàn tay mụ thực thụ hỗ trợ. Nghĩ tới nhà tôi, tôi muốn ứa nước mắt. Đời tôi hai lần sinh nở, hai lần đều vắng mặt chồng. Nhưng dẫu sao lần sinh con Thủy, vẫn có hy vọng là nhà tôi sẽ về với mẹ con tôi. Lần này, không hy vọng gì như thế nữa. Tôi nói với anh, cái tủi thân của người đàn bà bình thường lúc vượt cạn cô đơn đã là thấm thía, huống chi là hoàn cảnh của tôi lại đi quá mức bình thường ấy. Nếu không có chị Ba, không có cha tôi ở bên cạnh thì có lẽ tôi đã khóc, khóc vì tủi thân mình và tủi thân cho chồng, khóc thương đứa con tôi sắp ra đời đã mất cha từ tám tháng trước.


 


- Gắng lên, chịu khó một chút thôi em à.


 


Chị Ba dịu dàng nói. Tôi ngước mắt nhìn chị. Đau lắm, nhưng tôi cố gượng cười. Chị Ba Dương nhìn tôi với đôi mắt lo lắng, đầy vẻ trìu mến:


 


- Có chị đây, có chị bên em đây!


 


Bỗng tôi thấy ruột mình cơ hồ như bị tuốt xé. Cơn đau cuối cùng dồn lên tận ngực. Tôi thấy bụng nhẹ hẫng đi, rồi cả người bị dãn ra. Mắt tôi hoa lên không còn biết gì nữa, chỉ nghe một tiếng nói: "Con trai rồi!" Nghe xa lạ như tiếng trong giấc mơ.


 


Tôi sinh con trai. Những ngày tôi chưa dậy đi được, bé Thủy cứ vào ngồi vuốt ve tay tôi. Nó không dám nhìn em, vì em nó còn đỏ hỏn. Bé Thủy có khi ngồi suốt buổi bên tôi. Nó thương tôi lắm, và coi tôi như đang ốm vậy. Một buổi trưa nó vào ngồi như thế và hỏi:


 


- Má ơi! Má có đau không má!


 


Tôi ôm con nói:


 


- Không, má có đau đâu, bây giờ má nghỉ. Vài bữa nữa khỏe rồi má dắt con ra biển chơi, lấy cho bé Thủy vỏ hến, con tàu buồm.


 


Con bé hỏi:


 


- Chừng nào đi hả má?


 


- Ba bốn bữa nữa, nhưng Thủy hỏi nội, coi nội có cho Thủy đi không đã.


 


Con tôi nó buông tay tôi ra, tụt xuống chạy đi tìm ông nội để hỏi. Tôi ngồi dậy định cho con bú. Vừa lúc đó cha tôi hấp tấp chạy vào:


 


- Tư à, có tụi bót Đầu Cầu vô. Chú Chín nói hình như nó đang tìm nhà mình.


 


Tôi nói:


 


- Có lẽ là nó đi đâu đó thôi.


 


- Ba nghi lắm.


 


Rồi cha tôi trở ra ngoài. Một hồi sau người trở lại bảo tôi:


 


- Con xuống hầm liền đi. Bồng thằng nhỏ theo nữa. Để thằng nhỏ trên này nó gặp ắt biết con có nhà.


 


Tôi nghe vậy, vội vàng lấy chăn túm con, theo cha tôi xuống hầm. Cha tôi giở gấp nắp hầm, dìu tôi xuống:


 


- Con cứ ở dưới, ba với con Thủy ở trên này. Bọn nó tới rồi! Xuống liền đi.


 


Tôi bế con chui xuống hầm. Bên dưới, hầm lờ mờ tối. Đất cát đào sâu thấm nước âm ẩm. Ngồi thì ướt, thành ra tôi cứ bế con đứng. Đứa con tôi mới sinh sáu hôm, chỉ có biết khóc và bú, giờ lại phải xuống hầm rồi. Có sinh con vào buổi đó, mới biết phụ nữ trong chiến tranh là khổ, mới thấy trẻ nhỏ trong chiến tranh thật là đáng tội nghiệp. Con tôi mới ra đời có mấy ngày, chưa quen thuộc với mọi vật chung quanh, đem nó vào hầm tối om như thế nó cũng không biết gì để lo sợ. Càng thấy sự hoàn toàn không biết của con như thế, tôi càng thêm thương nó.


(còn tiếp)


Nguồn: Một chuyện chép ở bệnh viện. Truyện dài của Anh Đức. NXB Văn học, 1958, tái bản nhiều lần. Chuyển thành phim Chị Tư Hậu, 1962.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »