tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23575690
Tiểu thuyết
14.08.2018
Ngũ Hà Miên
Bão


Chàng thất sắc:


Sao cứ tính sổ hoài vậy? Nghe nói ổng chủ trương trung lập, thân Cộng như ông Minh mà.


Đối lập cuội, anh tin những chuyện đó thì có bán thóc giống mà ăn. Ổng sắp được Thiệu bổ nhiệm làm Phó thủ tướng đặc trách Quốc phòng rồi. Dân biểu Đinh Văn Đệ sẽ thay ông ta ở Ủy ban Quốc phòng Hạ nghị viện rồi. Nếu hạ thủ ngoài đường, thì xe ổng đang đi là một chiếc Mercedes màu đen, mang biển số ER-2509.


Chàng thừ ra nghĩ ngợi mông lung. Hồi giờ chàng thành kiến với những người theo Tây như đám ông Đôn, Nguyễn Chánh Thi… Chàng nhớ một câu thơ, hình như là của Xuân Diệu, gửi cho Phạm Duy khi ông nhạc sĩ tài hoa này dinh tê về vùng tạm chiếm.


Lũ lính Tây và một bầy gái điếm


Chúng làm sao mà hiểu được thơ anh.


Nhưng cũng có những con người, dù ở trong hàng ngũ chính quyền Thiệu mà chàng thấy dường như số phận đã đẩy đưa họ, chớ nơi thâm tâm, họ vẫn còn nhất điểm lương tâm. Không hiểu sao chính nụ cười của ông Đôn đã gây cho chàng ấn tượng đó. Chàng nhìn thẳng vào mặt Thắng. Thắng như thoắt hiểu tâm trạng đó:


– Mấy ảnh luôn nhắc rằng anh là một trí thức có tâm huyết, rằng em phải luôn luôn tham khảo anh trong mọi công việc.


Thắng dừng lại, như chờ đợi nơi chàng một sự tỏ bày. Chàng biết thế, lại càng cố chậm rãi:


Chú ạ, khi nào gặp mấy ảnh chú cho tôi gởi lời cảm ơn. Nhưng lòng tôi khắc khoải, trời sinh tôi ra vậy, mong chú thông cảm. Ông ngoại tôi cũng đỗ đại khoa, ra làm quan, thầy học của cha tôi. Hồi còn nhỏ, tôi thường cha đọc cho nghe đoạn sau đây trong sách Mạnh Tử, tôi rất tâm đắc: Tuyên vương vấn Mạnh Tử viết: Thiên hạ vu hồ định? – Định vu nhất! – Thục năng nhất chi? – Bất thị sát nhân dã, định nhất chi![1]


Thắng chế giễu:


Anh nói chi mà chi hồ giả dã, em không hiểu gì hết.


Chàng cũng không nhịn được cười:


Tôi cũng quên đi mất, nói chuyện với chú mà như giảng bài cho học trò ban Cổ văn không bằng. Câu đó nghĩa là: Vua Tuyên Vương hỏi thầy Mạnh thiên hạ bao giờ bình định trị an được? Thầy nói: Định được ở chỗ – Ấy là chỗ gì? Vua hỏi tiếp. Thầy trả lời: – Không giết người nữa thiên hạ định được và mọi người sẽ sống trong an bình.


Và chàng thêm:


– Thầy Thiện Hoa cũng dạy: Tâm bình, thế giới bình.


Mười Thắng nhận xét:


– Em thấy hình như anh định nói điều gì xa hơn.


Chàng được lời như cởi tấm lòng:


– Đúng vậy. Tôi không dám có ý kiến về quyết định với ông Đôn. Nhưng tôi cho rằng, dù xương máu của bên nào đi nữa, ta tiết kiệm được chút nào hay chút nấy. Hôm qua ông Đôn có điện thoại cho tôi rằng ông chấp nhận chú Tí vô làm việc. Nếu ông ấy lên Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng thì với chú Tí bên cạnh, các chú khỏi cần giết ai, cũng nắm được hết tình hình.


Thắng như Archimède, la lên:


– Eurêka, hay quá. Tí sinh năm bốn chín, hăm ba tuổi, nhưng đã đậu M.A mới từ Mỹ về, vừa giác ngộ cách mạng, tham gia vào tổ chức, cũng trong bộ phận trinh sát vũ trang của an ninh nội thành. Tôi sẽ báo cáo lãnh đạo phương án nầy. Chắc sẽ được chấp thuận.


Chàng tự thấy yên lòng hơn, bèn hỏi lảng sang chuyện khác:


– Anh ấy tên Tí chắc tuổi Tí, năm 1948, chớ sao lại 1949?


Thắng đáp:


– Em cũng không biết nữa.


Chàng đang cảm thấy rất vui, bèn ba hoa:


– À, có lẽ sinh cuối tháng Chạp âm lịch Mậu tí thì cũng đã sang tháng Giêng dương lịch 1949 rồi, mạng Thích lịch hỏa, lửa sấm sét trên trời, cao sang lắm đó.


