tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20017849
Thông tin tác giả
G. G. Marquez


 

Gabriel Garcia Marquez Sinh ngày 06-3-1928, tại Aracataca (Colombia); Hiện sống tại Mexico City. Giải Nobel Văn học 1982. Rạng sáng 18-04-2014 (giờ VN), Gabriel Garcia Marquez đã qua đời tại thành phố Mexico City, Mexico thọ 87 tuổi.


G. Garcia Marquez được trao giải Nobel vì những tiểu thuyết và truyện ngắn mà trong đó tưởng tượng và hiện thực hòa vào nhau, phản ánh cuộc sống và những xung đột của cả một châu lục. Sự ra đời tiểu thuyết Trăm năm cô đơn (1967) đã gây nên một cơn chấn động lớn trong nền văn học thế giới và khiến ông trở nên đặc biệt nổi tiếng.


Gabriel Garcia Marquez là con cả trong gia đình làm nghề trồng chuối, có 16 người con, của một bưu tá nghèo ở làng Arakataka, tỉnh Colombia. Khi G. Garcia Marquez còn bé, bố mẹ đi đến một thành phố khác, để cậu lại cho ông bà ngoại nuôi dưỡng. Garcia Marquez rất thích bà ngoại - người đã kể cho cậu nghe vô vàn chuyện cổ tích và truyền thuyết về sau đã đi vào tác phẩm của nhà văn G.Garcia Marquez tương lai. Còn ông ngoại, một đại tá về hưu thì kể cho cậu nghe tuổi trẻ chiến trận của mình.


Năm lên 8 ông ngoại mất, Garcia Marquez về sống với cha mẹ ở Baranquila. Tốt nghiệp trường dòng Jesuit năm 1943, ông vào học trường Sipakuira ở ngoại ô Bogota. Năm 1947, ông học luật tại Đại học Colombia. Cùng năm, tờ Người quan sát (Espectador) đã in truyện vừa đầu tay của ông Người từ chối thứ ba và trong vòng sáu năm sau đã in hơn chục truyện ngắn nữa. Trường tổng hợp bị đóng cửa vì bạo động, G.Garcia Marquez chuyển đến Cartahena làm báo và sáng tác văn học. Năm 1955 ông hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay Bão lá.


Năm 1954 G.Garcia Marquez cộng tác với tạp chí Người quan sát với tư cách là phái viên hải ngoại làm việc tại Roma, Paris, Barcelona, Caracas, New York và lập tức trở thành “ngôi sao” phóng sự; ông cho đăng 14 bài báo về việc các tàu chiến Colombia chở hàng buôn lậu khiến tờ báo phải đóng cửa và ông mất việc làm. Năm 1958, ông kết hôn với Mercedes Barcha Pardo, người mà ông đã yêu từ khi nàng mười ba tuổi và hai người chờ đợi nhau suốt mười mấy năm ròng; họ có hai con. Sau hai năm làm phóng viên tự do, Garcia Marquez nhận làm cho hãng thông tấn báo chí Cuba Pressia Latin; năm 1961 ông chuyển đến Mexico kiếm sống bằng việc viết kịch bản sân khấu, làm báo và viết văn.


Năm 1967 G.Garcia Marquez sang Tây Ban Nha; cũng năm này ra đời tiểu thuyết Trăm năm cô đơn - cuốn sách tôn vinh nhà văn và trở thành tác phẩm văn xuôi của một tác giả Mỹ Latinh được đọc nhiều nhất. P. Neruda nói "có thể đây là phát hiện vĩ đại nhất bằng tiếng Tây Ban Nha kể từ thời Don Quijote". Sách bán hết trong vòng một tuần, được nhận định là đã gây ra "một trận động đất văn học". Cuốn sách kể về làng Macondo huyền thoại là biểu tượng của Châu Mỹ Latinh, và lịch sử ngôi làng cùng dòng họ Buendia là biểu tượng cho lịch sử thế giới. Năm 1975, Garcia Marquez viết Mùa thu của trưởng lão; năm 1981 ông xuất bản Kí sự về cái chết được báo trước. Năm 1982 ông nhận giải Nobel "vì những tiểu thuyết và truyện ngắn, trong đó tưởng tượng và hiện thực hòa vào nhau, phản ánh cuộc sống và những xung đột của cả một châu lục".


