tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22610758
Thông tin tác giả
Phạm Huy Thông
 



 (1916–1988)


Sinh ngày 22 tháng 11 năm 1916 tại Hà Nội trong một gia đình làm nghề kinh doanh lớn, có tinh thần dân tộc. Phạm Huy Thông là hậu duệ thế hệ thứ 24 của Phạm Ngũ Lão, và là thế hệ thứ 48 của thượng thủy tổ Phạm Tu. Quê gốc của Phạm Huy Thông ở làng Đào Xá, xã Bãi Sậy, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Bị sát hại tại nhà vào ngày 21- 6-1988 (phát hiện chết ngày 23-6-1988).


Cha ông là nhà tư sản Phạm Chân Hưng, chủ hiệu vàng Chân Hưng (quê gốc Hưng Yên), người giàu có tiếng ở phố Hàng Bạc trước Cách mạng Tháng Tám; chủ tờ báo Nông - Công - Thương, chủ tịch khu Đông Kinh Nghĩa Thục (bao gồm phố Hàng Bạc và nhiều khu phố lân cận), chủ tịch Tuần lễ vàng đầu tháng 9-1945 do Hồ Chí Minh phát động.


Ngay từ nhỏ ông đã tỏ ra là một người có trí thông minh. Mới 16 tuổi ông đã nổi tiếng tiên phong của phong trào Thơ mới, điển hình là bài Tiếng địch sông Ô. Song thơ ca không phải là niềm đam mê duy nhất.


Năm 21 tuổi, ông đỗ cử nhân Luật tại Viện Đại học Đông Dương.


Học tập tại Pháp: Năm 1937, ông sang Pháp tiếp tục theo học chương trình đào tạo trên đại học các ngành Sử, Địa, Luật, Kinh tế, Chính trị.


Năm 26 tuổi, ông lần lượt thi đỗ Tiến sĩ Luật và Thạc sĩ sử địa tại Pháp. Năm 31 tuổi, ông được phong Giáo sư giữ chức Uỷ viên hội đồng giáo dục tối cao của Pháp.


Năm 1946 tại Paris, ông được chọn giúp việc Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ở hội nghị Fontainebleau. Chính những ngày được gần gũi Hồ Chí Minh ông đã chọn cho mình con đường mà Hồ Chí Minh đang đi.


Năm 1949, ông gia nhập Đảng cộng sản Pháp. Năm 1953, ông gia nhập Đảng Lao động Việt Nam.


Năm 1952, ông phụ trách tổ chức Việt kiều hải ngoại. Cũng trong năm đó ông bị trục xuất khỏi Pháp về Sài Gòn.


Đầu năm 1955, ông bị chính quyền Pháp đưa về quản thúc tại Hải Phòng.


Sau khi thoát khỏi nhà tù ông đảm nhiệm cương vị hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1956-1966), Viện trưởng Viện Khảo cổ học (1967-1988), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại biểu Quốc hội khóa II, III.


Trong phong trào tố Nhân văn - Giai phẩm, Phạm Huy Thông cũng có bài viết đấu tố nhà triết học Trần Đức Thảo.


Năm 1987, ông được bầu Viện sĩ nước ngoài Viện hàn lâm Khoa học Cộng hoà Dân chủ Đức.


Ông mất vào ngày 21 tháng 6 năm 1988 tại Hà Nội. Cái chết của ông khá bí ẩn.


