tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20550921
Thông tin tác giả
Huyền Kiêu
 

(1915 - 1995)


Tên thật: Bùi Lão Kiều, bút hiệu: Huyền Kiêu (do Kiều mà ra), nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. Sinh năm Ất Mão (1915) tại Hà Tây, cư ngụ ở Hà Nội. Vào những năm 40 của thế kỷ 20, ông viết văn, làm thơ, cộng tác với các báo ở Hà Nội, và nổi tiếng từ đó. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp (1945 - 1954), ông tản cư ra chiến khu, công tác ở chi hội Văn nghệ Liên khu III. Sau hiệp định Genève (1954), ông hồi cư về Hà Nội, công tác ở tạp chí Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, Nhà xuất bản Văn học, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam cho đến năm 1975.


Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông vào sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Ông bị tai nạn nghề nghiệp khi làm bài thơ Người cụt tay ở cầu Bình Triệu*. Bài này in trong tập Bầu trời, NXB Văn học, 1976. Mười chín năm sau, Huyền Kiêu từ trần ngày 8 tháng 1 năm 1995 (Ất Hợi), thọ 80 tuổi.


Tác phẩm:


- Hồ Chí Minh, tinh hoa dân tộc (trường ca, 1944).


- Sang xuân (thơ, 1960)


- Đảo Nai Vàng. Truyện thơ. NXB. Phổ Thông, 1964.


- Mùa cày (thơ, 1965)


- Bầu trời (thơ, NXB Văn học. 1976), trong đó có bài: Người cụt tay ở cầu Bình Triệu.


Dịch thuật: Huyền Kiêu dịch tiểu thuyết Gió Đông, gió Tây của Pearl S. Buck (NXB Hàn Mặc-1945; 1964 in lại). Nhìn chung, những bài thơ hay của Huyền Kiêu đều là thơ buồn. Lúc ở Hà Nội, Huyền Kiêu với thi sĩ Đinh Hùng vốn là bạn thân từ thuở nhỏ. Cho nên khi bắt đầu gia nhập làng báo, làng văn; nhờ người bạn này, mà Huyền Kiêu sớm trở thành bạn thân thiết của Vũ Hoàng Chương, Thạch Lam, Khái Hưng, Nhất Linh, Nguyễn Tường Bách...


Năm 1954, Đinh Hùng vào sống ở Sài Gòn, làm báo và phụ trách chương trình "Tao Đàn trên Đài phát thanh Sài Gòn". Trong một lần trò chuyện với bạn (Quốc Nam) về những văn nhân thời tiền chiến, thi sĩ có nhắc đến hai bài thơ của Huyền Kiêu, đó là "Tình sầu" và "Tương biệt dạ". Và theo Đinh Hùng, thì câu thơ đầu của bài "Tương biệt dạ", là của nhà văn Thạch Lam. Thi sĩ Đinh Hùng kể: Bên Hồ Tây, một đêm chớm thu năm Canh Thìn (1940), chúng tôi cùng kéo nhau ra vườn của Thạch Lam, ngồi nghe cá quẫy, nhìn trăng vời vợi... Một lát sau, Thế Lữ đã về nhà gần đấy rồi, quanh quẩn chỉ còn lại Huyền Kiêu, Thạch Lam và tôi thôi. Đang buồn vì đôi bạn thân là Khái Hưng và Nhất Linh sắp sửa xa nhau, thì bỗng dưng Thạch Lam khơi mào bằng câu thơ: “Hiu hắt giăng khuya lạnh bốn bề ...”, rồi xui Huyền Kiêu hãy làm tiếp đi! Huyền Kiêu và tôi đều ngơ ngác, vì không hiểu sao hôm nay Thạch Lam lại nhiều... thi hứng đến thế.


Suy nghĩ một hồi lâu, Huyền Kiêu nói: Tôi thử đọc cho các anh nghe. Bài thơ nhan đề "Tương biệt dạ". Hay, dở tùy nghi Thạch Lam và Đinh Hùng giúp sửa lại. Và anh khe khẽ ngâm sau khi giục Thạch Lam vào nhà lấy giấy bút ghi tốc ký... Vậy là bài thơ "Tương biệt dạ", với đầy hình ảnh của Khái Hưng cùng Nhất Linh, đã được chính Thạch Lam mở đầu và do Huyền Kiêu sáng tác. Tình bạn thơ văn giữa chúng tôi thắm thiết là thế đó.


