tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20787210
Sách mới
Ba cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Ba Lan: Tadeusz Dołęga-Mostowicz



Nhà xuất bản Hội Nhà văn & Nhà văn, Dịch giả Nguyễn Hữu Dũng vừa tái bản 3 tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Ba Lan: Tadeusz Dołęga-Mostowicz.


Chăm sóc bản thảo, thực hiện in ấn: Nhà văn Triệu Xuân. Tổng phát hành: Công ty Bán lẻ sách Phương Nam


1- Thầy Lang. 420 trang. Giá bìa: 165.000 đ


2- Giáo sư Wilczur. 480 trang. Giá bìa: 180.000 đ


3- Đường công danh: 471 trang. Giá bìa: 190.000 đ


Vài nét về tác giả: Tadeusz Dołęga-Mostowicz (1898-1939) là nhà văn tài hoa của nền văn học cận đại Ba Lan. Hoạt động văn học trong cuộc đời ngắn ngủi nhưng đầy hấp dẫn và thành công của ông diễn ra trong thời kỳ 20 năm tồn tại và phát triển của nước Ba Lan tư sản, giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919-1939), trong bối cảnh đất nước vừa giành lại được độc lập sau hàng thế kỷ bị các thế lực đế quốc chia cắt, bị xóa hẳn tên trên bản đồ thế giới. Thời kỳ phức tạp nhiều chao đảo với bao nỗi thăng trầm ở trong nước và trên thế giới ấy đã được T. Dołęga-Mostowicz lấy làm bối cảnh cho các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông: Thầy lang (Znachor), Giáo sư Wilczur  (Profesor Wilczur), Đường công danh của Nikodem Dyzma (Kariera Nikodema Dyzmy)...


Tha thiết yêu Tổ quốc mình, năm 1917, đang học đại học, Tadeusz Dołęga-Mostowicz tình nguyện nhập ngũ, là kỵ binh trong cuộc chiến Ba Lan với Nga. Sau hơn 4 năm, ông xuất ngũ năm 1922, làm thợ sắp chữ ở nhà in của báo Rzeczpospolita (Cộng hòa). Ông trở thành người viết báo, viết văn rất tình cờ: có lần, một phóng viên trong tòa soạn không nộp bài đúng hạn, ông đã viết bài thay anh ta. Bài báo được khen. Từ đó, tác giả bắt đầu sự nghiệp viết lách. Ông viết cho nhiều báo và được coi là nhà báo tài năng lúc đó. Từ 1925 đến 1928, ông là phóng viên của nhật báo Rzeczpospolita, một tờ báo lớn ở Ba Lan. Từ 1928, ông chuyên tâm vào viết văn. Năm 1929, ông viết xong bản thảo tiểu thuyết đầu tay Ostatnia brygada (Lữ đoàn cuối cùng), xuất bản năm 1930.


Tadeusz Dolega-Mostowicz sinh ra và lớn lên trong một gia đình điền chủ phong lưu tại miền Đông Ba Lan, thuộc Nga. Học xong trung học, ông vào học Khoa Luật của đại học Kiev, thì chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Ông trải qua đời lính và sống với những thăng trầm của nhân dân, đất nước. Vốn sống dồi dào, ông viết rất khỏe. Chưa đầy 8 năm, từ 1931 đến 1939, ông đã xuất bản 17 cuốn tiểu thuyết. Những tác phẩm chính là: Kariera Nikodema Dyzmy (Đường công danh của Nicodem Dyzma - 1931); Prokurator Alicja Horn (Công tố viên Alicja Horn - 1933);  Złota Maska (Mặt nạ bằng vàng - 1935), Wysokie Progi (Những cái ngưỡng cao - 1935); Doktor Murek zredukowany (Bác sĩ Murek giản lược - 1936); Drugie życie doktora Murka (Cuộc đời thứ hai của bác sĩ Murek - 1936); Znachor (Thầy lang - 1937); Trzy serca (Ba trái tim - 1938); Profesor Wilczur (Giáo sư Wilczur - 1939); Pamiętnik pani Hanki (Nhật ký bà Hanka - 1939).