*Nhà văn Triệu Xuân: Giáo sư Hà Minh Đức kể với tôi ngày 27-5-2017 qua phone, (như thường lệ, từ năm 2010 đến nay, thầy trò tôi thường trò chuyện với nhau mỗi tháng vài ba lần). Câu chuyện về cái chết của Phạm Huy Thông được GS HMĐ kể lại, khi ông chuẩn bị xuất bản cuốn sách “Cõi học – các giáo sư”, viết về 25 Giáo sư nổi tiếng mà ông coi là người thầy của mình như Nguyễn Khánh Toàn, Phạm Huy Thông… Theo GS Hà Minh Đức, một người cháu họ của PHT là Nguyễn Bính Thuyết, mang kính cận, là thợ sửa điện nước đã tới nhà ông, 24 (?) Hồ Xuân Hương, trói ông, nhét giẻ vào mồm, trùm chăn lên cùng với cái bàn là (bàn ủi) đã cắm điện, tính đốt cháy ông. Nó chỉ vơ được vài thứ đồ cổ, còn tiền không có một xu. Sau này, khi công an đến khám mới phát hiện: Ông chết, nhưng người không bị cháy. Tiền được ông dấu trong bộ sách Toàn tập Mác Ăng ghen Lenine”! Ngày phát hiện ra ông chết là ngày 23 tháng 6 năm 1988; thực ra, theo pháp y, ông đã chết hai ngày trước đó, tức ngày 21-6-1988.


*


Phạm Huy Thông đã thể hiện là một người đặc biệt có tài về tổ chức và kinh nghiệm lãnh đaọ. Thể hiện khi ông lãnh đạo Viện Nghiên cứu khảo cổ học nghiên cứu thành công đề tài "Thời đại các Vua Hùng dựng nước", "Khảo cổ học 10 thế kỷ sau công nguyên", "Khảo cổ học với văn minh thời Trần"... Góp phần làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia có nền khảo cổ học mạnh tại Đông Nam Á. Ngoài ra ông còn là một nhà thơ, được nhắc đến trong cuốn "Thi nhân Việt Nam" của Hoài Thanh và Hoài Chân.


Theo GS Phan Huy Lê, Phạm Huy Thông là một nhà trí thức uyên bác và tài hoa trên nhiều lĩnh vực, từ thi ca đến luật học, sử học, khảo cổ học, nhưng hình như niềm đam mê suốt đời của ông là lịch sử và chất sử thấm vào ông trên tất cả các sáng tác, nghiên cứu và hoạt động xã hội.


Năm 2000, ông được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về công trình nghiên cứu khảo cổ (Con Moong, trống đồng Đông Sơn và 4 bài dẫn luận thời đại Hùng Vương). Tên ông được đặt cho một con đường vòng quanh hồ Ngọc Khánh tại Hà Nội và con đường mới đẹp nhất (có cả quảng trường) tại quận Gò Vấp TP. Hồ Chí Minh.


Tác phẩm - Thơ:


Yêu đương (1933),


Anh Nga (1934),


Tiếng địch sông Ô (1935),


Tần Ngọc (1937),


Ngoài ra còn các tác phẩm khác in trên báo như: Con voi già (viết về Phan Bội Châu), Hận chiến sỹ, Tần Hồng Châu, Lòng hối hận, Kinh Kha, Huyền Trân công chúa, Tây Thi...


Wikipedia


GS Phạm Huy Thông - Một người nước Nam kỳ lạ


Ông là "Nam quốc kỳ nhân", thuộc thế hệ vàng "một đi không trở lại" trong lịch sử Việt Nam chạy dài thế kỷ 20. GS Văn học Nguyễn Đình Chú, nay tóc đã bạc, da đã chớm mồi- không khỏi xúc động khi nói về Phạm Huy Thông với những lời trân trọng như vậy.


Còn GS Sử học Phan Huy Lê thì tóm tắt: Bên cạnh sự thông tuệ của một nhà khoa học với những kiến thức liên ngành thấu đáo, bên cạnh tầm nhìn xa của một nhà quản lý, Phạm Huy Thông còn là hiện thân của chất nhân văn, sự lịch lãm được kết tinh giữa Hà Nội với Paris hoa lệ.


Sáng Thứ Bảy ngày 19/11/2011, khi Hà Nội đang vào những ngày cuối thu nắng đẹp, trong trong không gian ấm cúng ở Viện Khoa học Xã hội, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội đầu ngành của Việt Nam hiện nay, đã ngồi lại với nhau, để cùng nhắc nhớ về “người kỳ lạ của nước Nam”, trong nghĩa cử đón ngày sinh lần thứ 95 của ông (22/11/1916 - 22/11/2011).