Chỉ mấy tháng sau, bài thơ trên được nhà xuất bản Đời Nay của Tự Lực văn đoàn tuyển in trong Giai Phẩm Đời Nay Xuân 1941, cùng với bài thơ "Bài ca man rợ" của Đinh Hùng. Đặc biệt, bài "Tương biệt dạ" còn được họa sĩ Đông Sơn (tức Nhất Linh) vẽ tranh minh họa.


Còn bài thơ "Tình sầu" của ông cũng rất nổi tiếng. Trước 1975, nhà văn Viên Linh đã dùng câu Hạ đỏ vẫn chàng tới hỏi, làm nhan đề cho quyển tiểu thuyết của mình. Bài thơ này cũng được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc với tựa đề "Ngày xưa một chuyện tình buồn" và nhạc sĩ Việt Dzũng phổ nhạc với tựa đề "Thu vàng có chàng tới hỏi".


*  Trở lại chuyện Nguyên Ngọc, ông là nhà văn xuất hiện ít nhưng công bố cái nào ra cái ấy. Kháng chiến chín năm ông để lại Đất nước đứng lên viết về Anh hùng Núp của Tây Nguyên, ông nổi tiếng ở truyện ngắn Rừng Xà nu. Ông cũng nổi tiếng khi làm đội trưởng đội cải cách ruộng đất hồi cuối thập kỉ năm mươi của thế kỉ hai mươi, với cái tên đội Báu. Hồi ông làm Trưởng ban sáng tác của Hội Nhà văn, trong giới lưu truyền vế đối: “Trưởng Ban sáng tác không sáng tác/ Ngọc chẳng còn nguyên báu nỗi gì”. Ông là người Quảng Nam, mảnh đất cách mạng nên ông tự coi ông là người cách mạng. Những năm đầu thập kỉ tám mươi của thế kỉ Hai mươi, sau tập thơ Cửa mở của Việt Phương là đến tập Bầu trời của Huyền Kiêu (NXB Văn học, 1976) bị ông nện cho tơi bời vì đã cả gan nói khác những điều Tuyên huấn nói. Ông không hiểu gì lắm về thơ nhưng bàn về thơ một cách say đắm và khúc chiết như bài thơ Người cụt tay trên cầu Bình Triệu viết về số phận của hai anh em trong một gia đình dưới thời Mỹ Ngụy “Anh đi làm lính, em làm điếm” của Huyền Kiêu. Là bí thư Đảng đoàn, ông thỏa sức nhận xét chủ yếu là quan điểm và cách nhìn của nhà văn. Cùng tham gia với ông có nhà thơ Giang Nam lúc ấy là Tổng biên tập báo Văn nghệ, hai người độc ngôn trên tờ Văn Nghệ suốt năm kì báo liền. Cứ tưởng với lối lập luận khi đánh tập thơ Bầu trời, ông Giang Nam sẽ là người bảo vệ cách mạng lắm, ai dè sau này, trong vụ “Con chim gõ kiến” đã đẩy ông phải thôi giữ chức phó chủ tịch tỉnh Khánh Hòa! (Nguồn: Rút từ Văn Nghệ Chí (2) của Trương Vĩnh Tuấn. trannhuong.com Nhấn chuột vô đây để đọc cả bài Văn Nghệ Chí: Hồi thứ hai).

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
11.07.2017
Huyền Kiêu viết về Khái Hưng, Nhất Linh (thơ)
07.05.2013
Huyền Kiêu - Di cảo (thơ)
03.05.2013
Tương biệt dạ (thơ)
20.12.2012
Bầu trời (9) (thơ)
08.12.2012
Bầu trời (8) (thơ)
07.12.2012
Bầu trời (7) (thơ)
30.11.2012
Bầu trời (6) (thơ)
19.11.2012
Bầu trời (5) (thơ)
13.11.2012
Bầu trời (4) (thơ)
04.11.2012
Bầu trời (3) (thơ)
03.11.2012
Bầu trời (2) (thơ)
31.10.2012
Người cụt tay ở cầu Bình Triệu (thơ)