tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20551335
Sách mới
Tiểu thuyết “Trên sa mạc và trong rừng thẳm”


 




Nhà xuất bản Hội Nhà văn - Liên kết xuất bản cùng Nhà văn Triệu Xuân, vừa ấn hành tác phẩm: “Trên sa mạc và trong rừng thẳm”. Tác giả: Henryk Sienkievich, Nobel Văn học 1905. Trước đó, hồi tháng 8-2016, NXB Hội Nhà văn - Liên kết xuất bản cùng Nhà văn Triệu Xuân đã phát hành tiểu thuyết “Quo Vadis”. Đây là hai tác phẩm được xuất bản nhân kỷ niệm 100 năm, ngày Henryk Sienkievich- Nobel văn học 1905 - từ trần (1916-2016). Chăm sóc bản thảo, in ấn: Nhà văn Triệu Xuân. Chịu trách nhiệm xuất bản Phạm Trung Đỉnh. Chịu trách nhiệm bản thảo: Trần Quang Quý. Biên tập Nguyễn Minh Phước & Nguyễn Văn Sơn. Nếu không có gì thay đổi đột xuất thì tuần đầu tháng 11-2016, tại Hà Nội và sau ngày 16-11 tại TP Hồ Chí Minh, Hội Nhà văn Việt Nam, Đại sứ quán Ba Lan, Dịch giả-PGS TS Nguyễn Hữu Dũng, cùng NXN Hội Nhà văn tổ chức sự kiện ra mắt hai tác phẩm nói trên, kỷ niệm 100 năm, ngày Henryk Sienkievich- Nobel văn học 1905 - từ trần (1916-2016).


 


Henryk Sienkievich sinh ngày 7/5/1846 tại Wola Okszeiska vùng Podlesie, Ba Lan, trong một gia đình quý tộc cổ đã sa sút. Bước vào nghề báo từ năm 1869 bằng những tiểu luận và phê bình sân khấu, Sienkiewicz bắt đầu được chú ý đến như một cây bút có triển vọng với truyện Na marne (Phí hoài, 1872). Trong những truyện ngắn tiếp theo, như Humoreski z teki Woroszyłły (Chuyện khôi hài từ những ghi chép của Woroszyłła, 1872), Stary Sługa (Người đầy tớ già, 1875), Hania (1876) và Selim Mirza (1877), ông đã mô tả sắc nét sự tàn tạ của lối sống phong kiến gia trưởng.


 


Thời kỳ 1876 -1882, ông đi rất nhiều nơi ở châu Âu, châu Mỹ và cho đăng Listy z podróży (Những bức thư từ các chuyến đi, 1876-1878) cùng hàng loạt truyện ngắn và truyện vừa rất xuất sắc, trong đó khắc họa nổi bật thân phận của người nông dân. Những tác phẩm xuất sắc nhất trong thời kỳ này là Szkice węglem (Ký họa bằng than, 1877), Na jedną kartę (Trên một trang, 1879), Komedia z pomyłek (Hài kịch từ những nhầm lẫn, 1878), Przez stepy (Băng qua thảo nguyên, 1879), W krainie złota (Ở xứ sở của vàng, 1880), Za chlebem (Kiếm miếng bánh mì, 1880), Latarnik (Người gác đèn biển, 1881) Wspomnienia z Maripozy (Hồi ức từ Maripoza, 1882) và Sachem (1883).


 


Năm 1890-1892 đánh dấu bước ngoặt trong sáng tác của H. Sienkiewicz, từ lĩnh vực truyện ngắn-truyện vừa, sang các tiểu thuyết lịch sử. Ông cho ra đời bộ ba tiểu thuyết lịch sử viết về những cuộc chiến tranh ở Ba Lan hồi thế kỷ XVII: Ogniem i Mieczem (Bằng lửa và gươm, 1883-1894), Potop (Trận hồng thủy, 1884-1886), Pan Wołodyjowski (Ngài Volodyjovxki, 1887-1888). Mang đậm chủ nghĩa yêu nước, tiểu thuyết bộ ba này là một đỉnh cao chói lọi và rất được yêu mến trong sự nghiệp sáng tác của Sienkiewicz.


 


Tiếp đó, Sienkiewicz hoàn thành hai tiểu thuyết tâm lý xã hội: Bez dogmatu (Phi giáo lý, 1889 -1890) và Rodzina Połanieckich (Gia đình Polaniexki, 1895), phê phán giới quý tộc đang suy đồi.