Năm 1939, vào lúc đang ở đỉnh cao thành đạt, nhà văn lại xung phong nhập ngũ lần thứ hai khi đất nước ông bị xâm lược! Dołęga-Mostowicz tham gia chiến đấu tại thị trấn Kuty ở đông nam Ba Lan. Ngày 22- 9-1939, ông bị (Người Nga- TX) giết chết khi đang tổ chức việc cung ứng lương thực cho binh lính và dân tản cư muốn vượt qua biên giới. Mãi đến năm 1978, hài cốt của ông mới được di dời và an táng tại Nghĩa trang Powązki ở thủ đô Warszawa.


Tadeusz Mostowicz là nhà văn rất có duyên với điện ảnh. Nhận thức rất sớm vai trò cực kỳ quan trọng của nghệ thuật thứ 7, ông đã viết Thầy lang như một kịch bản phim. Hầu hết các tác phẩm của ông đều được đưa lên màn ảnh ngay từ rất sớm, giữa những năm 30 của thế kỷ trước và kéo dài cho đến tận ngày nay. Những tác phẩm điện ảnh dựa trên các tiểu thuyết của ông là: Công tố viên Alicja Horn (1933); Thầy lang (1937, 1982); Lữ đoàn cuối cùng (1938); Giáo sư Wilczur (1938); Ba trái tim (1939);  Mặt nạ bằng vàng (1939); Bác sĩ Murek (1939); Nikodem Dyzma (1956); Nhật ký bà Hanka(1963). Phim Giáo sư Wilczur (1938) thậm chí còn ra đời trước khi tiểu thuyết được in thành sách (1939).


Tiếp tục mạch chuyện Thầy lang và Giáo sư Wilczur, bộ phim Testament profesor Wilczur (Di chúc của giáo sư Wilczur) là một spin-off được quay năm 1939, phát hành vào năm 1942 trong Thế chiến II, khi phát xít Đức chiếm đóng Ba Lan, tiếc thay đã bị thất truyền.


Thậm chí, hai tác phẩm của ông còn được chuyển thể thành các seri phim truyền hình thời hiện đại, đó là: Bác sĩ Murek (1979) và Đường công danh của Nikodema Dyzmy (1980). Seri phim Đường công danh củaNikodem Dyzma sau đó lại được cải biên thành seri phim Kariera Nikosia Dyzmy (Đường công danh của Nikos Dyzma - 2002).


 


Khác hẳn tác phẩm Đường công danh của Nikodem Dyzma được viết bằng ngòi bút hiện thực phê phán kiệt xuất, Thầy lang là tiểu thuyết tâm lý xã hội được sáng tác theo khuynh hướng của chủ nghĩa tình cảm.


Nhân vật chính của tác phẩm là giáo sư tiến sĩ y khoa Wilczur - một nhà khoa học lớn, một nhà phẫu thuật tài năng của Ba Lan thời bấy giờ. Đang ở trên đỉnh cao của danh vọng và quyền lợi thì vợ ông bỏ nhà ra đi với người yêu sau tám năm chung sống cùng ông, mang theo cả đứa con gái nhỏ duy nhất mà ông vô cùng yêu thương, để lại một bức thư vĩnh biệt, trong đó nàng thú thật rằng chưa bao giờ yêu ông. Quá đau khổ, giáo sư  Wilczur lang thang, ông bị bọn vô lại cho uống rượu say, cướp sạch quần áo, tiền bạc, đánh vào đầu khiến ông bị mất trí nhớ, không còn biết mình là ai. Từ đó bắt đầu cuộc đời lang thang, phiêu bạt, chìm nổi của một con người bần cùng, vô gia cư, không chốn dung thân, không người thân thuộc, thậm chí không biết mình là ai, tên là gì, không biết mình sống để làm gì, sống cho ai.


Nhưng kỹ năng nghề nghiệp vẫn tồn tại trong con người mất trí nhớ của ông nhất là khi cần cứu chữa cho người bệnh. Được nhận vào làm công cho người chủ cối xay bột Prokop, giáo sư Wilczur (dưới cái tên Antoni Kosiba) đã chữa cho con trai ông chủ khỏi tật, rồi ông chữa cho nhiều người khác, dần dần nổi tiếng là một thầy lang giỏi ở một vùng nông thôn.