Rồi hai anh em bắt sang chuyện tử vi cho tới khuya. Chàng không ngờ rằng trong một phút ngẫu nhiên, mình đã cứu ông Đôn khỏi một bản án tử, điều cho tới khi chết, có lẽ ông ta cũng không hề hay biết. Năm anh Lê Đức Thọ đi Tây chữa ung thư vòm họng về, ở T.78 Sài Gòn, anh có cho Đại tá Thích mời chàng lên 202 Trần Quốc Toản chơi. Anh nói có nằm viện cùng nhà thương với ông Đôn. Lẽ đời bí nhiệm làm sao. Tiếc, sau đó anh mất. Dưới mắt chàng, anh là một người cơ mưu, xử sự linh hoạt và cương quyết trong chiến dịch Hồ Chí Minh và giải trừ Pôn Pốt, đáng làm minh chủ, chỉ tiếc đất nước ta đã thiếu một nhạc trưởng vừa tầm với tình hình sau 1975:


Hoàng quân minh châu song lệ thùy


Hận bất tương phùng vi giá thì


Là hai câu trong bài Tiết phụ ngâm của Trương Tịch thác lời người tiết phụ, tạ lòng một minh chủ đã gặp quá muộn màng, chàng phỏng dịch:


Trả chàng này cặp minh châu


Mà hai dòng lệ rầu rầu như mưa


Tiếc rằng chẳng gặp từ xưa


Những ngày hoa gấm, em chưa có chồng


Anh Sáu Thọ là một con người khác thường đã bị nhiều kẻ hiểu lầm. Sau 1975, chàng đã gặp anh, dù ngắn ngủi, muộn màng. Theo chàng, anh có phong cách anh dung dị, chỉ bận một cái áo gió đã sờn cổ, tám mươi tuổi vẫn nhớ chuyện ở tù Côn Đảo nửa thế kỷ trước như mới ngày hôm qua, từng người từng việc tới chi tiết và điều này, có thể chàng đã chủ quan: anh rất trân trọng đối với chàng. Mặc cho tình đời ghét thương, chúc anh ngàn năm yên nghỉ.


Trở lại với thời ấy (1972), chàng có mua một cái máy quay ronéo Gestner mới, dùng in ấn tài liệu. Nửa chừng bị động ổ, phải dời nó lên xóm gà Gia Định. Mãi sau 1975, mới có người kêu cố chủ lên nhận. Nó đã già, chàng bèn cho luôn Thanh niên Xung phong, bấy giờ còn đang rất nghèo nàn phương tiện.


Về sau hỏi mới biết một cơ sở của Mười Thắng bị lộ, do quyên tiền nhằm một bà cụ Phật tử ở xóm tháp nước Ngô Tùng Châu, (nay là Lê Thị Riêng, quận I). Bà nầy nói chuyện với anh con trai đang làm cảnh sát ngụy. Tay này rất nhát, bèn báo cáo với cấp trên. May mắn thay, Mười Thắng kịp thời biết tin đã chạy thoát khỏi Sài Gòn[2]. Người thay Mười Thắng liên lạc với chàng lại chính là Tí.


Tí được lũ trẻ rất mến. Anh hay ôm bé Trang, con chàng bấy giờ mới đầy tuổi vào lòng, như người anh ruột bồng em và còn tự nguyện dạy tiếng Anh cho Văn và Hoa, con lớn của chàng. Tí đi một chiếc xe đạp cà khổ, không bung sên thì cũng mất vít, luôn cót két rên rỉ.


Chàng bông đùa:


– Tiện lợi quá, không cần phải bóp còi ngoài ngàn dặm cũng nghe tiếng mà tránh xa.


Phù hợp với một ngoại hình như thế, Tí ăn mặt rất cẩu thả, dơ bẩn nữa là khác. Cuộc đời đối với Tí, ngoài việc học hành vô hồi vô hạn, (theo lời ông Phạm Quỳnh) và đi làm kiếm sống để công tác bí mật cho tổ chức, dường như anh ta không còn quan tâm tới một cái gì khác từ áo quần, ăn uống, tiền nong, địa vị. Con người mẫu mực của Tí làm chàng vô cùng cảm phục. Tí không tuyên truyền tốt cho cách mạng, không nói xấu ai. Anh âm thầm làm việc. Là một giáo sư M.A từ một cường quốc văn minh bậc nhất thế giới về, anh đến nhà chàng trong tư cách một ông giáo kèm trẻ. Nhiều tối dựng chiếc xe đã cũ mèm trên vỉa hè trong cơn mưa, anh như một gã hành khất câm nín, chịu đựng. Nhưng ánh mắt anh thật sáng, nhìn vào đó, ta thấy nhất định vừng hồng sẽ mọc và con người có quyền đứng lên, hào hùng như thiên sứ Gebriel tuyên xưng sự vinh quang và ấm no hạnh phúc.


 


3. TÊN EM LÀ PHƯỚC


 


Một hôm Tí hỏi chàng:


– Có lẽ em phải có một cái tên giả, để mỗi khi đến đây hay gặp anh ở ngoài đường, ai hỏi tới thì xưng ra chứ?


Chàng đáp:


– Tất nhiên rồi!


– Anh đặt giúp em đi.


Chàng ngẫm nghĩ:


– Để tôi coi nào. Tên phải cho kêu và an toàn, nghĩa là không ai nghi ngờ. Và cũng phải có thớ đối với giới chống Cộng ở đây. Giòng họ phải xuất xứ Trị Thiên vùng đất đã âm hưởng không chối cãi được trong tiếng nói của chú.


– Anh có tâm hồn nghệ sĩ mà khi tính việc thì thật kỹ. Mấy ảnh mến anh, đúng biết bao.