Uyên bác


16 tuổi, Phạm Huy Thông gia nhập vào phong trào Thơ Mới (bài thơ "Tiếng địch sông Ô") với một “tâm hồn kỳ dị” mà nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã đặc tả như sau:


“Chưa bao giờ thơ ca Việt Nam có những lời hùng tráng như trong tác phẩm của người thiếu niên hiền lành và xinh trai ấy. Anh hùng ca của Victor Huygo tưởng cũng chỉ thế. Giữa cái ẻo lả, cái ủy mị của những linh hồn chờ sa ngã, thơ Huy Thông đã ồ ạt đến như một luồng gió mới…”.


18 tuổi, “người thiếu niên xinh trai” tham gia tổng hội sinh viên, sáng tác những bài thơ nhiệt huyết khơi dậy tinh thần yêu nước.


21 tuổi, tốt nghiệp cử nhân luật và sang Pháp du học.


26 tuổi, đỗ tiến sĩ luật học và 28 tuổi thì thêm bằng thạc sĩ sử, địa.


31 tuổi, được phong là GS giữ chức ủy viên hội đồng giáo dục tối cao của Pháp.


“Nhắc lại con đường học vấn để thấy sự uyên bác có gốc gác từ hồi trẻ ‘và cả đời mình, ông không ngừng học hỏi để bổ sung kiến thức cho bản thân", PGS Nguyễn Lân Cường, Hội Khảo cổ học Việt Nam, người có hơn 20 năm làm việc với ông cho biết.


Năm 1946, Phạm Huy Thông là thư ký riêng của Hồ Chí Minh tại hội nghị Fontaineblau. Sau 3 năm hoạt động ở Pháp rồi bị quản thúc ở Hải Phòng, ông trở lại Việt Nam và “dấn thân vào cuộc đời rộng rãi” (một câu thơ của ông).


Trước khi làm Viện trưởng Viện Khảo cổ học cho đến khi mất, ông từng có 10 năm làm hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Hà Nội. Ở vai nào, ông cũng là người luôn đi những bước tìm tòi khai mở trong buổi đầu.


Một trong những chi tiết chứng tỏ sự uyên bác của ông mà đến bây giờ, PGS Lân Cường vẫn còn nhớ như in: Ngày mới về đội khảo cổ với luận án “phương pháp nuôi cá mè ở ruộng nước” nhưng lại được phân công nghiên cứu về nhân chủng học, PGS Cường mới biết tiếng Nga và Trung. Gặp Phạm Huy Thông, cậu nhân viên trẻ lúc bấy giờ được giải thích cặn kẽ từ “nhân chủng học” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp như thế nào, rồi tiếng Latinh, Anh, Pháp, Đức, Hán Việt ra sao, Trang Tử đã giải thích “nhân loại” là gì…


GS Sử học Lương Ninh đem tới hội thảo những câu chuyện bên lề hiếm hoi, mà một trong số đó biểu thị uy tín của Phạm Huy Thông. 


Đó là câu chuyện chữ ký Phạm Huy Thông vào “R” để vời luật sư Nguyễn Hữu Thọ ra Bắc. Không biết cách nào, người của Bộ Nội vụ mang đến một tờ giấy và đề nghị Phạm Huy Thông ghi vào dòng chữ “Nên nghe theo người này” cùng với chữ ký nhìn là biết ngay nét ký phóng khoáng của ông. Sau đó thì Nguyễn Hữu Thọ ra thật.


Uy tín đến từ chính con người ông, kiến thức uyên bác, sự nghiêm cẩn, tinh thần chịu trách nhiệm của người làm khoa học và thao lược của một nhà quản lý.


Trong nghiên cứu khoa học xã hội Việt Nam bây giờ, khảo cổ học có lẽ là lĩnh vực có nhiều thành tựu hơn cả, và GS Phạm Huy Thông là người khởi xướng ngành khoa học này.