 


Đề tài tiểu thuyết lịch sử Quo vadis (1895-1896) là cuộc khủng bố các tín đồ Kito thời hoàng đế Nero ở Cổ La Mã. Những chương đầu tiên xuất hiện trên nhiều tờ báo Ba Lan đã nhanh chóng được in thành sách, và ngay lập tức trở thành tác phẩm được hâm mộ đặc biệt trên toàn châu Âu, được dịch ngay ra nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Nhật và Arập. Tác phẩm cũng được chuyển thể thành opera và là tiểu thuyết đầu tiên được dựng thành phim ngay từ năm 1913 và nhiều lần về sau.


 


Tiểu thuyết lịch sử Krzyżacy (Hiệp sĩ Thánh chiến, 1897-1900), miêu tả cuộc chiến tranh giữ nước hồi thế kỷ XV với các trận đại thắng Grunvald lẫy lừng, chống lại các hiệp sĩ thuộc Dòng tu Thánh Chiến, mà thực chất là chống lại đế quốc Phổ, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Ba Lan, là một kiệt tác xuất sắc trong nền văn học Ba Lan.


 


Năm 1905 ông là nhà văn Ba Lan đầu tiên được nhận giải Nobel Văn học. Trong đáp từ khi nhận giải thưởng Nobel cao quý, ông nhấn mạnh vinh dự này đặc biệt giá trị cho một người con của dân tộc Ba Lan. Ông tuyên bố: "Người ta nói Ba Lan đã chết, nhưng đây là bằng chứng rằng Ba Lan vẫn chiến thắng!"


 


Cuối đời, sau khoảng 10 năm bệnh tật liên miên, H. Sienkiewicz cho ra đời cuốn tiểu thuyết du ký rất xuất sắc dành cho bạn đọc trẻ tuổi W pustyni i w puszczy (Trên sa mạc và trong rừng thẳm, 1910-1911).


 


Ông cũng viết tiểu thuyết Na polu chwały (Trên mảnh đất vinh quang), mà ông dự định là tập đầu của một bộ ba mới, và tiểu thuyết lịch sử Những đội quân lê dương (1913-1914), nhưng cái chết không cho phép ông hoàn thành.


 


Henryk Sienkiewicz mất tại Vevey (Thụy Sĩ) ngày 15/11/1916 thọ 70 tuổi. Năm 1924, khi Ba Lan được độc lập, tro di hài của ông được đưa về Ba Lan và được an táng tại nhà thờ Thánh Jan ở Warszawa, bên cạnh các danh nhân dân tộc khác.


 


Ở Ba Lan, các tác phẩm của Sienkiêvich là sách gối đầu giường của nhiều thế hệ. Trong những năm bọn phát xít Hitle chiếm đóng Ba Lan, chúng ra lệnh cấm đọc, cấm tàng trữ sách của Sienkiêvich; chúng tịch thu và đốt các tác phẩm của văn hào, nhưng nhân dân Ba Lan vẫn bí mật truyền tay nhau đọc, dù bao người vì thế phải bị treo cổ hoặc đưa vào trại tập trung.


 


Trên văn đàn thế giới, các truyện ngắn, truyện vừa cùng nhiều tiểu thuyết lịch sử rất xuất sắc của ông như: Bằng lửa và gươm, Trận hồng thủy, Ngài Volodyjowski, Quo vadis, Hiệp sĩ Thánh chiến, Trên sa mạc và trong rừng thẳm... được xếp vào hàng các tác phẩm kinh điển, được dịch ra trên bốn mươi thứ tiếng, nhiều lần được dựng kịch, đưa lên màn bạc và rất được ưa chuộng.


 


Trong di sản văn học đồ sộ của Henryk Sienkiêvich, tiểu thuyết Trên sa mạc và trong rừng thẳm chiếm một vị trí đặc biệt: Đó là tác phẩm duy nhất mà văn hào viết tặng cho các bạn đọc trẻ.


 


Ngay sau khi xuất bản năm 1911, tác phẩm đã được hoan nghênh nhiệt liệt, được tái bản ngay và được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài. Và trong suốt 105 năm qua, có biết bao thanh thiếu niên đã từng ngưỡng mộ và học tập Staś, từng yêu mến lòng nhân hậu trẻ thơ trong trắng mà mạnh mẽ của Nel, từng vui cười với sự láu lỉnh của Kali. Tác phẩm đã khêu gợi khát vọng sống cao đẹp, khát vọng đi tới những chân trời xa, khát vọng thực hiện những kì tích phi thường, vượt mọi hiểm nguy, chiến thắng mọi bất công tàn ác.


 


Bối cảnh của tác phẩm diễn ra ở vùng hoang mạc Đông Phi, chủ yếu trên lãnh thổ Sudan, diễn biến của chuyến phiêu lưu có liên quan đến phong trào khởi nghĩa Hồi giáo cuối thế kỷ XIX. Tuy nhiên, cách nhìn nhận của nhà văn về phong trào khởi nghĩa của các tín đồ Hồi giáo Sudan dưới sự lãnh đạo của Mahdi chưa hoàn toàn chính xác. Để hiểu rõ bối cảnh diễn ra câu chuyện này, ta hãy dành đôi chút thời gian để đi ngược dòng lịch sử vùng Đông Phi, nhất là lịch sử Sudan.