– Chú đừng bốc thơm cho tôi vậy. Tôi đã nằm mơ thấy cụ Nguyễn Công Trứ cảnh giác tôi về vấn đề này. Cha tôi thường dạy: Sĩ kiêm bách nghệ, phàm là học trò thì cái gì cũng học, không phải chỉ có sách vở mới quí, vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao[3] như lời người xưa mà cho tới quét nhà nấu cơm, kho cá chúng ta cũng phải rành. Cha tôi còn dạy tôi cách ủ phân để trồng rau nữa kia. Nhưng bây giờ: tên chú là Hoàng Xuân Phước, giáo sư Hoàng Xuân Phước.


Tí thắc mắc:


– Tại sao?


Chàng từ tốn:


– Rất dễ hiểu. Chú nói giọng Quảng Trị. Đây là quê của ông giáo Thuần, Hoàng Xuân Thuần, cha ông Hoàng Xuân Lãm, Trung tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Gọi chú là Giáo sư Hoàng Xuân Phước, anh em chú bác với Trung tướng Tư lệnh Hoàng Xuân Lãm, xem ai còn nghi chú là Việt cộng nữa?


Tí đắc ý. Chàng tiếp:


– Cái tên của chú có trong văn bằng M.A dùng để làm hồ sơ chính thức phải giữ tuyệt đối bí mật, không cho anh em bạn bè, nhất là những người đang hoạt động Việt cộng biết. Từ nay chú là Phước. Ngày mai tôi sẽ đi in cho chú hai trăm danh thiếp: Professor Hoang Xuan Phuoc, M.A


Từ đó, Phước với chàng như hình với bóng. Chàng thương Phước như em ruột, còn hơn em ruột vì có nhiều chuyện mà cả em ruột chàng, chú Út, không hề được biết, chỉ có mình chàng và Phước biết với nhau.


Đời chàng sang một bước ngoặt.


Qua chàng, Phước làm quen với nhiều người vai vế trong chính quyền, thân chính cũng như đối lập, các bộ, thứ trưởng, các dân biểu nghị sĩ, các nhà trí thức lớn ở miền Nam thời xưa như: Trần Ngọc Ninh, Ngô Gia Hy, Nguyễn Cao Hách, Nguyễn Văn Hảo, Ngô Khắc Tỉnh, Trần Ngươn Phiêu, Vũ Văn Mẫu, Trần Văn Tuyên, Hồ Ngọc Nhuận, Phan Xuân Huy, Kiều Mộng Thu…


Phước làm việc giỏi, lâu dần được lọt vào Bộ Tham mưu của Đại tướng Thủ tướng chính phủ Việt Nam Cộng hòa Trần Thiện Khiêm. Trước tết Nhâm tý 1972, chàng về thăm các cử tri Quảng Ngãi, lại cùng với các bạn học trò cũ tổ chức các cuộc tọa đàm, hoặc ngâm thơ suốt sáng. Trời mùa đông ở quê miền Trung lạnh buốt. Chàng thường ngủ ở nhà Hiến bên bờ sông Trà. Có những nửa khuya, gió bấc thổi tốc mái tranh, cơn bão rớt ở đâu về làm quằn quại căn gác nhỏ phiêu bồng bằng tôn của người môn đệ trung thành đang là giáo sư Triết trường cấp ba Trần Quốc Tuấn. Thầy trò tương đắc, cám ơn duyên nghiệp đã cho họ không cần tu mấy kiếp vẫn được gặp nhau. Cả hai cùng khuấy cà phê, gõ muỗng ngâm thơ những đêm trắng tâm sự, bắt chước Lưu Bị và Gia Cát Lượng chong đèn bàn chuyện thiên hạ tam phân. Trước cái ngày Khổng Minh, vị thư sinh lục thao tam lược hai mươi bảy tuổi rời bỏ Ngọa Long sơn và cái gia tư năm trăm gốc dâu của mình, ông dặn dò em ruột, Gia Cát Quân, bằng những lời lẽ vô cùng cảm động:


– Ta vì tấm lòng của sứ quân mà phải ra đi. Em ở lại nhà chăm sóc mẹ già và mảnh vườn. Công việc xong, anh lại trở về, cùng em trồng dâu nuôi mẹ[4].


Đấy, họ làm việc cho phong trào, cho Việt cộng, mà vừa lãng mạn, vừa hào khí kiểu thời xưa. Chàng tổng kết ba tháng làm nhiệm vụ của mình, đọc trên Đài Phát thanh và in thành một tập tài liệu phát tận cơ sở. Viên đại tá tỉnh trưởng, sau khi nghe bài phát biểu của chàng, đã triệu tập thuộc hạ đến long trọng cảnh báo:


– Các ông không biết cảnh giác để cho cái thằng ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản[5] đó xài micro chúng ta tuyên truyền cho địch.


Chánh án Cường đứng một bên gật đầu đúng điệu một nịnh thần, châm dầu vào lửa:


– Ổng coi Đài Phát thanh tỉnh như cái diễn đàn Quốc hội của ổng không bằng.


Chàng cũng không trách họ, ăn cây nào rào cây ấy, chàng sống tấc đất ngọn rau Thi Phổ, chàng không bỏ bà con mình được. Còn họ, di cư từ Bắc vô đây, nhờ cây súng Mỹ phát cho Diệm, Thiệu… họ binh chủ họ, có sủa bậy vẫn là việc người đời trung thành với chủ.