Viện trưởng đương nhiệm, PGS Tống Trung Tín nhìn nhận: “GS Thông đã tổ chức và lãnh đạo nghiên cứu thành công in dấu ấn đậm nét trên 3 lĩnh vực lớn của khảo cổ học Việt Nam. Đó là đề xuất khởi xướng nghiên cứu thời kỳ lịch sử Hùng Vương, đưa thời kỳ này từ mây mù huyền thoại, dã sử vào chính sử; đem ánh sáng của khảo cổ học soi rọi vào các thời kỳ lịch sử Việt Nam...


Ở những nơi Phạm Huy Thông từng làm quản lý, cộng sự đều đánh giá cao cách tạo môi trường học thuật cho những người làm nghiên cứu non trẻ.


Khi khoa Ngữ văn của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội lập Hội đồng khoa học, giảng viên trẻ Nguyễn Đình Chú nhận được yêu cầu mỗi năm tổ chức 2 hội thảo. Lúc đó, ông đã ngần ngại vì rằng “vốn liếng chưa có là bao, không thể một năm hai lần được.


“Nhưng Hiệu trưởng khi đó, ông Phạm Huy Thông đúng là một thủ trưởng già dặn", GS Chú nhớ lại và từ áp lực đó, đã bằng mọi cách để thực thi yêu cầu của thủ trưởng. 2 năm sau, khi hoạt động đi vào nề nếp, thì hiệu trưởng Thông nói bây giờ một năm làm một lần thôi, vì đã đến giai đoạn tập trung vào chất lượng.


Các nhà khảo cổ học cũng nhắc đi nhắc lại sự kiên trì của vị viện trưởng trong việc tổ chức hội nghị thông báo khảo cổ học toàn quốc hàng năm, để khảo cổ học “đi vào nhân dân, và từ nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ”. Đến nay, hội nghị đã thành thông lệ thường niên và là sự kiện lớn nhất của giới này.


Duy trì tạp chí Khảo cổ học, Phạm Huy Thông nhận đăng cả những bài mà nơi khác không đăng “vì có yếu tố nhạy cảm”. Ông còn đào tạo bồi dưỡng cây viết trẻ bằng cách đưa họ vào làm công tác biên tập tạp chí một thời gian để qua đó mài rũa văn phong, học tập cách cấu trúc, trình bày công trình khoa học….


Viện trưởng đương đại, PGS Tống Trung Tín khái quát một đặc thù tổ chức của lãnh đạo tiền bối:


"GS Phạm Huy Thông không giới hạn ở việc coi khảo cổ học chỉ nghiên cứu những cái gì do con người làm ra hay để lại, mà trước tiên cần nghiên cứu chủ thể sáng tạo ra các thực thể văn hóa đó, tức là nghiên cứu con người – chủ nhân văn hóa đó cả về hình thái lẫn ý thức. Chính vì vậy mà trong cơ cấu tổ chức của viện khảo cổ cũng như trong công trình nghiên cứu về một di tích, Phạm Huy Thông luôn chú ý xây dựng các khía cạnh về con người, môi trường.


Uy tín của ông được thừa nhận với giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1999 – 2000.


Nhưng có câu chuyện ít tai biết, đằng sau đó. Theo lời kể của GS Lương Ninh, khi ông được mời vào thẩm định phản biện giải thưởng, người ta đã đặt vấn đề: Phạm Huy Thông có ít bài nghiên cứu, đứng tên công trình thì không có, như vậy không đủ tiêu chuẩn để xét. Nghe vậy, GS Ninh phải chứng minh rằng ảnh hưởng trong tổ chức và dẫn dắt của Phạm Huy Thông rất lớn. Ví dụ trực tiếp ngay là có một tập sách mà GS Lương Ninh có đứng tên nhưng đằng sau đó là vai trò đề dẫn rất lớn của GS Thông.


Kể lại câu chuyện cuộc sống của Phạm Huy Thông, các nhà khoa học đều nhắc tới phong thái mà họ gọi là chất nhân văn: lịch thiệp trong xử thế và quan tâm tới con người, đặc biệt là sự chu đáo của ông với các nhân viên vào các ngày hiếu, hỉ hay sự kiện quan trọng trong cuộc sống.