 


Sudan là vùng đất có lịch sử văn hóa lâu đời. Khoảng 3000-4000 năm trước Công nguyên đã có người sinh sống trên lãnh thổ nước Cộng hòa Sudan ngày nay. Vùng đất này trước kia được gọi là đất nước Kus, từ thế kỉ thứ X được gọi là Nubia. Dân ở đây là những người thuộc các bộ lạc Ai Cập và Kus cổ.


 


Khoảng 2000 năm trước Công nguyên, họ dần dần hòa đồng với các bộ lạc da đen phía nam, và ngay từ hồi ấy đã tồn tại hình thức nhà nước sơ khai ở vùng này. Thế kỉ thứ VII trước Công nguyên xuất hiện một vương quốc với thủ đô là Hapate, từ giữa thế kỉ thứ VI trước Công nguyên dời đô đến Maroe. Vương quốc này trải dài trên vùng đất từ thác thứ nhất đến chỗ hội lưu của hai con sông Nin Xanh và Nin Trắng. Người Maroid có văn tự viết theo hệ chữ cái đầu tiên ở Phi châu.


 


Về tôn giáo, đạo Thiên Chúa bắt đầu xuất hiện ở Sudan vào thế kỉ thứ VI sau Công nguyên. Từ thế kỉ thứ VII, người Thổ Nhĩ Kì bắt đầu thâm nhập mạnh vào Sudan, truyền bá đạo Hồi và văn hóa Ả Rập, đồng thời thiết lập quan hệ phong kiến tập quyền. Cuối thế kỉ thứ XIV đến đầu thế kỉ thứ XVI, ở vùng phía bắc và phía tây Sudan hình thành các vương quốc phong kiến Hồi giáo, quan trọng nhất là Vương quốc Darfur, còn vùng phía nam vẫn là các bộ lạc sinh sống theo quan hệ nguyên thủy.


 


Là một vùng đất giàu có, cung cấp cho thị trường Trung Cận Đông và thế giới nhiều hàng hóa quý như ngà voi, lông thú, da súc vật, tơ lụa, và nô lệ, Sudan trở thành miếng mồi giành đi giật lại của nhiều thế lực nước ngoài. Năm 1820-1822, Ai Cập xâm chiếm phần lớn lãnh thổ Sudan, chia Sudan thành nhiều tỉnh do các quan lại Ai Cập - Thổ Nhĩ Kì cầm đầu. Cuối những năm 60 đầu những năm 70 của thế kỷ XIX, ảnh hưởng của thực dân Anh ở Sudan tăng dần lên. Năm 1877, Anh buộc Ai Cập phải trao quyền thống trị Sudan cho mình, cử tướng Gordon làm toàn quyền. Quan lại đứng đầu các tỉnh cũng là người Âu.


 


Chính sách bóc lột hà khắc và chính sách áp bức dân tộc của thực dân Anh và Thổ - Ai Cập đã làm bùng lên phong trào kháng chiến dân tộc rộng lớn của các tầng lớp nhân dân Sudan vào những năm 80-90 của thế kỉ XIX - đó là cuộc nổi dậy của các tín đồ Mahdi (1881-1899). Về hình thức, đây là một cuộc khởi nghĩa tôn giáo, nhưng thực chất đó là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.


 


Cuộc nổi dậy nổ ra vào tháng 8/1881, dưới sự lãnh đạo của Mahdi, tên thật là Muhammad Ahmad bin Abd Allah (12/8/1844 – 22/6/1885). Nghĩa quân nhanh chóng chiếm được hàng loạt tỉnh trấn ở Kordofan. Tháng 2/1883, quân khởi nghĩa công phá thành phố El Obeid, thủ phủ hành chính của vùng. Tháng 11/1883, quân khởi nghĩa đánh tan đội quân 10.000 người của tướng Hicks. Tháng 1/1885 tấn công chiếm được Chartum, giết chết viên toàn quyền người Anh là tướng Gordon. Nhiều sĩ quan và binh lính người Ả Rập trong quân đội Anh - Ai Cập chạy sang hàng ngũ nghĩa quân. Một quốc gia phong kiến Hồi giáo được thành lập trên lãnh thổ Sudan ngày nay.