Không ngờ làn sóng đưa tiếng nói tới cho bà con, chàng từ đó tháng nào cũng phát hành một bản tin in ronéo để hâm nóng tinh thần đấu tranh. Viên quận trưởng Mộ Đức cho bắn đại bác xuống Đức Phong[6] làm bao đồng bào chết và làm cháy hàng trăm ngôi nhà để báo cáo với Mỹ xin tole (tôn) cứu trợ mà ăn cắp, bán đi lấy tiền. Bị chàng phát hiện, lên tiếng tố cáo tội ác, y cho người vào Sài Gòn mướn báo chính luận của Đặng Văn Sung viết bài kết tội chàng- dân biểu, thầy giáo mang tội nói láo.


Đám học trò chàng tức lắm, hỏi:


– Sao thầy không phản ứng gì hết?


Chàng nói:


– Báo ứng nhãn tiền. Tôi chủ trương bất chiến tự nhiên thành. Đứa nào làm ác, không cần mình trừng trị, nó cũng sẽ chết sớm.


Chàng hay đùa cợt là mình khẩu xà tâm Phật. Tiện miệng, chuyện thật giả lẫn lộn nhau, như trò đùa trên cái thế gian mà chúng ta đã phải sinh ra và sống, có lao động, chiến đấu nhiều khi nghiêm túc căng thẳng đấy, nhưng tất cả không phủ định khái niệm phù du về kiếp nhân sinh mà chàng thừa hưởng di truyền từ cha và ông ngoại.


Vậy mà, thần khẩu buộc xác phàm, chỉ một tháng sau, một viên SKZ ở đâu rơi lạc vào huyện đường: quan quân sớm ra người thiên cổ. Chàng tự trách mình đã ngầm nguyện điều ác cho kẻ khác. Chàng đem chuyện ra kể với một người bạn trẻ, cử nhân toán, trực tính ở Quốc hội. Huy nói:


– Theo khoa học, chỉ có thể phán xét khi thực tế đã có hành động. Sự áy náy của anh quá đáng.


Chàng nói:


– Đó là theo quan niệm nhân sinh và hành vi Tây phương, Đông phương chúng ta coi trọng cái tâm: Nhứt niệm tiên khởi, thiện ác dĩ phân.


Điều lành và điều dữ, ngay từ vùng ý niệm của mình, thậm chí từ siêu thức, đã có phân biệt rồi[7].


Và chàng tiếp:


– Chú không nghe câu chuyện nhà sư và cô lái đò sao? Này nhé: Có một nhà sư trẻ đi qua một chiếc đò ngang. Cô lái nước da trắng tuyết, quần xắn quá gối nõn nà, môi như nụ hồng ướm nở, má hây xuân tình mời mọc. Sư ta nhìn đăm đăm. Cô gái mặc kệ. Nhưng khi hành khách xuống đò lên bờ, mọi người chỉ phải trả ba đồng tiền kẽm nhưng tới lượt sư, cô đòi gấp đôi. Sư hỏi lý do. Cô nói: – Ngoài việc sang sông, ông còn nhìn tôi trân trối, không lấy tiền thêm sao được? Sư ức lắm nhưng cũng đành tháo hầu bao.


Hôm sau, trên đường về lại qua đò, lần này nhà sư quay nhìn hướng khác, không thèm ngó ngàng gì tới cô lái. Khi đò cập bến, cô lái đòi tiền gấp ba. Nhà sư nổi giận quát: Lần này thì đừng hòng… Cô gái bình tĩnh:  – Người tu hành không bao giờ dối lòng. Sư nghĩ lại coi, hôm nay ông không nhìn tôi. Nhưng trong tâm ông nghĩ về tôi suốt. Trong tam nghiệp thân, khẩu, ý[8] thì nghĩ quan trọng hơn ngó, tiền gấp ba, không mắc đâu, bạch sư phụ.


Câu chuyện như tiếu lâm nhưng cực kỳ sâu sắc.


4. KẾT NGƯỜI NƯỚC NGOÀI


 


Trước Tết, Trung tâm Văn Bút, họp tại 107 Đoàn Thị Điểm, quận 3, chàng đưa Phước tới chơi, giới thiệu với linh mục Thanh Lãng và các nhà văn, thơ: Phạm Việt Tuyền, Nguyên Sa, Mai Thảo, Nhã Ca… chàng để ý thấy Phước lẩn tránh cánh các anh Vũ Hạnh, Hàn Sơn Thanh mà lại kết thân với đám văn nghệ chống Cộng. Chàng cũng không khỏi ngạc nhiên khi trong cuộc bầu cử Thường trực Văn Bút năm đó, linh mục Thanh Lãng, kẻ không ưa Cộng sản, đã đề nghị chàng vào Ban chấp hành Pen Club Việt Nam. Lại thêm một danh nghĩa nữa cho nền ngoại giao của chàng.


Dạo đó, có một nhà văn lớn Nhật Bản, ông Takeshi Kaiki, Giáo sư kiêm Thượng nghị sĩ đi thăm Việt Nam. Chàng được một người cháu của mình đang du học bên đó và đang được Kaiko bảo trợ luận án tiến sĩ viết thư nhờ chàng chăm sóc vị ân nhân của nó trong thời gian ở Sài Gòn. Đấy, toàn những cơ hội bất ngờ. Phước gợi ý cho chàng thết cơm ông Kaiko thật sang trọng ở khách sạn Continental. Tất nhiên, có cả Đại sứ Nhật và các Tham tán văn hóa Kabayashi, Tham tán kinh tế Iwanami, Tham tán chính trị Aoki.