GS Phan Huy Lê đến nay còn giữ đến nay khá nhiều danh thiếp và những mẩu giấy nhỏ của ông cảm ơn khi nhận được sách gửi tặng hoặc trả lời hay trao đổi, hẹn gặp về một việc gì đó.


Trong ấn tượng của những ‘cây đa cây đề của dân sư phạm 1 Hà Nội còn ghi nhớ cách giao tiếp lịch sự "từ trong máu thịt" của vị Hiệu trưởng này. Nhà ở 24, Hồ Xuân Hương thuộc nội thành, hàng ngày sau giờ làm việc, Phạm Huy Thông có ô tô Mốt cô vít đưa về nhà. Trên ô tô của ông chẳng hôm nào không có người đi nhờ. Hôm là vị giảng viên trẻ tuổi, hôm là chị nhân viên hay cấp dưỡng cần về kịp cho con bú.


Một trong những người mang ơn GS Thông nhiều có lẽ là GS Nguyễn Đình Chú.


Sau cải cách ruộng đất, “nhờ khe hở của lịch sử”, ông được giữ lại giảng dạy ở ĐH Sư phạm, làm trợ lý cho GS Trần Đức Thảo, một nhà triết học nổi tiếng tầm cỡ thế giới. Nhưng lúc bấy giờ, nạn Nhân văn giai phẩm ập đến, phong trào “đấu tranh giai cấp” lan tới sâu rộng và GS Thảo đã vướng vào bi kịch. Anh thanh niên Nguyễn Đình Chú, có liên đới tới GS Thảo, bấy giờ như cá nằm trên thớt. Lúc nào đi qua phòng tổ chức cán bộ của trường cũng nơm nớp sợ bị gọi vào nhận quyết định thuyên chuyển lên dạy miền núi hay đâu đó như nhiều người khác. Nhưng một chuyện đã xảy ra khi vào một chiều mùa đông, Phạm Huy Thông đã gọi vào phòng và nói: “Tôi có điều muốn nói với anh. Tôi biết anh có điều buồn. Nhưng tôi đang làm hiệu trưởng thì anh yên tâm đi. Tôi kỳ vọng ở anh”. Vậy là GS Chú ở lại và miệt mài góp sức xây dựng khoa Ngữ văn đến nay thành một nơi làm khoa học có tên tuổi trong nước.


Uẩn khúc


Mang nhiều cảm xúc tới hội thảo, GS Nguyễn Đình Chú tha thiết nói trước giờ kết thúc, rằng: Dù thế nào, thì GS Phạm Huy Thông cũng là một con người; trong cuộc đời không tránh khỏi khoảnh khắc sai lầm vì “cũng phải làm nhiệm vụ chính trị của mình”. Và ông nói lại hai chuyện để “chúng ta hiểu về con người Phạm Huy Thông hơn”.


Trong phong trào tố Nhân văn - Giai phẩm, Phạm Huy Thông cũng có bài viết “đập” nhà triết học Trần Đức Thảo. Khi về nhà, bố ông đã quát thẳng: “Tôi không ngờ anh đối xử với bạn anh như thế”.


Sau đó, một người trong trường tên là Hòa Bình, có nhiệm vụ phải tập hợp hồ sơ Nhân văn - Giai phẩm gửi lên Trung ương. Trước khi gửi đi, Phạm Huy Thông hỏi đồng sự: "Những điều anh viết và những điều anh từng nghĩ có khác nhau không”. Được chạm đúng vào điều khó nói, người thư ký này trả lời ngay: "Tôi đã nghĩ khác, nhưng viết khác”. Phạm Huy Thông an ủi: "Chúng ta là người của tổ chức, thì làm theo tổ chức”.


"Tôi biết, sau đó ông trĩu nặng nỗi buồn và đầy day dứt. Một Phạm Huy Thông cũng không thoát khỏi “bi kịch trần gian” – GS Chú nhớ lại.


Cũng dạo đó liên quan tới chuyện "đấu tranh giai cấp", trường sư phạm có nhận được chỉ đạo lập danh sách đưa một số người ra khỏi trường. Khi hỏi ý kiến, ông Thông nói “nếu thế thì ghi tên tôi vào số 1 danh sách này”. Việc này, sau đó bị bãi bỏ.