 Và cuộc đời ông có lẽ sẽ trôi qua như thế nếu ông không gặp cô gái Marysia đáng thương, côi cút, mồ côi cả cha lẫn mẹ. Tình thương yêu giữa hai tâm hồn cô đơn ấy đã rọi một ánh sáng mới vào cuộc đời ông, khiến ông lại biết mình sống vì ai, vì cái gì… Nhưng rồi Marysia và người yêu cô là chàng trai Leszek bị tai nạn. Để cứu sống cô gái, ông đã phải đánh cắp vali đựng dụng cụ mổ của bác sĩ Pawlicki, kẻ vốn sẵn hiềm khích với ông. Ra tòa, ông bị kết án ba năm tù. Nhưng nhờ sự vận động của Leszek và luật sư Korczyński, đến phiên tòa phúc thẩm, ông được xử trắng án. Cũng chính tại phiên tòa này, giáo sư  Dobraniecki - một học trò và cộng sự của ông ngày trước - đã nhận ra rằng người thầy lang quê mùa có tài năng khó hiểu nọ chính là giáo sư Wilczur đã bị mất tích mười ba năm trước. Sau phiên tòa, trước nấm mồ của bà mẹ cô gái Marysia, ông hiểu ra rằng cô chính là đứa con gái vô vàn yêu quí của mình. Nỗi xúc động đã giúp ông lấy lại trí nhớ.


Cốt truyện cảm động ấy đã được ngòi bút tài hoa của T. Dołęga-Mostowicz xây dựng thành một tác phẩm giàu tính nhân đạo và trữ tình. Tác phẩm góp một tiếng nói nghệ thuật nêu cao những chân lý nhân văn, khẳng định địa vị thiêng liêng của tình yêu thương giữa con người với con người. Tình yêu ấy, quý giá hơn tất cả, nhưng nó không bao giờ đến từ một phía, nó không thể được xây dựng nên bởi tiền tài hay địa vị. Hạnh phúc chỉ có thể có được khi con người đã phải trả giá bằng những đau khổ và đấu tranh, bằng những dằn vặt, những vật lộn với cuộc đời và chính bản thân mình.


Song tác phẩm vẫn lấp lánh những giá trị hiện thực phê phán, những giá trị này dường như lại được tôn thêm lên cái không khí trữ tình kia, mặc dù chúng nằm ở bình diện thứ hai, kín đáo hơn. Số phận con người long đong, mong manh làm sao. Chỉ riêng cái nghịch cảnh trớ trêu của bản án sơ thẩm: kẻ cứu sống hai mạng người thì bị xử án ba năm tù, còn kẻ gây tai họa cho họ thì chỉ chịu hai năm (!) đã tố cáo bản chất đầy bất công phi lý của hệ thống luật pháp. Và cái “chứng quên” của giáo sư Wilczur kia phải chăng cũng là một hình ảnh đầy tượng trưng? Tác phẩm bằng đôi nét chấm phá nhưng cũng đã vẽ nên được đời sống khốn khổ, lạc hậu, thấp kém của những người nông dân nghèo Ba Lan thời ấy. Cái nhìn của tác giả đầy đồng cảm, xót xa, trân trọng những con người ấy!


Giáo sư Wilczur (Vintrur) và Thầy lang là hai tiểu thuyết tâm lý xã hội đặc sắc của nhà văn Ba Lan Tadeusz Dołęga-Mostowicz (Tađêus Đôuenga-Môxtôvich). Hai tiểu thuyết tập trung khắc họa thân phận người trí thức Ba Lan sống trong thời đại đầy biến động. Giáo sư tiến sĩ y khoa Raphał Wilczur là một nhà khoa học lớn, một nhà phẫu thuật tài năng của Ba Lan thời ấy. Nếu Thầy lang là hành trình vô thức của vị giáo sư đại học để trở thành một thầy lang quê mùa, song với kết thúc có hậu, thì Giáo sư Wilczur cũng mô tả chính hành trình ấy, nhưng với ý thức tự nguyện và kết cục cay đắng hơn.


Đang ở đỉnh cao của danh vọng thì vợ giáo sư Wilczur đã bỏ nhà ra đi với người yêu sau tám năm chung sống, mang theo đứa con gái nhỏ duy nhất mà ông vô cùng yêu thương. Quá đau khổ, ông lang thang, uống rượu say, bị bọn vô lại cướp sạch quần áo, tiền bạc, đánh vào đầu khiến ông bị mất trí nhớ. Wilczur bắt đầu cuộc sống đầu đường xó chợ của một kẻ vô gia cư, không chốn dung thân, không người thân thuộc, thậm chí không biết mình là ai, không biết mình sống để làm gì, sống cho ai.