 


Sau khi Mahdi chết (1885) chính quyền vào tay Kali Abdallach Ibn al Said Muhamed (trong truyện gọi là Abdulahi). Ông này đã phát triển quốc gia về thương mại, phát triển nghề thủ công, mở trường học, thực hiện chế độ tôn giáo thống nhất. Tuy nhiên, những mâu thuẫn nội bộ và cuộc tranh giành quyền bính đã làm suy yếu quốc gia Hồi giáo Sudan. Trong khi đó, thực dân Anh ra sức bao vây bờ biển, kích động chính quyền Etiopia mở cuộc chiến tranh chống Sudan, sử dụng sức người sức của của Ai Cập, cộng với vũ khí hiện đại của phương tây chống quốc gia này.


 


Và đến năm 1896, cuộc chiến tranh của liên minh Anh - Ai Cập chống nghĩa quân Mahdi chính thức nổ ra. Ngày 2/9/1898, quân khởi nghĩa do chính Apdallach thống lĩnh bị đại bại tại Omdurman, chấm dứt sự tồn tại của quốc gia Hồi giáo Sudan Mahdi. Sudan thực sự trở thành thuộc địa của Anh. Tuy nhiên, phong trào chiến tranh du kích của quần chúng nhân dân vẫn còn tiếp tục cho đến cuối tháng 11/1899 mới kết thúc.


 


Và đó là thời kỳ mà tác giả chọn làm bối cảnh cho câu chuyện kỳ thú này.


 


Tôi có may mắn được dịch nhiều tác phẩm văn học của các nhà văn nổi tiếng Ba Lan, trong đó có các tiểu thuyết, truyện vừa và truyện ngắn của Henryk Sienkiewwicz, như Quo vadis, Trên sa mạc và trong rừng thẳm, Hania, Hiệp sĩ Thánh chiến,.... Càng đọc, càng dịch càng thấu cảm sự diệu kỳ của mối liên kết lòng người của văn chương. Nó là tiếng lòng vô hình mà bền chặt, có sức xuyên thấu thời gian và không gian, có thể khiến những vùng đất xa xôi, những thân phận con người tưởng không hề có gì chung với chúng với ta, bỗng trở nên xiết bao gần gụi. Ðối với riêng tôi, văn học của dân tộc Ba Lan anh em là những tiếng lòng như thế.


 


Tôi nghĩ rằng dịch văn học không chỉ là sự chuyển dịch ngữ nghĩa, là sự diễn dịch sang ngôn ngữ khác những điều tác giả đã viết sẵn. Hình như điều cốt lõi vẫn là chuyện tấm lòng, tình yêu, duyên nợ. Người dịch phải có duyên mới tìm được nguyên tác hợp với tâm hồn mình, giữa rừng văn học bao la không dễ phân thật giả, lại phải có duyên mới tìm được lối đến với tâm hồn người đọc giữa muôn nẻo cuộc đời, mới có thể trở thành sứ giả truyền đạt những uẩn ức của tâm hồn tác giả, làm cho những con chữ vốn đã cùn mòn có được cái hồn, khơi gợi, giao lưu và nối kết được với nỗi lòng người đọc.


 


Tranh thủ những giờ phút rảnh hiếm hoi, tôi đã miệt mài trong gần 40 năm, cố chuyển tải những giá trị tinh tuý của nền văn học Ba Lan bắt nguồn từ tình yêu và sự gắn bó có nguyên do tiền định với một đất nước xa xôi, một dân tộc can trường và nhiều lận đận, như dân tộc Việt Nam.


 


Tôi dịch Trên sa mạc và trong rừng thẳm song song với kiệt tác “Quo vadis” trong 4 năm (1981-1985). Hai tác phẩm được xuất bản lần đầu trong các năm 1985-1986 và được Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Từ bấy đến nay sách đã tái bản đến 24 lần. Món quà tuyệt diệu mà văn hào Henryk Sienkiewicz tặng cho đời trước lúc đi xa đã được bạn đọc trẻ (và không chỉ cho bạn đọc trẻ!) Việt Nam đón nhận một cách nhiệt thành trong 30 năm qua.


 


Và năm nay, nhân kỷ niệm 100 năm ngày văn hào Henryk Sienkiewicz qua đời (15/11/1916-2016), tôi đã chỉnh sửa lại thêm một lần nữa để giới thiệu với bạn đọc Việt Nam tác phẩm này.


 


Hy vọng là nỗ lực của một người yêu Ba Lan không vô ích, dẫu chỉ như một dòng suối nhỏ len lỏi giữa rừng già, dẫn bạn đọc tìm đến với những dòng sông lớn và cả đại dương - nền văn học với vẻ đẹp mê hồn của dân tộc Ba Lan anh em thân thương.


 


Hà Nội, ngày 16/8/2016.


 


Người dịch: Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Hữu Dũng.


 


 


 


 

Trở lại - Đầu trang