*


GS Phan Huy Lê phác họa tinh thần Phạm Huy Thông: Ông là một nhà trí thức uyên bác và tài hoa trên nhiều lĩnh vực, từ thi ca đến luật học, sử học, khảo cổ học, nhưng hình như niềm đam mê suốt đời của ông là lịch sử và chất sử thấm vào ông trên tất cả các sáng tác, nghiên cứu và hoạt động xã hội.


Trước khi sang Pháp học sử, học địa, học luật…rồi trở về Việt Nam gắn cả cuộc đời với nghiệp nghiên cứu khảo cổ, lịch sử, Phạm Huy Thông ghi dấu vào “thời đại mới trong thi ca Việt Nam” với một đặc trưng lạ, lấy cảm hứng từ những nhân vật lịch sử, mang tới một không khí khác thường trong mơ ước:


“Tôi muốn hóa con chim để cùng gió


Bay lên cao mơn trớn sợi mây hồng”.


Đúng như một nhà phê bình văn học quan sát, “thập niên 30 – đáng kính là những người chiến bại”, thi sĩ Huy Thông không né tránh những thất bại của người anh hùng trong lịch sử.


Mượn hình ảnh Kinh Kha trong lịch sử Trung Hoa, rồi Phan Bội Châu đương thời, ông ca ngợi những người vì chí lớn, dám xông pha trên mọi hiểm nguy để thực hiện nó nhưng cuối cùng chưa chạm đích thành công.


Đây là câu chuyện của thời đại Huy Thông, thời đại của bao người anh hùng đã không chấp nhận thực tế ngang trái, thấp hèn, không chán chường buông trôi bạc nhược mà đi tìm cho mình một con đường.


thân vào “cuộc đời rộng rãi”, ông đã để lại nhiều dấu ấn cho cuộc đời, nhưng rồi cũng không thoát khỏi “bi kịch trần gian”.


Cuộc đời của con người độc hành ấy đột ngột dừng lại với cái chết bí ẩn ở tuổi 72 trong sự sửng sốt và tiếc thương vô hạn của bạn bè, đồng nghiệp và học trò.


Hạ Anh - Vietnamnet


PHẠM HUY THÔNG – NHÀ TRÍ THỨC LỚN TÀI DANH


“Bên cạnh sự thông tuệ của một nhà khoa học với những kiến thức liên ngành thấu đáo, bên cạnh tầm nhìn xa của một nhà quản lý, Phạm Huy Thông còn là hiện thân của chất nhân văn, sự lịch lãm được kết tinh giữa Hà Nội với Paris hoa lệ” - (Giáo sư sử học Phan Huy Lê).


Nhà thơ ghi dấu ấn vào “Thời đại mới trong thi ca Việt Nam”


Ở tuổi 16, Phạm Huy Thông gia nhập phong trào Thơ Mới với một “tâm hồn kỳ dị”, mang tới một không khí khác thường trong mơ ước:


Tôi muốn hoá một con chim


Bay lên cao mơn trớn sợi mây hồng


Muốn uống vào trong buồng phổi vô cùng


Tất cả ánh sáng dưới gầm trời lồng lộng


Muốn có đôi cánh tay vô ngần to rộng


Để ôm ghì cả vũ trụ vào lòng tôi!


Hồn thơ Phạm Huy Thông ngay từ buổi đầu của tuổi thanh niên, đã mang tính hoành tráng, bi hùng và dữ dội. Ông được đánh giá là một trong những người mở đầu cho sự phát triển của thể loại kịch thơ ở nước ta. Tên tuổi của ông gắn liền với những vở kịch thơ như Anh Nga, Tần Hồng Châu, Kinh Kha... là những vở theo khuynh hướng lãng mạn, lấy cảm hứng từ các truyền thuyết, các truyện lịch sử, dã sử của Trung Quốc. Đặc biệt hơn cả là bản anh hùng ca “Tiếng địch sông Ô” với tính cách mạnh mẽ của một nhân vật phi thường được thể hiện qua hình ảnh người anh hùng Hạng Tịch.


Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nhận xét về đoạn trích này trong tác phẩm của Huy Thông bằng những lời ca ngợi nồng nhiệt: "Chưa bao giờ thi ca Việt Nam có những lời hùng tráng như trong tác phẩm của người thiếu niên hiền hành và xinh trai ấy... Hơi văn mà đến thế thực đã đến bực phi thường. Anh hùng ca của Victor Hugo tưởng cũng chỉ thế. Giữa cái ẻo lả, cái uỷ mị của những linh hồn đương chờ sa ngã, thơ Huy Thông ồ ạt đến như một luồng gió mạnh…”.


Về căn bản, sự nghiệp thơ của Phạm Huy Thông tập trung chủ yếu trong khoảng 6 năm đầu của tuổi thanh niên. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã cho ra đời bốn tập thơ Yêu đương (1933), Anh Nga (1934), Tiếng địch sông Ô (1935), Tần Ngọc (1937), ngoài ra còn in trên báo các tác phẩm khác như: Con voi già (viết về Phan Bội Châu), Hận chiến sỹ, Tần Hồng Châu, Lòng hối hận, Kinh Kha, Huyền Trân công chúa, Tây Thi...


Phạm Huy Thông còn là một dịch giả giỏi, người đã chuyển ngữ rất thành công tập “Truyện ký Nguyễn Ái Quốc” từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Bản dịch của ông đã phản ánh trung thành những ý tưởng sâu sắc và các hình thức thể hiện rất đa dạng trong văn xuôi của Nguyễn Ái Quốc.


Ở lứa tuổi ngoài 20, Phạm Huy Thông đã rẽ sang con đường tập trung nghiên cứu khoa học, nhưng ông vẫn không nguôi nhớ đến thơ. Trong buổi gặp mặt các nhà thơ sáng tác từ trước Cách mạng, ông tâm sự: “Làm thơ từ những năm 1932 - 1937, ở tuổi 15-20, tôi mơ màng và đắm đuối những tình cảm lãng mạn. Tôi sớm ngây vì tình, si mê vì tình, đau khổ vì tình, như những nhà thơ khác những năm ấy... Tôi không tiếc đã phải hy sinh, dù là hy sinh thơ để đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Tôi tự hào đã có phần cống hiến khoa học vào sự hiểu biết về lịch sử của dân tộc, tiếng thơm của dân tộc. Nhưng tôi không nguôi nhớ thơ, luyến tiếc một sự nghiệp thơ dang dở…”.


Tuy nhiên với những gì đã có, đã làm được trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, Phạm Huy Thông đã ghi lại dấu ấn sâu sắc trong buổi đầu Thơ Mới - thời kỳ đã tạo nên "một thời đại trong thi ca" của Việt Nam.


Nhà khoa học uyên bác và tài hoa


Cả cuộc đời mình, Phạm Huy Thông không ngừng học hỏi để bổ sung kiến thức cho bản thân. Ở tuổi 21, Phạm Huy Thông tốt nghiệp cử nhân Luật và sang Pháp du học; 26 tuổi, đỗ tiến sĩ Luật học và 28 tuổi thêm bằng thạc sỹ Sử, Địa; 31 tuổi, ông được phong là giáo sư, giữ chức Ủy viên Hội đồng Giáo dục tối cao của Pháp. Nhìn vào con đường học vấn, có thể nhận thấy sự uyên bác của Phạm Huy Thông có gốc gác từ hồi còn trẻ.


Bên cạnh sự nghiệp khoa học ngày càng mở rộng, Phạm Huy Thông còn tham gia hoạt động chính trị theo yêu cầu của đất nước thời kỳ đó. Từ năm 1940 đến 1945, ông tham gia tổ chức Ái Hữu của Việt kiều tại Pháp. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn chính phủ ta sang Pháp dự hội nghị Fontaineblau, ông được chọn làm thư ký cho Bác và thư ký hội nghị. Việc tiếp xúc với Hồ Chủ tịch đã nâng sự hiểu biết và nhận thức của nhà khoa học Phạm Huy Thông lên một tầm cao mới. Chính từ những ngày được gần gũi Hồ Chí Minh, ông đã chọn cho mình con đường mà Hồ Chí Minh đang đi. Sau khi Hồ Chí Minh về nước, ông vẫn được tiếp tục giao trách nhiệm thực hiện một số nhiệm vụ khác. Sau 3 năm hoạt động ở Pháp rồi bị quản thúc ở Hải Phòng, ông trở lại Việt Nam và “dấn thân vào cuộc đời rộng rãi” (một câu thơ của ông).


