|
(1910- 14-2-1971). Nhà văn, nhà thơ, bút hiệu Tân Phong, Lệ Chi, cô Diệu Huyền, Tâm Trí. Sinh quán: Làng Tân Hội (sau đổi là Tân Phong, Phổ Phong), huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi. Xuất thân từ một gia đình yêu nước, cách mạng. Thân phụ là Nguyễn Tuyên đang làm quan ở huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định thì từ chức. Bác ruột là Nguyễn Thuyên từng bị Pháp đày đi Côn Đảo. Anh con bác ruột là Nguyễn Nghiêm (1903-1931) người lãnh đạo phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh tại Quảng Ngãi bị Pháp xử tử tại Quảng Ngãi.
Thuở nhỏ, Nguyễn Vỹ học tiểu học tại Quảng Ngãi, học trung học ở Quy Nhơn, rồi ra Hà Nội làm báo, viết cho các tờ: Văn học tạp chí, Tiểu thuyết thứ Năm, L’ami du peuple (Bạn dân), La Patrie Annamite (Tổ quốc An Nam)… rồi đứng chủ báo Le cygne (Thiên nga). Năm 1937, bị sáu tháng tù ở Hà Nội vì một bài báo trên Le cygne đụng chạm đến thực dân Pháp. Năm 1940, bị bắt đem đi an trí ở Trà Khê tỉnh Phú Yên, tới 1945 mới được tự do. Thời kỳ 1946-1954 sống ở Đà Lạt và Sài Gòn. Từ năm 1955 đến khi mất, ở Sài Gòn, đứng chủ nhiều tờ báo như Dân ta, Phổ thông, Bông lúa, tuần báo thiếu nhi Thằng Bờm… Ông mất vì tai nạn xe hơi trên đường Tân An – Sài Gòn năm 1971.
Tác phẩm chính: Tập thơ đầu – Premieres poesies (hai tiếng việt – Pháp, 1934); Đứa con hoang (tiểu thuyết, Minh Phương, Hà Nội, 1938); Tuấn, chàng trai nước Việt (tự truyện, 1970); Văn thi sỹ tiền chiến (hồi ký, 1970); Những người đàn bà lừng danh trong lịch sử (1970); và gần một chục cuốn tiểu thuyết khác.
|