G.Garcia Marquez là bạn thân của chủ tịch Cuba Fidel Castro, mặc dù ông không đồng ý với nhiều điều trong chính sách của Cuba; ông đứng về phía những người yếu, bị áp bức bóc lột. Sau khi nhận giải Nobel, G.Garcia Marquez tiếp tục sáng tác những tiểu thuyết nổi tiếng thế giới như Tình yêu thời thổ tả, Tướng quân giữa mê hồn trận và mới đây nhất là Tình yêu và lũ quỷ khác. Về già, Garcia Marquez bị ung thư, nhưng trên giường bệnh, ông vẫn tiếp tục sáng tác. Năm 2003, ông cho ra đời cuốn tự truyện Sống để kể lại (được dịch ra tiếng Việt năm 2005). G.Garcia Marquez được coi là nhà văn đang sống nổi tiếng nhất, được đọc nhiều nhất không chỉ ở Châu Mỹ Latinh, mà của cả thế giới, là ngọn cờ tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh.


Tác phẩm của G.Garcia Marquez được dịch và đọc nhiều ở Việt Nam mà công đầu thuộc về cố dịch giả Nguyễn Trung Đức.


Tác phẩm:


 


- Người từ chối thứ ba (1947), truyện vừa.


 


- Bão lá (La hojarasca, 1952), tiểu thuyết.


- Ngài đại tá chờ thư (El colonel no tiene quien le escriba, 1958), truyện vừa [No one writes to the colonel].


- Đám tang của bà mẹ vĩ đại (Los funerales de la mama grande, 1962), tiểu thuyết.


 


- Giờ xấu (La mala hora, 1962), tiểu thuyết.


- Trăm năm cô đơn (Cien años de soledad, 1967), tiểu thuyết [One hundred years of solitude].


- Mùa thu của trưởng lão (El otoño del patriarca, 1975), tiểu thuyết [The Autumn of the Patriarch].


 


- Kí sự về cái chết được báo trước (Cronica de una muerte anunciada, 1982), tiểu thuyết [Chronicle of a death foretold].


- Tình yêu thời thổ tả (El amor en los tiempos de cólera, 1985), tiểu thuyết [Love in the time of cholera].


- Tướng quân giữa mê hồn trận (El general en su laberinto, 1989), tiểu thuyết [The general in his labyrinth].


- Tình yêu và lũ quỷ khác (Del amor y otros demonios, 1994), tiểu thuyết [Of love and other demons].


- Tin tức về một vụ bắt cóc (Noticia de un secuestro, 1996), tiểu thuyết [News of a Kidnapping].


- Sống để kể lại (Vivir para contarla, 2003), tự truyện [Living to tell the tale].


 


 - Hồi ức về những cô gái điếm buồn (Memoria de mis putas tristes, 2004), tiểu thuyết.


Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:


- Ký sự về một cái chết đã được báo trước (tiểu thuyết), Nguyễn Mạnh Tứ dịch, NXB Văn Học, 1983.


- Ngài đại tá chờ thư (tập truyện), Nguyễn Trung Đức - Phạm Đình Lợi - Nguyễn Mạnh Tứ dịch, NXB Văn Học, 1983; 2001.


 


- Người chết trôi đẹp nhất trần gian, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Hải Phòng - NXB Đồng Nai, 1987.


- Giờ xấu (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Thanh Niên, 1989; NXB Văn Học, 2001.


 


- Tướng quân giữa mê hồn trận (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Văn Học, 1990; NXB Hội Nhà Văn, 1999.


 - Mười hai truyện phiêu dạt (tập truyện), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Quân Đội Nhân Dân, 1995; NXB Văn Học, 2004.


- Tình yêu thời thổ tả (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Văn Học, 1995; 2000.


 


- Trăm năm cô đơn (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức - Phạm Đình Lợi - Nguyễn Quốc Dũng dịch, NXB Văn Học, 1986; 1992; 1999; 2000.


 


- 36 truyện đặc sắc (tập truyện ngắn), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Văn Học, 2001.


 


- Tin tức về một vụ bắt cóc (tiểu thuyết), Đoàn Đình Ca dịch, NXB Đà Nẵng, 1998; NXB Văn Nghệ TP. HCM, 2001.