Hơn 40 năm hoạt động, GS. Phạm Huy Thông đã giữ nhiều trọng trách như: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam), Viện trưởng Viện Khảo cổ học, Quyền Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử, Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Chủ tịch Hội Du lịch Hà Nội, Đại biểu Quốc hội khóa II, khóa III. Uy tín đến từ chính con người ông, kiến thức uyên bác, sự nghiêm cẩn, tinh thần chịu trách nhiệm của người làm khoa học và thao lược của một nhà quản lý.


Trong nghiên cứu khoa học xã hội Việt Nam bây giờ, khảo cổ học có lẽ là lĩnh vực có nhiều thành tựu hơn cả, và GS Phạm Huy Thông là người khởi xướng ngành khoa học này. Là Viện trưởng đầu tiên của Viện Khảo cổ học Việt Nam, trên cương vị của mình, ông đã thể hiện là một người đặc biệt có tài về tổ chức và kinh nghiệm lãnh đạo. Ông lãnh đạo nghiên cứu thành công in dấu đậm nét 3 lĩnh vực lớn của khảo cổ học Việt Nam với các đề tài: “Thời đại các Vua Hùng dựng nước”, “Khảo cổ học 10 thế kỷ sau công nguyên”, “Khảo cổ học với văn minh thời Trần”..., góp phần làm cho đất nước ta trở thành một quốc gia có nền khảo cổ học mạnh nhất Đông Nam Á.


Không chỉ tham gia hoạt động và có uy tín trong nhiều lĩnh vực thuộc khoa học xã hội ở Việt Nam, GS. Phạm Huy Thông còn là người được bạn bè quốc tế quý trọng. Ông được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Cộng hòa dân chủ Đức, là sáng lập viên của tổ chức quốc tế về giáo dục và Ủy viên Hội đồng Hòa bình Thế giới trong nhiều năm.


Phan Huy Lê đã phác họa như sau về tinh thần Phạm Huy Thông: Ông là một nhà trí thức uyên bác và tài hoa trên nhiều lĩnh vực, từ thi ca đến luật học, sử học, khảo cổ học, nhưng hình như niềm đam mê suốt đời của ông là lịch sử và chất sử thấm vào ông trên tất cả các sáng tác, nghiên cứu và hoạt động xã hội.


Để ghi nhận những đóng góp của GS. Phạm Huy Thông, Nhà nước ta đã trao tặng ông Huân chương Độc lập hạng nhất và nhiều huân chương cao quý khác.


Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về một số công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành khoa học xã hội, trong đó có công trình nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương dựng nước - đề tài mà ông dành khá nhiều tâm huyết.


Giáo sư, Viện sỹ Phạm Huy Thông mất ngày 21/6/1988. Tên của ông đã được đặt cho một đường phố ở Hà Nội gần hồ Ngọc Khánh. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã dựng tượng của ông tại Trung tâm Thông tin thư viện của trường. Tại Hưng Yên, tên của ông cũng được đặt cho một đường phố ở thành phố Hưng Yên và một trường học ở huyện Ân Thi.


Tổng hợp từ nhiều nguồn.


Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
13.05.2018
Trần Khánh Dư (thơ)
07.06.2017
Theo chân Lưu, Nguyễn (thơ)
07.06.2017
Can thuyền vua (thơ)
07.06.2017
Gió chiều (thơ)
07.06.2017
Khúc tiêu thiều (thơ)
07.06.2017
Tiếng ái ân (thơ)
06.06.2017
Anh Nga (thơ)
06.06.2017
Tiếng địch sông Ô (thơ)