Kaiko đúng là một nhà văn phong nhã và chân tình. Ông tặng chàng một cuốn sách in nhiều truyện ngắn của ông từng được nhiều nhà xuất bản Anh, Mỹ chọn vào hàng famous short stories[9]. Ông dò lật các trang và chỉ cho chàng mấy truyện đã được dịch và phổ biến ngoài Hà Nội. Chàng hỏi:


Ngài đã đến Việt Nam lần nào chưa?


Ông vuốt mái tóc nuối tiêu hớt và chải thật khéo của mình:


Thưa, đây là lần thứ hai. Lần đầu, sau khi quân đội Thiên Hoàng nước tôi lật đổ người Pháp ở Đông Dương. Hồi đó tôi mới hăm sáu tuổi. Lần này, tôi từ Hà Nội vô.


Ngài thấy thế nào về đất nước chúng tôi?- Chàng tiếp


Ông trả lời, chàng nghĩ là có phần nào xã giao trong đó:


Tuyệt đẹp. Chỉ tiếc chiến tranh tàn phá nhiều quá. Hồi ấy còn trẻ, một sáng thu, tôi bách bộ dạo chơi bên hồ Hoàn Kiếm. Những cây liễu trầm tư nghiêng xuống mặt nước, như đang bí mật thì thầm nhau về áng mây trắng trong lòng nước đang ve vãn chúng.


Chàng đã đề nghị Phước hiện diện, giúp việc thông dịch. Ông cho biết rất thích Truyện Kiều mà một tác giả nước ông đã dịch sang tiếng Nhật. Chàng nói mình nhỏ hơn ông những mười tuổi nhưng tâm hồn nghệ sĩ của ông đã khiến chàng cảm được tất cả những gì ông diễn tả. Chàng gợi lại kỷ niệm êm đềm thời bé, hồi chàng còn ngồi năm thứ hai trung học, một giáo sư đã đọc cho bọn chàng nghe một bài haikai mà chàng nhớ suốt đời:                Chiếc lá rụng xuống đất


Lại trở về cành


À, ra con bướm!


Ông vui vẻ giảng giải thêm cho chàng về thiền trong haikai. Chàng đọc hầu ông bài Mười năm trong tập thơ của chàng đã dịch ra tiếng Anh. Tất nhiên chàng tặng ông luôn tập thơ đầu tay của mình đã in tám năm trước. Ông nói sẽ trân trọng giữ nó như một kỷ vật quí.


Hai người nói chuyện tâm đắc đến nỗi cử tọa là các viên chức tòa Đại sứ Nhật không còn e dè nữa. Kobayashi tự bạch là mình đã đậu Tiến sĩ văn chương Tokyo. Chàng cũng được dịp cùng ông bắt tay mừng rỡ vì phát hiện cùng nhau là môn đồ của hai vị thầy ngữ học Việt, Giáo sư Trần Kinh Hòa và Giáo sư Nguyễn Khắc Kham, một người Tàu lai lấy vợ Việt, một người Việt lấy vợ Nhật, những chuyên gia phonétic[10] và morphologie[11] của thế giới. Kobayashi đang mở những lớp dạy cắm hoa và làm bông vải cho các vị phu nhân quan chức cao cấp Sài Gòn.


Iwanami, người còn trẻ nhất đám, tự bạch cha vợ anh là chủ Công ty Mishubitshi và anh đã đề nghị Chính phủ Nhật đầu tư thích đáng ở Việt Nam khi cuộc chiến kết thúc mà anh nghĩ là chỉ trong vài năm tới. Anh nói cuối năm ấy anh sẽ sang làm Phó đại sứ ở Ba Lan và mong chàng giúp anh tìm hiểu đất nước Cộng sản này. Chàng hơi chột dạ, đưa mắt nhìn Phước cầu cứu, trong bụng nghĩ thầm không lẽ nhà ngoại giao chuyên nghiên cứu kinh tế nầy biết mình có liên lạc với bên kia?


Nhưng Phước tỉnh bơ đỡ lời:


Thưa ngài Tham tán, Ba Lan theo chế độ Cộng sản. Tình hình ở đó ổn định, làm ăn chắc được.


Có lẽ thâm trầm nhất trong đám là Aoki, người tầm thước, da ngăm, đeo kính trắng, nhà chính trị. Phước gạn hỏi anh ta về tình hình sắp tới của Việt Nam. Aoki nói nhất định chỉ vài tháng nữa sẽ ký kết đình chiến ở Việt Nam. Theo ông, miền Nam phải trung lập trong một thời gian với một ê kíp mới không phải Thiệu. Người Mỹ sẽ bỏ tiền cho Nhật cung cấp mọi thứ để khôi phục nền kinh tế nhằm tranh thủ lòng dân.


Phước nghe say sưa tất cả những lời đó. Mấy hôm sau, chàng có dịp đi qua Sở thú Sài Gòn thì thấy Aoki từ sân tập nhu đạo của Watanabé đi ra. Chàng biết Watanabé đã ở đây hàng ba chục năm nay với bề ngoài điều hành một võ đường Judo. Thật sự, ông vừa làm kinh tài, giám đốc Tainankisi[12] và vừa tổ chức thu thập tin tức cho Hắc Long Đảng, Sở Mật thám quân đội Thiên Hoàng.


Cuộc gặp mặt đã giúp cho chàng và Phước biết được nhiều điều bổ ích về sau. Từ đó vợ chồng Iwanami thường mời chàng đến nhà 156 Tự Đức (nay là đường Nguyễn Văn Thủ, quận I) ăn cơm. Bà là một thiếu phụ Nhật thật xinh đẹp và có học thức. Họ cùng uống rượu saké trong những chén nhỏ bằng gỗ quí được hấp nóng, nhấm nháp với một loại quả giống hạt điều của ta nhưng béo và bùi hơn nhiều[13]. Cũng có lúc Iwanami đến 80 Nguyễn Thiện Thuật quận 3, nhà chàng, dùng bánh xèo miền Trung.