Cuộc đời Wilczur - Kosiba có lẽ sẽ trôi qua như thế, nếu ông không gặp cô gái Marysia đáng thương, mồ côi cả cha lẫn mẹ. Tình thương yêu giữa hai tâm hồn cô đơn ấy đã rọi một ánh sáng mới vào cuộc đời ông, khiến ông lại biết mình sống vì ai, vì cái gì. Nhưng rồi Marysia và người yêu cô là chàng trai Leszek bị tai nạn. Để cứu sống cô gái, ông đã phải đánh cắp vali đựng dụng cụ mổ của bác sĩ Pawlicki, kẻ vốn sẵn hiềm khích với ông. Ra tòa, ông bị kết án ba năm tù. Nhưng đến phiên tòa phúc thẩm, ông được xử trắng án.


Cũng chính tại phiên tòa này, giáo sư Dobraniecki - một học trò và cộng sự của ông ngày trước - đã nhận ra rằng người thầy lang quê mùa có tài năng khó hiểu nọ chính là giáo sư Wilczur đã bị mất tích mười ba năm trước. Sau phiên tòa, trước nấm mồ của bà mẹ cô gái Marysia, ông hiểu ra rằng cô chính là đứa con gái vô vàn yêu quí của mình. Nỗi xúc động quá lớn, cú sốc ấy giúp ông khôi phục trí nhớ.


Trở về với công việc của một giáo sư tại bệnh viện và viện nghiên cứu của mình ở Warszawa, ông đâu ngờ cuộc đời lại đưa mình vào những thăng trầm mới. Cũng chính giáo sư Dobraniecki, dưới sức ép của vợ, bằng một thủ đoạn nghiệp vụ tinh vi và vô lương, đã khiến giáo sư Wilczur sa vào một tai nạn nghề nghiệp, bị tổn thất uy tín, mất hết tài sản và không còn niềm vui sống. Ông đã quyết định tự nguyện trở về với cái cối xay bột nơi thôn dã, lập bệnh xá để chữa bệnh từ thiện cho những người nông dân nghèo khổ.


Đi cùng ông trong “hành trình ngược” về nguồn cội ấy là cô bác sĩ Łucja Kanska - người đã vô tình gây cho ông tai họa nghề nghiệp nói trên. Ngưỡng mộ đạo đức và tâm hồn ông, cô đã nguyện với lòng mình sẽ luôn sát cánh bên ông, sẽ yêu thương ông và bù đắp những nỗi đau mà cuộc đời đã trút lên con người thánh thiện ấy. Bệnh xá ra đời không chỉ bằng tấm lòng nhân hậu của hai người, mà bằng công sức của cộng đồng cư dân quanh vùng, trở thành điểm sáng đầy nhân văn của làng quê còn nhiều tăm tối.


Những tưởng số phận của vị “thầy lang hiện đại” ấy sẽ yên bình và êm ả trôi đi trong những tháng năm còn lại với tình yêu của cô bác sĩ trẻ trung, xinh đẹp và nhân hậu, nhưng cuộc đời vẫn luôn tuân theo những quy luật nhân sinh và nhân quả... Giáo sư Wilczur không những đã vượt qua tật bệnh của bản thân, ra sức cứu mạng sống của kẻ đã gây tai họa cho mình, mà còn tạo mọi điều kiện và cơ hội để Łucja đến được với tình yêu và hạnh phúc đích thực của cuộc đời, dù ông có phải chịu kiếp cô đơn mãi mãi.


*


 Đường công danh của Nikodem Dyzma quả là hiển hách, đáng ngạc nhiên, bởi đó gần như là cuộc hội tụ của biết bao “ngẫu nhiên may mắn”, bao “số đỏ”, đến mức khiến người đời phải chóng mặt, ngỡ ngàng. Ở chương đầu sách, y chỉ là một anh công chức cấp thấp ở tỉnh lẻ bị mất việc, đang lang thang tìm việc làm, túi rỗng không và chiếc dạ dày lép kẹp. Ấy thế mà tới những trang cuối sách y đã là một triệu phú cỡ lớn, chủ một cơ ngơi nông- công- nghiệp khổng lồ, chính khách số một của đất nước, người được chính Tổng thống mời ra đảm nhiệm sứ mạng thành lập nội các mới, nhằm chèo lái con thuyền quốc gia qua cơn bão chao đảo!