- Những người hành hương kì lạ (tập truyện ngắn), Phan Quang Định dịch, NXB Thanh Niên, 2002.


 


- Tuyển tập truyện ngắn, Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Văn Học, 2004.


- Sống để kể lại (hồi kí), Lê Xuân Quỳnh dịch, NXB TP. Hồ Chí Minh, 2005.


- Ông già và đôi cánh khổng lồ, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Tập truyện ngắn nước ngoài chọn lọc, NX B Quân Đội Nhân Dân, 1998; Tuyển tập truyện ngắn Châu Mỹ Latinh, NXB Hội Nhà Văn, 1999.


 


- Làng này không có kẻ trộm, Quà Tết, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Truyện ngắn chọn lọc - tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 1998; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004.


- Dấu máu em trên tuyết (tập truyện), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Đà Nẵng, 1997.


 


- Máy bay của người đẹp ngủ, Gió Bắc, Mùa hè hạnh phúc của bà Phorớt, Thánh bà, Người bạn Mutit của tôi, Thưa Tổng thống - chúc ngài thượng lộ bình an, Dấu máu em trên tuyết, Nguyễn Trung Đức dịch; Giấc ngủ trưa ngày thứ ba, Nguyễn Kim Thạch dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn Châu Mỹ Latinh, NXB Hội Nhà Văn, 1999.


- Chuyện buồn không thể tin được của Êrênhđira ngây thơ và người bà bất lương, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong cuốn Thời cơ của Matraga, NXB Mũi Cà Mau, 1986; Những truyện ngắn nổi tiếng thế giới, NXB Hội Nhà Văn, 1999.


 


- Buổi chiều tuyệt vời của Bantaxa, Dương Tường dịch; Thần chết thường ẩn sau ái tình, Người chết trôi đẹp nhất trần gian, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 1999.


- Biển của thời đã mất, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Truyện ngắn chọn lọc - tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 1998; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 1999; Truyện ngắn Châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004.


- Bà Maria Dos Przeres, Đoàn Đình Ca dịch, in trong Truyện ngắn Châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000.


 


- Đôi mắt chó xanh, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Truyện ngắn Châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000; Truyện ngắn chọn lọc - tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 1998; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn, 2004.


 


- Thần chết thường ẩn sau ái tình, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Truyện ngắn đặc sắc các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 2004.


G. G. Marquez: Đối mặt với cái thực tại đáng sợ này, chúng tôi, những kẻ phát minh ra chuyện kể, những kẻ sẽ tin mọi thứ, cảm thấy mình có quyền tin rằng vẫn còn chưa quá muộn để dấn mình sáng tạo một thứ không tưởng ngược lại. Một thứ không tưởng mới và toàn thắng của sự sống, nơi không ai còn có thể quyết định chuyện người khác chết ra sao, nơi mà tình yêu sẽ chứng tỏ là có thật và hạnh phúc là có thể, nơi mà những chủng tộc bị kết án trăm năm cô đơn rốt cuộc sẽ có và mãi mãi có một cơ hội thứ hai trên mặt đất này.




Nhà văn Triệu Xuân mời nhấn chuột vô để đọc bài: Đi tìm dấu vết chuyến thăm Việt Nam tháng 7-1979 của G. Marquez


Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
08.11.2015
Trăm năm cô đơn (tiểu thuyết)
Mục lục: 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16 
01.10.2014
Cái giá để trở thành nhà văn, hồi ký của Grabriel Garcia Marquez (những bài báo)
27.09.2014
Lần đầu tiên công bố thiên phóng sự: "Việt Nam nhìn từ bên trong" của G. Marquez viết sau chuyến thăm Việt Nam tháng 7-1979 (ký)
06.05.2014
Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (tiểu thuyết)
Mục lục: 1  2  3  4 
02.05.2014
Chuyện buồn không thể tin được của Êrênhdira ngây thơ và người bà bất lương (truyện ngắn)
02.05.2014
Nỗi cô đơn của châu Mỹ Latin (những bài báo)
17.04.2012
Chuyện tình của bố mẹ tôi (truyện ngắn)
18.02.2012
Tình yêu thời thổ tả (tiểu thuyết)
Mục lục: 1