Đặc biệt anh ta thích món mạch nha Mộ Đức mà chàng lấy từ lò sản xuất Thi Phổ của một người bà con bên ngoài. Iwanami nói anh ước được ra Quảng Ngãi một ngày nào đó để nhìn thấy quê hương chàng. Anh cảm thấy rất hạnh phúc bên người vợ trẻ, công dung ngôn hạnh vẹn toàn theo truyền thống Đông phương và rất vui được đánh bạn với chàng, một thầy giáo Việt biết tập tễnh làm thơ. Chàng đọc và dịch sang tiếng Anh cho Iwanami nghe hai câu thơ của Quách Tấn:


Cảnh có cỏ cây nhiều thú lạ


Đời không bè bạn mấy khi vui.


Có khi họ mang giấy bút ra, nguệch ngoạc họa thơ chữ Hán, nhờ đó chàng biết có những bốn chục phần trăm tiếng Nhật gốc Tàu. Bài Đức luận được chàng viết ra trong dịp này[14]. Thấy Iwanami i a học tiếng Việt, còn chàng thì tiếng Nhật, chàng nhớ trước đây Peachy, một người Mỹ Quaker, đã cùng mình trao đổi, chỉ vẽ ngôn ngữ cho nhau. Và, như một bài hát kèo rượu của nước Anh xa xưa: And remember that the best of friends must part. Nên nhớ rằng, rồi cũng phải đến lúc những người bạn tốt nhất với nhau cũng chia tay, Iwanami phải rời Sài Gòn để sang Varsava. Ngậm ngùi thay lúc phân kỳ, chàng thật sự buồn xa bạn. Phước phê bình chàng khéo đem nước mắt… thương người ở đâu, vậy mà cũng như Hoàng, Quảng Trị, chắc mãi khi ra nằm ngoài nghĩa địa, chàng cũng không bao giờ quên luyến nhớ những người mà mình đã gặp, như một thứ ơn tri ngộ. Cả hai từ đó vĩnh viễn không được tin tức gì về nhau.


Năm đó, người ơn của chàng ở quê, sư Hồng Ân vừa sáu mốt tuổi. Ông vô Sài Gòn nghiên cứu đưa một số bà con bổn đạo vào Bình Tuy khẩn hoang sinh sống. Tại đây sẽ cũng có một cái chợ, một mái chùa và một trường học. Chàng không thích kiểu di dân này vì nó nằm trong âm mưu bóc dân ra khỏi nơi cư trú và dùng họ làm lá chắn đỡ đạn cho chính quyền mà ông Diệm rồi ông Thiệu, từng lợi dụng người Công giáo.


Sư Hồng Ân thì muốn chàng nhân mối quen biết với bác sĩ Quốc vụ khanh đặc trách khẩn hoang lập ấp Phan Quang Đán để xin chút gạo, mắm, tôn lợp nhà cho đồng bào buổi đầu hai tay trắng vào vùng đất lạ.


Chàng nhìn cái đầu trọc lóc của bổn sư mà chân tóc mới cạo đang lên lún phún trắng, thương hại:


Thầy già rồi, tội gì phải lo cho đời nhiều vậy. Thầy đứng ra chủ trương sẽ có hai cái bất lợi. Một là những người Cộng sản sẽ cho rằng thầy theo Mỹ, muốn bứng dân ra khỏi địa bàn mặc dầu năm sáu tám, trong tổng tấn công Mậu Thân, thầy đã hết lòng giúp đỡ cả một đại đội du kích, bí mật ếm trong hậu liêu chùa, nuôi ăn suốt mấy ngày, che giấu Việt cộng trước sự lùng sục của Quốc gia. Hai là, ở địa phương có bao vị sư khác cạnh tranh ảnh hưởng với thầy, sẽ sẵn sàng phao vu thầy ăn bớt cơm chim của người khẩn hoang.


Thầy thở dài:


Ông giáo nói phải. Đã đáo tuế lục thập hoa giáp, tôi không phải tự biết mình lão lai tài tận. Nhưng mới rồi để trả lời cho một số bổn đạo thiện tri thức, tôi có bài tự vịnh như sau:


Sáu chục năm dư vẫn chửa già


Nhưng lòng không thích cảnh phồn hoa


Cạnh tranh những chán chường thương tứ


Thiền tịnh ưa theo đạo Thích Ca


Hộ niệm ngõ thờ ơn chánh giác.


Tu trì mong khỏi lối sai ngoa


Lần hồi thấu rõ đường chơn lý


Tự lợi còn mong chút lợi tha.


Không phải như lần đầu gặp nhau dưới ánh mắt ân tình của Hướng Dương, bây giờ (1972) chàng thật lòng khen thầy:


– Hay quá. Vậy thì con hiểu – chàng xưng con với ông – thầy thấy bà con ở quê bị dồn vào trại định cư sống tù túng quá, thầy muốn giúp họ và ngoài ra, còn muốn họ theo thầy tiếp tục giữ đạo. Con sẽ cố.