Xuyên suốt tác phẩm là hai quá trình có hướng ngược nhau, diễn ra đồng thời, ở một con người - đó là nhân vật chính: Nikodem Dyzma. Y leo nhanh đến mức đáng kinh ngạc trên những bậc thang danh vọng, nhưng lại tụt dài về phương diện nhân cách, từ cái trong sạch của một con người bình thường xuống vũng bùn nhơ nhớp của những tội lỗi ghê gớm nhất.


Ban đầu, dù thất nghiệp, đói rách, Dyzma vẫn còn lương tâm trong sạch, thấy cái phong bì của cậu bé bưu điện đánh rơi y còn gọi với theo để định trả, nhặt được giấy mời đi dự tiệc (gửi một người khác), y mang đến tận nhà (trong bụng chỉ thầm mong được trả công vài đồng bạc), y biết đỏ mặt ngượng khi bịa ra một câu chuyện phạm tội vô hại kể cho một cô gái làm tiền.


Thế rồi, chỉ qua một bữa tiệc mà y đến dự nhằm thỏa mãn cái đói, y đã nhảy một bước lọt vào xã hội thượng lưu. Và y không hề ngần ngại khi lừa cơ cướp cả cơ nghiệp lẫn cô vợ xinh đẹp của ông chủ đã hết lòng đối xử tử tế với y, y không run tay khi thuê bọn lưu manh, giết một ân nhân cũ để bịt đầu mối, không hề áy náy khi ra lệnh cho bọn cảnh sát đánh đập dã man một cô gái vô tội đã nặng lòng yêu y. Sở dĩ y tha hóa nhanh như thế về phương diện đạo đức chỉ bởi y đã tiếp xúc với những “tinh hoa” của giới cầm quyền. Xét về phương diện ấy, Dyzma cũng là một nạn nhân của xã hội tư bản - một nạn nhân “tự nguyện”. Sự trèo nhanh leo cao của y không phải là thành quả đạt được bởi những thủ thuật không mấy tinh khôn mà y đã học được ở các “tinh hoa” thượng lưu xã hội kia (như kiệm lời để giấu dốt, nhắc lại ý của người khác nhận rằng là của mình…) mà có nguyên nhân sâu xa hơn: đó là sự mâu thuẫn giữa các giới cầm quyền, các cá nhân có thế lực trong guồng máy xã hội, đó là sự dốt nát trong đánh giá của các giới đó đối với Dyzma.


Các vị đại diện cao cấp nhất của xã hội đã không có khả năng phân biệt thật giả, đã ngộ nhận về khả năng - thậm chí tài năng - của Dyzma, đã đưa y lên những địa vị cao sang, đã để y đánh lừa một cách “hào hiệp” nhất. Đúng như lời chàng công tử bá tước Ponimirski gào lên kết thúc quyển sách:


“Không phải hắn dắt mũi các người đâu! Chính các người đã bê cái đồ súc vật ấy đặt lên thành tượng đài! Chính các người! Hỡi lũ người đánh mất hết những tiêu chuẩn lý trí!”.


Mỉa mai hơn, Dyzma được leo lên cao đến thế còn chính vì y đã làm thỏa mãn được dục vọng thấp hèn của các vị “phái đẹp” quý tộc trong những cuộc “hành lễ bí mật” mà thực chất là những cuộc hành lạc tập thể, những cuộc loạn hôn không tiền khoáng hậu. Trong các “tài năng” đã đưa Dyzma lên những địa vị cao sang, có “tài” đĩ đực!


Trong số những nạn nhân khác của cái xã hội nhầy nhụa đó, người đọc còn nhận thấy: Người lao động thương thiện, những người dưới đáy thường giữ được nhân cách! Cô gái Mańka dù phải bán thân nuôi miệng, nhưng vẫn ý thức được sự ghê tởm của cái “nghề” mà mình bắt buộc phải làm, vẫn giữ một tình yêu chân thật đối với Dyzma, và vẫn biết căm phẫn tột độ khi tình yêu ấy bị bội bạc. Dẫu sao cuối cùng Mańka cũng nhận ra bộ mặt thật của Dyzma. Đáng thương cho một phụ nữ xinh đẹp, yếu đuối mà lại muốn hưởng lạc như bá tước tiểu thư Nina, cho đến cuối cùng vẫn không hiểu rằng mình bị đánh lừa, vẫn không hiểu được bản chất người chồng “lý tưởng” và “lỗi lạc” của mình!