Ông cười khanh khách:


– Cảm ơn ông giáo hiểu tôi. Chùa Thiên Ấn sống bằng ruộng rẫy, nên tôi hiểu dân quê. Họ mà bị tách ra khỏi đất đai, tống vào các trại định cư suốt ngày. Lượm tàn thuốc Bastos, nồng nực mồ hôi mài khu trên chiếu bạc như trong bài thơ mà hồi ứng cử ông giáo ngâm trong đêm vận động ở thị xã, thì tội nghiệp quá. Thà ở đâu khuất mắt, chớ bà con mình, hàng ngày trông thấy cảnh đó tôi chịu không nổi…


Chàng kể lại cho Phước, tưởng anh chàng này phản đối quyết liệt việc di dân lập ấp. Nào ngờ Phước nhiệt liệt hoan nghênh. Chàng hỏi tại sao? Phước nói:


– Một là anh không tham gia di dân thì cũng có kẻ khác làm, thậm chí họ làm to hơn với âm mưu bao vây cách mạng. Nếu ta làm, chỉ làm cho có tiếng, giữ quần chúng trong khuynh hướng chính trị của ta.


Hai là, làm việc này anh sẽ có nhiều cơ hội hơn để thân cận với ông bác sĩ Phó thủ tướng Phan Quang Đán. Ông nầy biết khá nhiều chủ trương của Mỹ.


Ba là, biết đâu anh phải gặp anh em, nếu với cái mũ đi tìm vùng đất di dân cho một số đồng bào Quảng Ngãi, anh có thể lên rừng xuống bể dăm bảy ngày cũng không ai nghi ngờ gì. Và cuối cùng, anh được tiếng trọn tình trọn nghĩa với sư Hồng Ân. Ổng rất tốt.


Đó, chàng đã cùng Tâm Quang trở thành người sáng lập ra khu làng mạc, chợ búa, trường học, chùa chiền xã Ngãi Tân (Quảng Ngãi – Hàm Tân) ở Bình Tuy ngày nay. Cuối năm, chàng cũng được thư của Nguyễn Thái Sơn từ Pháp gửi về. Sơn nói anh ta đang làm việc với FranÇois Mitterant trong Đảng Xã hội của ông. Trước khi Sơn sang Pháp, chàng đã cùng Sơn đẻ ra một cái hội, tên rất kêu: Hội nghiên cứu chủ thuyết xã hội, chỉ có ba hội viên: chàng, Sơn và tiến sĩ Thái Quang Trung con cụ Thái Văn Kiểm.


Biết chàng đắc cử dân biểu, Sơn ở nước ngoài cứ tưởng ngon ăn như các ông Nghị châu Âu, bèn khuyên chàng đổi Hội nghiên cứu CNXH thành tên Đảng Dân tộc Dân chủ Xã hội Việt Nam, gọi tắt là Dân dân xã để khỏi nhầm với Đảng Dân xã của ông Phan Bá Cầm, Hòa hảo.


Phước nói:


– Hay lắm. Em biết anh Sơn, Phật tử học giỏi thích hoạt động, có tình yêu đất nước nhưng tất nhiên ít sát thực tế. Tuy vậy, ở châu Âu bây giờ, các đảng xã hội loại này, đang thắng thế, Brandt làm Thủ tướng Liên bang Đức, Bruno ở Áo, Whitlam ở Úc, Pháp và Anh thì Mitterand và Callaghan sắp sáng giá.


Phải chụp lấy cơ hội Đệ nhị Quốc tế trước đây chống Bônsêvích nhưng hiện nay lập trường của họ đối với Mặt trận Giải phóng miền Nam tương đối tiến bộ, họ chống chiến tranh, ủng hộ các phong trào cách mạng và không mấy thích Mỹ.


Thế là Đảng Dân dân xã ra đời trong cái hộc bàn của chàng. Tuyên ngôn, điều lệ, tôn chỉ, mục đích được rặn ra chỉ trong một đêm. Các tay thợ khắc gỗ tài hoa ở chợ Bến Thành đã lấy mấy ngàn bạc và đưa cho chàng một con dấu với cái tampon đỏ chói, thật bắt mắt. Chàng gửi thư cho Sơn và Trung, cử họ làm đại diện cho Dân dân xã, và vận động để trở thành thành viên của Quốc tế Xã hội. Chàng và Phước không ngờ cái việc tưởng chừng như trò chơi đó lại hữu ích cho công việc của họ to lớn về sau. Chàng nói đùng với Phước:


Chú mạng Hỏa, tôi mạng Thổ. Hỏa sinh Thổ cho nên từ ngày hai anh em gặp nhau, việc gì cũng trôi chảy.


Tin tức cần về phía những đồng minh Mỹ họ đã có từ Nhật, qua Kobayashi, còn Úc, Anh, Pháp thì qua văn phòng International Socialist. Chàng giao cho Sơn tìm hiểu thái độ của Pháp, bản thân chàng trực tiếp liên lạc thư từ không chút mặc cảm, tự giới thiệu mình với Whitlam và Callaghan. Chẳng ngờ hai ông này rất nhiệt tình. May sao, Đảng Xã hội của họ thắng lớn trong cuộc bầu cử Quốc hội, Callaghan trở thành Thủ tướng của Anh quốc và Whilam, Australia.