Ý nghĩa tố cáo và phê phán của tác phẩm còn tập trung cao ở hình tượng chàng bá tước “điên” Ponimirski. Chàng là nạn nhân của một trò lừa đảo đã khiến cha chàng khuynh gia bại sản, rồi lại trở thành nạn nhân của một vụ lừa đảo mới, còn trắng trợn hơn, đê mạt hơn. Không phải ngẫu nhiên tiếng nói gần với sự thật nhất, tiếng cười châm biếm sâu cay nhất đối với những nghịch cảnh xã hội lại được tác giả đặt vào miệng một người “điên”, một người “tâm thần”, vốn có một địa vị cao sang, một gia sản giàu có, một học thức uyên bác, nhưng rốt cuộc vẫn bị vứt ra một xó vườn, hay cùng lắm - làm đày tớ dạy tiếng Anh cho “ông chủ”.


Chất bi và hài được kết hợp hài hòa, trong đó cái hài được tập trung cao, tạo nên tiếng cười mỉa mai, sâu cay đối với cả bộ máy nhà nước tư sản, từ cấp thấp lên cấp cao nhất. Nhà văn đã tái hiện bộ mặt xã hội với những biểu hiện sinh động lạ thường qua bút pháp tưởng như dửng dưng, khách quan mà sắc sảo, tinh tế. Người đọc hâm mộ tác phẩm của T. Dołęga - Mostowicz vì nhà văn đã dựng lại hết sức sống động, từ ngôn ngữ, thói quen, phong tục, tập quán đến cảnh sinh hoạt và bầu không khí của xã hội thượng lưu quý tộc những năm 20-30 thế kỷ XX. Tác phẩm sử dụng nhiều yếu tố hư cấu nhưng rất thực, và tả được rất sắc cái thực của xã hội, bởi lẽ nhà văn đã chọn những không gian thích hợp để những yếu tố hư cấu kia hiện ra trong những dáng vẻ thực của đời.


Bằng những giá trị nghệ thuật lớn lao, tiểu thuyết của T. Dołęga - Mostowicz đã phản ứng mạnh mẽ chống lại một xã hội lố lăng; bênh vực quyền tồn tại và phát triển của những con người lương thiện, trung thực. Chính vì vậy, ngay sau khi ra đời, Đường công danh của Nikodem Dyzma liền được xem là một hiện tượng văn học đặc sắc ở Ba Lan. Tác phẩm được tái bản nhiều lần và cũng được đưa lên màn ảnh ở Ba Lan, được dịch ra nhiều thứ tiếng.


*


Đọc Đường công danh của Nikodem Dyzma và tìm hiểu thân thế sự nghiệp của T. Dołęga - Mostowicz, người đọc Việt Nam không khỏi nghĩ tới Số đỏ của Vũ Trọng Phụng (1912-1939) và chợt ngỡ ngàng thú vị về những nét tương đồng giữa hai tác giả cũng như hai tác phẩm. Hai tác giả sinh ra chỉ chênh nhau hơn một giáp, sống gần như đồng thời với nhau, lại mất cùng một năm, ở hai phương trời xa cách nhau hàng chục nghìn cây số, song đều tài hoa sắc sảo, đều phải từ giã cuộc đời giữa tuổi sáng tạo rực rỡ, để lại cho đời những tác phẩm sống mãi. Mối duyên văn chương cũng đưa dắt, cho tôi cơ may được quen biết TS. Nguyễn Văn Bao - Hiệu trưởng Đại học Tây Bắc, trong luận án tiến sĩ nghiên cứu văn học, so sánh hai tác giả và tác phẩm này với nhau. Quả cũng là duyên tiền định!


Đương thời, Mostowicz kiếm được những khoản nhuận bút khổng lồ, khoảng 15.000 zloty (tương đương 3.000 USD), mỗi tháng. Nhưng là một nhà văn giàu lòng nhân ái, tha thiết với nhân dân, đất nước, ông thường xuyên hoạt động từ thiện. Ông đã giúp rất nhiều người, tài trợ nhiều học bổng… Bắt đầu từ một căn hộ tồi tàn ông kết thúc như một triệu phú, triệu phú vật chất và triệu phú tình thương! Hình ảnh của ông sống mãi trong lòng người đọc!


NHD.


www.trieuxuan.info

Trở lại - Đầu trang