Nhưng quan trọng nhất vẫn là những quan chức người Mỹ. Anh Tùng đáng thương đã vào chơi và mang chàng tới thăm một người Mỹ trước làm Tòa Tổng lãnh sự Đà Nẵng, nay đã đổi vô Sài Gòn: ông Thomas Johnson ở đường Vườn Chuối. Biết chàng là Dân biểu Ấn Quang, đậu hai cử nhân Giáo khoa, lại ở trong Ban chấp hành Pen Club, Johnson rất nể. Thật không khó khi được Johnson mời ăn cơm và chàng nhờ vậy được quen Melhert, ở đường Công Lý, Tham tán phụ trách chính trị. Melhert có cặp môi rất mỏng, lém lỉnh, nói chuyện có duyên, cho biết anh học tiếng Việt ở Đại học Yale, nơi Giáo sư Nguyễn Đình Hòa cũng là thầy cũ của chàng đang giảng dạy. Quái lạ, anh ta nói tiếng Việt rất sõi và biết cả Hán văn, thuộc thơ Đường như cháo. Trong trò chuyện, có lần Melhert hỏi chàng


– Ông giáo sư có biết chữ Ôn nguỵ không?


– Dạ có, tôi đọc Tam Quốc Chí và rất thích nhân vật Tào Tháo.


Chàng nói láo, cha chàng rất ghét nhân vật này. Chàng muốn dò ý Melhert. Ông ta cười khẩy:


– Nói vậy chớ không phải vậy. Tôi không nói chữ Ôn ngụy chỉ nước Ngụy mà ngụy gồm chữ Nhân (người) và Vi (làm). Ngoài rừng, người ta dùng từ nầy chỉ ngụy quân, ngụy quyền của ông đó.


Chàng biết một Sài Gòn đang náo nhiệt vì không khí chiến tranh chứa đựng trong lòng nó biết bao bí mật, nào chính khách đang qua lại như mắc cửi, nào hàng chục ngàn nhân viên tình báo đủ quốc tịch trên thế giới đang bu lại đây, dưới lớp áo các nhà ngoại giao, phóng viên báo chí, các ông Tư bản đầu tư chuẩn bị hậu chiến tay ôm gói bạc kè kè, nói quấy nói quá người nghe ầm ầm. Nhưng dầu sao cũng không chắc ăn bằng những nhân viên CIA thượng thừa thích giao thiệp với những tri thức dân cử, có ít quần chúng sau lưng và mang nhãn đối lập. Người nọ giới thiệu với người kia, trong một bữa trà ở nhà Melbert, chàng gặp được Albert Francis từ Trung vào. Anh này trẻ măng, đẹp trai, có một người vợ gốc Pháp khá kiều diễm, từng tốt nghiệp Haward về House keeping[15]. Cũng không hiểu duyên số xui khiến làm sao mà Francis giúp Phước nhiều nhất. Là dân biểu trung bình mỗi năm có hai khóa họp chính thức, ngoài ra một hay hai phiên bất thường nữa. Thời gian còn lại, chàng về Quảng Ngãi, giúp cử tri những gì họ cần, từ việc can thiệp cho một người bị bắt giam cho tới xin chọn một con em họ vào trường học, đưa hộ một cái đơn cho một học trò cũ vừa tốt nghiệp tú tài hay cử nhân xin đi dạy. Nói chung, thượng vàng hạ cám.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động, 2013.


www.trieuxuan.info







[1] Vua Tuyên Vương hỏi thầy Mạnh Tử: Thiên hạ làm sao định được? Trả lời: Định ở một điều. Xin cho biết điều ấy: Không giết người là điều thứ nhất để ổn định xã hội.




[2] Đây là điều giải thích rằng cụm Điệp báo A gốc là do anh Sáu Ngọc Lê Thanh Vân đầu mối và tổ chức từ 1970. Sau vụ Mười Thắng lên cứ, cụm tách làm 2. A6 vẫn do đồng chí Sáu Thảo đầu mối liên lạc, liên tục từ 1972 đến 30-4-1975




[3] Vạn nghề đều thấp hết, duy có kẻ đọc sách là cao quý!




[4] Gia Cát Lượng, tức Khổng Minh ở Ngọa Long Cương, nên tự đặt hiệu là Ngọa Long. Nhà có 500 cây dâu. Hẹn lòng giúp Lưu Bị thành công sẽ trở về. Sứ Quân ở đây, là chỉ Lưu Bị.




[5] Chỉ chàng, dân biểu H.




[6] Một xã gần biển.




[7] Điều cơ bản trong triết học của Vương Dương Minh.




[8] Phật giáo nói có 3 nghiệp là hành động (thân), lời nói (khẩu) và ý nghĩ.




[9] Những truyện ngắn thế giới nổi tiếng.




[10] Ngữ âm học.




[11] Ngữ vị học.




[12] Đại Nam công ty.




[13] Thảo quả.




[14] Phước ký vô minh, Đức tại nhân; Am kỳ thanh thủy khả vi ân; Đoái tâm bất kiến đan tâm tại; Hà đắc khinh an dữ tử thân. Dịch nghĩa: Phước gửi vô minh Đức tại nhơn; Uống ai miếng nước cũng là ơn; Tự nhìn, chẳng thấy lòng son đỏ; Khinh an nào đến với chân thân.


 




[15] Gia chánh.




 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những người mở đất - Triệu Xuân 14.08.2018
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 14.08.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 14.08.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 14.08.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 13.08.2018
Khảo luận về tác phẩm Tầng đầu địa ngục - Hoàng Hải Thủy 13.08.2018
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 09.08.2018
Hòn đất - Anh Đức 05.08.2018
Biệt ly huy hoàng - Thanh Giang 30.07.2018
Tình yêu và lý tưởng - Thomas Mann 28.07.2018
xem thêm »